Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

thực trạng và thách thức của việt nam trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng và thách thức của việt nam trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế": http://123doc.vn/document/1051684-thuc-trang-va-thach-thuc-cua-viet-nam-trong-viec-chu-dong-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te.htm


vậy là một quá trình phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất,
kéo theo đó là sự gia tăng các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ở cấp độ
toàn cầu. Có ý kiến nhấn mạnh khía cạnh phát triển của lực lợng sản xuất,
xem toàn cầu hoá là giai đoạn cao của quá trình phát triển lực lợng sản xuất
thế giới. Toàn cầu hoá ngày nay về bản chất chính là sự tăng trởng của hoạt
động kinh tế nói chung đã vợt khỏi biên giới quốc gia. Nói cách khác toàn
cầu hoá mang nội dung chủ đạo là toàn cầu hoá kinh tế. Thực tế cha một
quốc gia nào thực sự tự do hoá nền kinh tế toàn cầu, bởi toàn cầu hoá là
hiện tợng cực kỳ phức tạp, đầy mâu thuẫn. Toàn cầu hoá là một trong
những biểu hiện, một bộ phận tổ thành của quá trình tự nhiên đi tới chủ
nghĩa cộng sản - cộng đồng toàn thế giới của những ngời lao động tự do và
phát triển toàn diện
(2)
.
Bản chất của toàn cầu hoá là hệ thống kinh tế thị trờng, không bị giới
hạn bởi các đờng biên giới, ranh giới dân tộc, tôn giáo Phải chăng toàn
cầu hoá chính là phơng cách, con đờng, một giai đoạn tất yếu phải qua để đi
lên CNXH. Điều này có liên quan mật thiết đối với Việt Nam mối quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau bởi : Toàn cầu hoá là sự gia tăng mạnh mẽ các mối quan
hệ gắn kết tác động phụ thuộc lẫn nhau, là quá trình mở rộng quy mô và c-
ờng độ hoạt động giữa các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên phạm vi
toàn cầu trong sự vận động phát triển. Quốc tế hoá, toàn cầu hoá là một quá
trình, vì vậy mà khác với các vấn đề toàn cầu. Sự tham gia vào quá trình
quốc tế hoá, toàn cầu hoá chính là thực hiện hội nhập quốc tế. Toàn cầu hoá
là một xu hớng bao gồm nhiều phơng diện : kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội. Quốc tế hoá, toàn cầu hoá đó phải là phản ánh quy mô các hoạt động
liên quốc gia, song toàn cầu hoá có thực sự theo một chiều hớng tốt ? có
đảm bảo một cuộc sống mới, tốt đẹp hơn cho cộng đồng thế giới ? bởi bản
chất của các hoạt động kinh tế này ra sao, chúng ta cha hiểu rõ ?
Toàn cầu hoá (về kinh tế) là tự do hoá kinh tế và hội nhập quốc tế : th-
ơng mại, dv, Vậy thì toàn cầu hoá kinh tế là gì ? Có ý kiến nêu toàn cầu
(2)
Tạp chí Kinh tế thế giới sô 2
hoá kinh tế là những mối quan hệ kinh tế vợt qua biên giới quốc gia, vơn tới
quy mô toàn thế giới, đạt trình độ và chất lợng mới. Các quốc gia dù muốn
hay không dần dần đều buộc phải hội nhập vào các tổ chức kinh tế khu vực
và toàn cầu, phải có chiến lợc và chính sách tích ứng với quá trình toàn cầu
hoá. Vấn đề đặt ra từ quan niệm này là tự do hoá kinh tế kiểu nào, trên cơ
sở nào ? Hội nhập và cam kết với ai, cam kết cái gì ? Phải chăng chúng ta
cứ chấp nhận, cam kết những điều kiện đang tồn tại, có bảo đảm hội nhập
mà không bị hoà tan, Có rất nhiều quan niệm về vấn đề này, nh OECD
cho rằng : Toàn cầu hoá kinh tế là sự vận động tự do của các yếu tố sản
xuất hay quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng : Toàn cầu hoá là sự gia tăng
không ngừng các luồng mậu dịch, vốn, kỹ thuật, Chúng ta có thể đúc kết
qua nhận định của một số chuyên gia kinh tế : Toàn cầu hoá kinh tế chính
là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vợt qua mọi biên giới
quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong
sự vận động phát triển hớng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất. Sự gia
tăng của xu thế này đợc thể hiện ở sự mở rộng mức độ và quy mô mậu dịch
thế giới, sự lu chuyển của các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu.
Sự thực toàn cầu hoá là hiện tợng phức tạp, chứa đựng rất nhiều mâu thuẫn
trong nó.
2. Chúng ta thử đi sâu phân tích cơ sở khách quan của xu thế toàn
cầu hoá.
Trớc hết đó là sự phát triển cao của lực lợng sản xuất : thời phong kiến
lực lợng sản xuất và giao thông kém phát triển cho nên hoạt động trao đổi,
sản xuất chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp. Mác và Ăngghen viết Đại công
nghiệp đã tạo ra thị trờng thế giới
Trong thời kỳ đầu quá trình quốc tế hoá, các hoạt động kinh tế giữa
các quốc gia mang nặng tính chất phụ thuộc một chiều. Các quóc gia phát
triển hơn thờng đàn áp các nớc kém (Anh, Mỹ, Pháp ) và giành cho
mìnhmột khu vực và thị trờng kinh tế riêng. Tuy vậy sự phát triển mạnh mẽ
của lực lợng sản xuất cùng với ý thức độc lập đã đa lại sự phát triển mới của
phân công lao động. Các quốc gia trớc kia vốn phụ thuộc, là thuộc địa của
các đế quốc, nay giành đợc độc lập đã tham gia vào quá trình phân công lao
động quốc tế. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai gắn liền với sự phát triển
của phong trào giải phóng dân tộc là hiện tợng khoa học phát triển mạnh
mẽ và ngày càng trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Nó đã đợc nhanh
chóng áp dụng vào sản xuất, thúc đẩy phân công lao động phát triển lên
một bớc mới. Dới sự tác động của khoa học công nghệ các ngành kinh tế
truyền thống dần những bớc cho các ngành đại diện cho tiến bộ khoa học
kỹ thuật : mạng máy tính quốc tế Internet, truyền hình cáp, khám phá vũ
trụ, tóm lại chính sự phát triển nh vũ bão của khoa học kỹ thuật đã làm
phá vỡ hàng rào ngăn cản địa giới, thúc đẩy quốc tế hoá kinh tế lên một thời
kỳ mới. Thứ hai là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trờng : quá trình
quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến trình phát triển
kinh tế thị trờng. Kinh tế thị trờng càng phát triển thì phân công lao động
càng sâu sắc. Sự phát triển của kinh tế thị trờng đã mở ra điều kiện cho sự
phát triển mạnh mẽ của sức sản xuất, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá. Lợi ích đem lại của kinh tế thị trờng
: tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất và đa lại cơ chế thống
nhất cho xử lý các mối quan hệ kinh tế, đó là cơ chế thị trờng. Mô hình Đức
đợc gọi là mô hình kinh tế thị trờng xã hội, của Mỹ là nền kinh tế thị trờng
phân tán. Nhà nớc thông qua các công cụ phát triển bảo đảm cạnh tranh thị
trờng. Nhiều quốc gia vốn trớc đây từ chối nền kinh tế thị trờng đã thực
hiện mở cửa cải cách. Có thể nói ngày nay nền kinh tế thế giới thống nhất ở
cơ chế vận hành : cơ chế thị trờng. Đây chính là cơ sở cho sự gia tăng của
xu thế toàn cầu hoá kinh tế. Sự phát triển của nền kinh tế thị trờng không
chỉ ở sự mở rộng quy mô về không gian, về sự xâm nhập ràng buộc lẫn
nhau giữa các thị trờng mà còn thể hiện ở sự phát triển của thị trờng tài
chính gắn liền với sự xuất hiện của một loạt công cụ mới trong thanh toán
giao dịch. Nhìn chung các quốc gia trên toàn thế giới ngày nay đều dựa trên
cơ chế thị trờng, sử dụng các phơng tiện và công cụ của kinh tế thị trờng
trong hoạt động kinh doanh, đa lại một không gian rộng lớn, không gian
toàn cầu cho các hoạt động sản xuất và lu chuyển các yếu tố của chính quá
trình sản xuất ấy.
Thứ ba là sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh thế giới
kết thúc chiến tranh lạnh, bớc vào thời kỳ hoà bình, hợp tác và phát triển.
Tình hình chạy đua vũ trang khốc liệt điển hình là các quốc gia với tiềm lực
kinh tế mạnh : Mỹ, Nga, Pháp, Đức,
Trong suốt mấy thập kỷ chạy đua vũ trang, nhất là vũ khí hạt nhân.
Các bên đều nhận thấy một cuộc chiến tranh hiện đại nổ ra sẽ không có ng-
ời chiến thắng. Nhìn chung các vấn đề toàn cầu đều có quan hệ nhân quả
với nhau cho nên phải có quan hệ tổng thể khi giải quyết và đòi hỏi phải có
sự nỗ lực của mọi quốc gia. Các vấn đề toàn cầu là liên quan mọi quốc gia,
tác động trên phạm vi thế giới. Trong bối cảnh chiến tranh lạnh thị trờng thế
giới bị chia cắt không cho phép các quốc gia thống nhất hành động, liên kết
sức mạnh. Sự kết thúc chiến tranh lạnh, sự phân chia thế giới thành hai cực
đối lập đã và đang chuyển sang trật tự theo hớng đa cực, thế giới vận động
trong xu thế hoà dịu hợp tác và phát triển. Đây cũng xem là cơ sở quan
trọng cho sự gia tăng mạnh mẽ xu thế quốc tế hoá lên một trình độ mới, đó
là toàn cầu hoá.
3. Xét vai trò của các chủ thể trong xu hớng toàn cầu hoá, ta thấy
có hai vai trò chính.
Thứ nhất : là sự bành trớng của các công ty xuyên quốc gia (TNC). Sự
phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia trong những thập niên
qua vừa phản ánh đặc điểm của quá trình toàn cầu hoá, vừa là nhân tố thúc
đẩy quá trình quốc tế hoá gia tăng mạnh mẽ lên một bớc mới toàn cầu hoá.
Quá trình phát triển mạnh mẽ của sản xuất trong CNTB tất yếu dẫn đến sự
tập trung sản xuất và dẫn đến độc quyền. Nếu vào cuối những năm 60 có
khoảng 7000 Công ty xuyên quốc gia, thì đến những năm 80 có khoảng 20
nghìn. Với một mạng lới rộng khắp đối với Việt Nam ngày 27/11/2001, Bộ
Chính trị đã ban hành nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế. Mục tiêu của
hội nhập là mở rộng thị trờng, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, để đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng XHCN. Quán triệt chủ
trơng đợc xác định tại Đại hội IX, hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của
toàn dân, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh,
đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý và kết hợp chặt chẽ quá trình họi nhập
kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh quốc phòng. Có nh vậy chính
phủ và toàn dân ta mới có điều kiện tiếp cận với hình thức độc quyền, đối
phó với sự bành trớng của nó. Việc gia tăng các hoạt động TNC ở các quốc
gia đang phát triển còn đóng góp quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân
lực, nâng cao trình độ quản lý và chuyển giao các công nghệ hiện đại. Đây
là những mặt rấ quan trọng để các quốc gia đang phát triển nâng cao trình
độ phát triển của mình từng bớc rút ngắn khoảng cách phát triển. Các TNC
đã dựa vào vốn, kỹ thuật, nguồn thông tin để thiết lập các chi nhánh khác
nhau ở các nơi có điều kiện thuận lợi nhất cho việc sản xuất gia công, lắp
ráp. Sự phát triển và xâm nhập ngày càngmạnh mẽ của các Công ty xuyên
quốc gia vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phàan xoá bỏ sự ngăn cách,
biệt lập trong phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Các quốc gia dân
tộc từng bớc tham gia, thích ứng với các chuẩn mực của nền kinh tế quốc tế,
đồng thời nó cũng đem lại nét mới từ những bản sắc riêng của các quốc gia
bổ sung vào nền kinh tế toàn cầu, làm gia tăng tính đa dạng của nó.
Thứ hai, là vai trò cua các định chế kinh tế toàn cầu và khu vực. Các
định chế kinh tế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc tế
hoá, toàn cầu hoá kinh tế. Trong các tổ chức kinh tế - thơng mại - tài chính
toàn cầu và khu vực có ảnh hởng lớn tới quá trình toàn cầu hoá và khu vực
hoá về kinh tế : WTO, IMF, WB, liên hợp quốc, các tổ chức khu vực : EU,
ASEAN
Ngoài những lý do chủ yếu đã nêu thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn
cầu hoá trong những thập kỷ gần đây, chúng ta có thể kể một số lý do
khác : sự phát triển về dân chủ, về văn hoá
4. Bây giờ ta xét các tác động của toàn cầu hoá đối với kinh tế -
chính trị.
Trên phơng diện kinh tế nó đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế
thế giới. Thực chất của những tác động đợc biểu hiện trên một số điểm :
Thứ nhất toàn cầu hoá kinh tế thúc đẩy rất nhanh, mạnh sự phát triển và xã
hội hoá lực lợng sản xuất, đa tốc độ tăng trởng của thế giới lên mức cao.
Toàn cầu hoá kinh tế góp phần làm chuyển biến cơ cấu kinh tế thế giới, đặc
biệt làm tăng mạnh tỷ trọng hàng chế tạo, dịch vụ. Thứ hai dới tác động của
toàn cầu hoá, các thị trờng thế giới từng bớc đợc thống nhất và ngày càng
phát triển. Với xu thế đó nó sẽ tạo nên một sự loại bỏ các rào cản và có sự
điều chỉnh trong sự vận hành. Khi thị trờng thế giới thống nhất và phát triển
thì các rào cản thơng mại sẽ từng bớc bị loại bỏ, một trong những thành
công của phơng diện này là sự ra đời của các hiệp định buôn bán thông th-
ờng (hiệp định thơng mại ký kết giữa Việt Nam - Mỹ là một điển hình trong
quan hệ buôn bán song phơng). Trong Hội nghị tổ chức thơng mại thế giới,
thơng mại, dịch vụ là một trong ba đề tài lớn. Trên phơng diện chính trị,
nguy cơ can thiệp nội bộ, trong đó can thiệp chính trị đợc thấy rất rõ (Mỹ
can thiệp vào Nam T là một ví dụ điển hình trong thập kỷ 90 vừa qua). Sự
can thiệp này đợc tổ chức rất quy củ theo những điều kiện ràng buộc, đặc
biệt của các nớc có tiềm lực kinh tế lớn (Mỹ, Pháp, ) và các tập đoàn
xuyên quốc gia. Về cơ bản có hai hình thức can thiệp chính trị thờng thấy
trong quá trình toàn cầu hoá : Thứ nhất, mợn chiêu bài duy trì chuẩn mực
và quy tắc quốc tế để can thiệp vào công việc nội chính và ngoaị giao của n-
ớc khác. Thứ hai, lấy lý do bảo vệ an ninh quốc tế và thực thi chủ nghĩa
nhân đạo để thực hiện can thiệp xuyên quốc gia đối với các nớc khác, bất
chấp cả việc có vi phạm chuẩn mực và nguyên tắc quốc tế hiện hành hay
không ?
Thực chất, can thiệp chính trị trong quá trình toàn cầu hoá là hành vi
phản ánh rõ nét đặc trng của lợi ích nớc lớn (tính cờng quốc, bá chủ). Mợn
danh nghĩa là ngời nắm vai trò chủ đạo trong tiến trình phát triển toàn cầu
hoá, các nớc lớn, tập đoàn kinh tế mạnh đã dựa vào u thế kinh tế, chính trị
va sức mạnh quân sự của mình để thực hiện lợi ích bản thân. Biểu hiện cụ
thể của toàn cầu hoá kinh tế đối với chính trị gồm nhiều mặt : cán cân sức
mạnh của các nớc lớn, các tập đoàn kinh tế mạnh sẽ quyết định cục diện
chính trị toàn cầu hoá. Bởi họ dựa vào sức mạnh của họ mà chi phối phần
lớn thị trờng thế giới, nắm vị trí chủ chốt trong sản xuất kinh doanh (phân
phối, giao lu, ). Hai đại diện lớn Mỹ và ph ơng Tây luôn hô hào toàn cầu
hoá, thông thoáng thị trờng thế giới song Mỹ và một số nớc khác lại lôi kéo,
đồng loã các nớc khác rong việc sử dụng các chính sách và vũ khí kinh tế
(cấm vận, ). Ví dụ, có 75 n ớc dân số chiếm 52% dân số thế giới chịu sự
cấm vận của Mỹ. Do đó nhiều nhà nghiên cứu về vũ khí kinh tế rút ra kết
luận Kinh tế là một công cụ bạo lực
Quá trình quốc tế hoá mà đỉnh cao là TCH kinh tế, vậy thì các đặc trng
cơ bản của nó là gì ?
Có 6 đặc trng cơ bản, đặc trng thứ nhất là giai đoạn phát triển cao của
quốc tế hoá kinh tế. Hiện nay ta thấy CNTB đã tạo ra sự phát triển sản xuất
mà cha nền văn minh nào trớc đó đạt đợc. Các cuộc chiến tranh giành giật
thị trờng không ngừng bùng nổ : Anh mạnh trong kinh tế hàng hải,
Vào thế kỷ XIX đế quốc Anh có sự phát triển mạnh, khống chế gần
nh toàn bộ thế giới. Vào nửa sau thế kỷ XIX, mậu dịch giữa các nớc trở
thành một hệ thống nhất. Từ nửa sau thế kỷ XIX cho đến nay quá trình
quốc tế hoá đã trải qua ba thời kỳ : Làn sóng đầu tiên diễn ra trong khoảng
50 năm trớc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong thời kỳ này, những sự
trao đổi quốc tế và liên lục địa đã phát triển nhanh hơn cả sự sản xuất trên
toàn thế giới, những dòng tài chính tăng lên nhanh hơn nhiều trên quy mô
thế giới so với sự tăng trởng của việc trao đổi và sự sản xuất trên toàn thế
giới. Làn sóng thứ hai của quốc tế hoá diễn ra vào những năm 50,60 và 70
của thế kỷ XX. ở giai đoạn này đã có một sự tăng trởng về trao đổi quốc tế
lớn hơn nhiều so với sản xuất trên thế giới, đã có sự bùng nổ thực sự những
dòng tài chính trên phạm vi toàn cầu, đã có sự bùng nổ hoạt động của các
Công ty quốc gia. Làn sóng thứ ba bắt đầu từ cuối những năm 80 trở đi và
lúc này thuật ngữ TCH đợc sử dụng phổ biến.
Đặc trng thứ hai là trong thời kỳ TCH kinh tế hiện nay hội nhập kinh
tế quốc tế gắn liền với tự do hoá các hoạt động kinh tế. Trớc đây giai đoạn
quốc tế hoá chỉ là sự bành trớng kinh tế ra khỏi khuôn khổ biên giới, không
gắn với việc tự do hoá. Ví nh Nhật Bản mãi tới nửa sau của thập kỷ 70 Nhật
mới hoàn thành quá trình tự do hoá thị trờng vốn và thị trờng gạo (vì sau
chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật mới khôi phcụ kinh tế và tiến tới bành tr-
ớng). Sự tách rời giữa tự do hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là đặc điểm của
giai đoạn quốc tế hoá trớc đây. Trong giai đoạn mới, TCH, việc hội nhập
quốc tế gắn liền với quá trình tự do hoá. Không hể hội nhập quốc tế mà
không có tự do hoá nền kinh tế dân tộc. Đây là điểm mới của quá trình
TCH. Quá trình TCH gắn với phân công lao động quốc tế làm cho quá trình
TCH gắn bó chặt chẽ với nhau. Điều này cho thấy không thể có hội nhập
mà lại không có tự do hoá và ngợc lại, hai mặt này của quá trình TCH thống
nhất gắn bó chặt chẽ với nhau. Thử tìm hiểu Hàn Quốc, Quốc gia này chính
thức bắt đầu hội nhập vào nền kinh tế quốc tế từ đầu thập kỷ 60. Vào cuối
thế kỷ XIX, Hàn Quốc đứng trớc yêu cầu phải cải cách, chấm dứt sự cô
lập Trong lĩnh vực thơng mại, đầu những năm 60 Chính phủ Hàn Quốc đã
có cải cách theo hớng hoà nhập vào nền thơng mại quốc tée. Nhìn chung
cho đến nay Hàn Quốc đã đạt tỷ lệ tự do hoá nhập khẩu 99,9% theo kế
hoạch đến 1/2001, Hàn Quốc sẽ tự do hoá 100%. Văn hoá và t cách t duy
phải đợc TCH. Ngời Hàn Quốc phải phát huy sự phong phú vốn có của nền
văn hoá truyền thống của mình. Ngoài ra chúng ta có thể tham khảo thêm
nền kinh tế Trung Quốc. Đối với các quốc gia này thay vì hội nhập một
cách triệt để và toàn diện với nền kinh tế thế giơí, họ chỉ hội nhập có mức
độ và theo những hớng nhất định có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế
trong suốt tiến trình công nghiệp hoá. Đó chính là kiểu hội nhập có tính
chiến lợc và trong quá trình này vai trò của nhà nớc đợc chú trọng với t cách
là ngời điều tiết nhịp độ hội nhập. Đặc trng thứ ba là TCH kinh tế là xu thế
khách quan nhng đang chịu tác động lớn từ Mỹ và một số nớc t bản phát
triển. Quá trình TCH gắn liền với sự phát triển của CNTB. Họ lợi dụng
những thành tựu của khoa học kỹ thuật tạo ra sự phát triển sản xuất
mạnh mẽ. Với mục tiêu lợi nhuận các tổ chức độc quyền cạnh tranh với
nhau gay gắt. Kết quả là hình thành những liên minh độc quyền không chỉ
trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi quốc tế (Sự hình thành các tập
đoàn độc quyền, bọn đầu sỏ tài chính). Với sự thắng lợi của cách mạng
tháng Mời Nga và tiếp sau đó là sự ra đời của các quốc gia XHCN đã thu
hẹp phạm vi thống trị và chi phối của CNTB. Vì lý do chính trị, nhiều nớc
TBCN đã sử dụng các biện pháp hạn chế quan hệ với các nớc XHCN (nh ở
Việt Nam ta trớc đây đã từng bị cấm vận bởi Mỹ gây thiệt hại về kinh tế rất
nhiều ). Cấu trúc mô hình XHCN bị sụp đổ (điển hình là sự tan rã của Liên
Bang Nga, các quốc gia còn lại đang đẩy mạnh quá trình đổi mới, cải cách
nhằm tìm ra phơng thức mới xây dựng CNXH. Các nớc TBCN tìm mọi cách
trong quá trình TCH để loại bỏ các nớc XHCN. Rõ ràng là xét về lôgic và
lịch sử toàn cầu hoà là một xu thế tất yếu, là kết quả của sự phát triển lực l-
ợng sản xuất, của kinh tế thị trờng song cũng cần thấy toàn cầu hoá kinh tế
hiện nay không phải không có tính chất chính trị do việc tham gia vào toàn
cầu hoá xuất phát từ lợi ích khác nhau, đôi khi đối nghịch nhau giữa các
chủ thể của chính quá trình toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá chính là Mỹ hoá, bởi u thế của Mỹ thể hiện trên một số
nét : Mỹ là quốc gia có nền kinh tế thị trờng và khoa học phát triển cao, sức
mạnh kinh tế và quân sự thì Mỹ đóng vai trò lãnh đạo trong khối các nớc t
bản (cụ thể là NATO), các TNC của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu hoá đã
khống chế một tỷ phần lớn mậu dịch - đầu t và tài chính quốc tế, trong
nhiều năm qua Mỹ vẫn dẫn đầu về các phát minh và triển khai chúng (đặc
biệt là công nghệ thông tin), cuối cùng đó là sự chi phối về an ninh, quân sự
đối với các cờng quốc. Tuy nhiên sự ảnh hởng và thống trị này chủ tạm thời
bởi nhân loại đang trên con đờng phát triển vũ bão của khoa học không chỉ
riêng ở Mỹ và đặc biệt là sự đoàn kết dân tộc ngày càng cao. Chính trong
TCH chủ nghĩa t bản (CNTB) sẽ phải biến đổi. Tham gia vào quá trình TCH
không chỉ có Mỹ và các nớc t bản phát triển mà còn có hàng loạt các quốc
gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Do vậy quá trình TCH không phải
đơn giản là sự phổ biến các giá trị, luật chơi của CNTB, mà là quá trình đấu
tranh thoả thuận, sàng lọc, trong đó các giá trị văn minh nhân đạo của
loài ngời sẽ đợc chấp nhận. Cũng không thể xem quá trình TCH hiện nay
thuần tuý mang tính chất TBCN. Sự đan xen các lợi ích trong quá trình
tham gia hội nhập của các chủ thể phản ánh tính phức tạp và đầy mâu thuẫn
của chính quá trình này. Đặc trng thứ t : TCH kinh tế là quá trình mang tính
hai mặt, nó cũng đặt ra những thách thức đối với các quốc gia. Toàn cầu
hoá là quá trình tất yếu. Việc hội nhập tham gia vào toàn cầu hoá kinh tế sẽ
tạo cho các bên tham gia những cơ hội, đồng thời nó cũng đặt ra những
thách thức. Có ý kiến cho rằng :
TCH là thanh gơm hai lỡi, có thể tạo ra những đòn bẩy làm tăng tốc
độ phát triển kinh tế, đa lại kỹ thuật mới làm nâng cao mức sống của ngời
dân hoặc có thể làm xói mòn văn hoá dân tộc. Có thể đa ra những tác động
của TCH nh sau : Thứ nhất sự phát triển của toàn cầu hoá kinh tế phá bỏ
những cản trở, hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia, mở ra những điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển quan hệ kinh tế quốc tế, từ đó có thể tận
dụng từ thị trờng bên ngoài.
Thứ hai : Toàn cầu hoá kinh tế mở ra cơ hội cho các quốc gia chậm
phát triển nhanh chóng hội nhập vào phân công lao động quốc tế, từ đó hình
thành một cơ cấu kinh tế xã hội hiệu quả, rút ngắn quá trình hiện đại

toàn cầu hóa và vấn đề hội nhập cửa việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "toàn cầu hóa và vấn đề hội nhập cửa việt nam": http://123doc.vn/document/1052030-toan-cau-hoa-va-van-de-hoi-nhap-cua-viet-nam.htm


- Gia tăng số lượng các chuẩn áp dụng toàn cầu; v.d luật bản quyền
Các rào cản đối với thương mại quốc tế đã giảm bớt tương đối kể từ Chiến tranh
thế giới lần thứ hai thông qua các hiệp ước như hiệp ước chung về mậu dịch (GATT).
Các đề xuất của GATT cũng như WTO bao gồm:
- Thúc đẩy thương mại tự do
+ Về hàng hoá: giảm hoặc bỏ hẳn các loại thếu quan ; xây dựng các khu mậu
dịch tư do với thuế quan thấp hoặc không có
+ về tư bản: giảm hoặc bỏ hẳn các hình thức kiểm soat tư sản
+ Giảm, bỏ hẳn hay điều hoà việc trợ cấp cho các doanh nghiệp địa phương
- Thắt chặt vấn đề sở hữu trí tuệ
+ Hoà hợp luật sở hữu trí tuệ giữa các quốc gia (nói chung là thắt chặt hơn)
+ Công nhận sở hữu trí tuệ ở quy mô giữa các nước
Có khá nhiều thảo luận mang tính học thuật nghiêm túc quanh việc xem toàn cầu
hoá là một hiện tượng có thật hay chỉ là một sự đồn đại. Mặc dù thuật ngữ này đã trở
nên phổ biến, nhiều học giả lý luận rằng các tính chất của hiện tượng này đã từng được
thấy ở một thời điểm trước đó trong lịch sử. Tuy vậy, nhiều người cho rằng những dấu
hiệu làm người ta tin là đang có tiến trình toàn cầu hoá, bao gồm việc gia tăng thương
mại quốc tế và vai trò ngày càng lớn của các tập đoàn gia quốc gia, thực sự không rõ
ràng như ta tưởng. Do vậy, nhiều học giả thích dùng thuật ngữ "quốc tế hoá" hơn là
"toàn cầu hoá". Để cho đơn giản, vai trò của nhà nước và tầm quan trọng của các quốc
gia lớn hơn nhiều trong khái niệm quốc tế hoá, trong khi toàn cầu hoá lại loại trừ vai
trò các nhà nước quốc gia theo bản chất thực sự của nó. Chính vì vậy, các học giả này
xem biên giới quốc gia, trong một nghĩa rộng, còn lâu mới mất đi, do vậy tiến trình
toàn cầu hoá căn bản này vẫn chưa thể xảy ra, và có lẽ sẽ không bao giờ xảy ra vì dựa
trên lịch sử thế giới người ta thấy rằng quốc tế hoá sẽ không bao giờ biến thành toàn
cầuhoá — chẳng hạn như trường hợp liên hiệp châu âu và NAFTA hiện tại.
5
1.4:Tác động toàn cầu hóa:
1.4.1:khía cạnh kinh tế:
Các tổ chức quốc gia sẽ mất dần quyền lực (xem ảnh hưởng về khía cạnh chính
trị phía dưới), quyền lực này sẽ chuyển về tay các tổ chức đa phương như WTO. Các
tổ chức này sẽ mở rộng việc tự do đối với các giao dịch thương mại, và thông qua các
hiệp ước đa phương hạ thấp hoặc nâng cao hàng rào thuế quan để điều chỉnh thương
mại quốc tế.
Toàn cầu hóa cũng làm cho hiện tượng "chảy máu chất xám" diễn ra nhiều và dễ
dàng hơn, kéo theo biến tướng là nạn "săn đầu người". Hai hiện tượng này đã góp phần
gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, giữa
từng khu vực riêng biệt trong một đất nước.
1.4.2:khía cạnh văn,hóa xã hội và ngôn ngữ:
Toàn cầu hoá sẽ tạo ra những hiệu quả trái ngược ở mức độ cá nhân hay dân tộc,
mà kết cục thế nào đến nay cũng vẫn chưa ngã ngũ. Toàn cầu hoá sẽ tạo ra:
• Một sự đa dạng cho các cá nhân do họ được tiếp xúc với các nền văn hóa và
văn minh khác nhau. Toàn cầu hoá giúp con người hiểu hơn về thế giới và những
thách thức ở quy mô toàn cầu qua sự bùng nổ các nguồn thông tin, việc phổ thông hoá
hoạt động du lịch, việc tiếp cận dễ dàng hơn với giáo dục và văn hoá;
• Một sự đồng nhất đối với các dân tộc qua ảnh hưởng của các dòng chảy thương
mại và văn hoá mạnh. Trên thực tế, thông tin tạo ra chính kiến và vì thế một vài tập
đoàn truyền thông lớn, chủ yếu là phương Tây có thể tạo ra (và làm giả) thông tin đưa
đến dân chúng. Sự độc quyền trong lĩnh vực văn hoá và thông tin này được xem như
một sự " Mỹ hoá " thế giới.
Mỗi người nhìn toàn cầu hoá theo một kiểu khác nhau. Có hai xu hướng chính:
• nỗ lực che dấu những khác về bản sắc, thay vì để lộ ra.
6
• cảm giác toàn cầu hoá sẽ mang lại sự tự do cá nhân, ngay cả khi điều đó đi
cùng với một sự đồng nhất hoá toàn cầu một cách tương đối.
Ở góc độ ngôn ngữ, chúng ta thấy khuynh hướng rõ ràng hướng tới đồng nhất
hoá việc dùng "tiếng Anh toàn cầu" ("globish", viết tắt của global English), một tiếng
anh nghèo nàn do những người không phải là ngừoi Anglo-SaXon dùng khi họ ở
nước ngoài. (Lưu ý là "tiếng Anh toàn cầu" không phải là tiếng Anh cơ bản như trong
phiên bản Wikipedia bằng tiếng anh đơn giản Sự phổ cập của tiếng Anh toàn cầu gắn
với việc mất đi quyền lực chính trị ở cấp độ thế giới: thay vì một chính sách văn hoá
quốc tế có sự phối hợp để có thể dẫn đến việc chọn một thứ tiếng có quy luật rõ ràng
và ngữ âm học rõ ràng, phần lớn các nước đều chọn dạy tiếng Anh cho giới trẻ dựa trên
lựa chọn của các nước khác! Do sự bắt chước một cách máy móc và sự trơ ì chính trị,
tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ của thế giới và được gọi là "tiếng Anh toàn cầu"
("globish") vì các yếu tố cơ bản của tiếng Anh Oxford đã bị biến dạng về phát âm chưa
được viết, v.v.). Đối với một số những người nói tiếng Anh, "tiếng Anh toàn cầu" là
kết quả của chủ đề quốc về ngôn ngử của nước họ. Vấn đề là liệu có thể dễ dàng cho
rằng các nỗ lực hướng đến việc dạy tiếng Anh thay vì giảng dạy các thứ tiếng khác sẽ
làm giảm chất lượng của các ngôn ngữ khác hay không (tiếng Pháp lai Anh- franglais).
1.4.3:Khía cạnh chính trị:
Toàn cầu hoá sẽ làm tăng lên nhiều lần các mối quan hệ giữa các công dân trên
thế giới và cũng như các cơ hội cho từng người. Tuy nhiên nó đặt ra vấn đề là phải tìm
ra một giải pháp thay thế hệ thống chính trị và hiến pháp hiện tại dựa trên khái niệm
nhà nước-quốc gia. Các thực thể này đã từng gây ra những tác động tiêu cực trong
suốt lịch sử do tính chất can thiệp mạnh bạo của nó. Ảnh hưởng của chúng giảm dần
do sự toàn cầu hoá, và không còn đủ tầm xử lý nhiều thách thức mang tính toàn cầu
ngày nay.
Từ đó nảy sinh thách thức cần thiết lập một toàn cầu hóa về dân chủ thể chế
nào đó. Kiểu toàn cầu hoá này dựa trên khái niệm "công dân thế giới", bằng cách kêu
7
gọi mọi người sống hành tinh này tham gia vào quá trình quyết định những việc liên
quan đến họ, mà không thông qua một bức màn "quốc tế".
Các tổ chức phi chính phủ muốn thay vào khoảng trống này, tuy nhiên họ thiếu
tính hợp pháp và thường thể hiện các tư tưởng đảng phái quá nhiều để có thể đại diện
tất cả công dân trên thế giới.
1.5:vấn đề hội nhập của Việt Nam:
1.5.1:Chống toàn cầu hóa:
Các chủ nghĩa tích cực vì lợi ích công dồng coi một số khía cạnh của toàn cầu
hoá là nguy hại. Phong trào này không có tên gọi thống nhất. "Chống toàn cầu hoá" là
thuật ngữ báo chí hay dùng nhất. Ngay chính các nhà hoạt động xã hội như Noamchom
sky đã cho rằng tên này không có ý nghĩa gì cả vì mục tiêu của phong trào là toàn cầu
hoá sự công bằng. Trên thực tế, có một tên phổ biến là "phong trào đòi công bằng toàn
cầu". Nhiều nhà hoạt động xã hội cũng tập hợp dưới khẩu hiệu "có thể có một thế giới
khác", từ đó ra đời những tên gọi như altermondisme hay altermondialisation, đến từ
tiếng Pháp.
Có rất nhiều kiểu "chống toàn cầu hoá" khác nhau. Nói chung, những phê phán
cho rằng kết quả của toàn cầu hoá hiện không phải là những gì đã được hình dung khi
bắt đầu quá trình tăng cường thương mại tự do, cũng như nhiều tổ chức tham gia trong
hệ thống toàn cầu hoá đã không xét đến lợi ích cho các nước nghèo cũng như như giơi
lao động.
Các lý luận kinh tế của các nhà kinh tế theo học thương mại công bằng thì cho
rằng thương mại tư do không giới hạn chỉ đem lại lợi ích cho những ai có tỷ lệ vốn lớn
(v.d. người giàu) mà không hề đếm xỉa đến người nghèo.
Nhiều nhà hoạt động xã hội "chống toàn cầu hoá" coi toàn cầu hoá là việc thúc
đẩy chương trình nghị sự của những người theo chủ nghĩa tập đoàn, một chương trình
này nhằm mục tiêu giới hạn các quyền tư do cái nhân dưới danh nghĩa lợi nhuận. Họ
8
cũng cho rằng sự tự chủ và sức mạnh ngày càng tăng của các tập đoàn dần dần hình
thành nên các chính sách chính trị của nhà nước quốc gia.
Một số nhóm "chống toàn cầu hoá" lý luận rằng toàn cầu hoá chỉ đơn thuần là
hình thứcđế quốc, là một trong những lý do căn bản dẫn đến chiến tranh Irac và là cơ
hội kiếm tiền của Mỹ hơn là các nước đang phát triển.
Một số khác cho rằng toàn cầu hoá áp đặt một hình thức kinh tế dựa trên tín dụng,
kết quả là dẫn tới các nợ nần và khủng hoảng nợ nần chồng chất không tránh khỏi.
Sự phản đối chủ yếu nhắm vào sự toàn cầu hoá không kiểm soát (như trong các
chủ nghĩa Tân tự do và tư bản tự do tuyệt đối) do các chính phủ hay các tổ chức gần
như chính phủ (như Quỷ tiền tệ quốc tếNgân hàng thế giới) chỉ đạo và không chịu
trách nhiệm đối với quần chúng mà họ lãnh đạo mà thay vào đó gần như chỉ đáp ứng
lợi ích của các tập đoàn. Rất nhiều các cuộc hội thảo giữa các vị bộ trưởng tài chính và
thương mại các nước trong trục toàn cầu hoá đã gặp phải những phản kháng rầm rộ,
đôi khi cũng có bạo lực từ các đối tượng chống đối "chủ nghĩa toàn cầu tập đoàn".
Phong trào này quy tụ nhiều thành phần, bao gồm các nhóm tín ngưỡng, các đảng
phái tự do dân tộc, các đảng phái cánh tả, các nhà hoạt động vì môi trường, các hiệp
hội nông dân, các nhóm chống phân biệt chủng tộc, các nhà chủ nghĩa xã hội tự do và
các thành phần khác. Đa số theo chủ nghĩa cải cách (hay ủng hộ chủ nghĩa tư bản
nhưng mang tính nhân bản hơn) và một thiểu số tương đối thuộc thành phần cách mạng
(ủng hộ một hệ thống nhân bản hơn chủ nghĩa tư bản). Nhiều người đã chê trách sự
thiếu thống nhất và định hướng của phong trào, tuy nhiên một số khác như Noam
Chomsky thì cho rằng sự thiếu tập trung hoá kiểu này trên thực tế có thể lại là một sức
mạnh.
Những người phản đối bằng phong trào công bằng toàn cầu đã tổ chức các cuộc
gặp mặt quốc tế lớn ở những thành phố nhỏ thay vì những trung tâm đô thị lớn như
trước đây.
9
1.5.2:Ủng hộ toàn cầu hóa:
Những người ủng toàn cầu hóa dân chủ có thể được gọi là những người ủng hộ
chủ nghĩa toàn cầu. Họ cho rằng giai đoạn đầu của toàn cầu hoá là hướng thị trường, và
sẽ được kết thúc bởi giai đoạn xây dựng các thiết chế chính trị toàn cầu đại diện cho ý
chí của toàn thể công dân thế giới. Sự khác biệt giữa họ với những người ủng hộ chủ
nghĩa toàn cầu khác là họ không định nghĩa trước bất kỳ hệ tư tưởng nào để định
hướng ý chí này, mà để cho các công dân được tự do chọn lựa thông qua một tiến trình
dân chủ.
Những người ủng hộ thương mại tư do dùng các học thuyết kinh tế như lợi thế so
sánh để chứng minh thương mại tự do sẽ dẫn đến một sự phân phối tài nguyên hiệu quả
hơn, với tất cả những ai tham gia vào quá trình tìm kiếm lợi ích từ thương mại. Thương
mại tự do sẽ cho những nhà sản xuất tại các nước một thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn
dẫn đến lợi nhuận cao hơn. Đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa các nguồn tư bản, từ đó
đem lại lợi ích cho người lao động trên toàn thế giới; cũng như cạnh tranh giữa nguồn
nhân công trên toàn thế giới sẽ mang lại lợi ích cho các nhà tư bản và trên hết là cho
người tiêu thụ. Nói chung, họ cho rằng điều này sẽ dẫn đến giá thành thấp hơn, nhiều
việc làm hơn và phân phối tài nguyên tốt hơn. Toàn cầu hoá đối với những người ủng
hộ dường như là một yếu tố dẫn đến phát triển kinh tế cho số đông. Chính từ điều này
mà họ chỉ nhìn thấy trong sự truyền thông hoá khái niệm "toàn cầu hoá" một cố gắng
biện minh đầy cảm tính và không duy lý của chủ nghĩa bảo hộ kinh tế.
Chủ nghĩa tự do cá nhân và những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản tự do tuyệt đối
cho rằng mức độ tự do cao về kinh tế và chính trị dưới hình thức dân chủ và chủ nghĩa
tư bản ở phần thế giới phát triển sẽ làm ra của cải vật chất ở mức cao hơn. Do vậy họ
coi toàn cầu hoá là hình thức giúp phổ biến nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản.
Họ phê phán phong trào chống toàn cầu hoá chỉ sử dụng những bằng chứng vụn
vặt để biện minh cho quan điểm của mình, còn họ thì sử dụng những thống kê ở quy
mô toàn cầu. Một trong những dẫn chứng này là tỉ lệ phần trăm dân chúng ở các nước
10
đang phát triển sống dưới mức 1 Đôla Mỹ (điều chỉnh theolạm phát) một ngày đã giảm
một nửa chỉ trong hai mươi năm. Tuổi thọ gần như tăng gấp đôi ở các nước đang phát
triển kể từ chiến tranh thế giới thế giới hai và bắt đầu thu hẹp khoảng cách với các
nước phát triển nơi ít có sự cải thiện hơn. Tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh đã giảm ở các khu
vực đang phát triển trên thế giới. Bất bình đẳng trong thu nhập trên toàn thế giới nói
chung đang giảm dần.
Nhiều người ủng hộ chủ nghĩa tư bản cũng phản đối Ngân hàng thế giới và Quỹ
tiền tệ quốc tế với lý luận rằng những tổ chức này đều tham ô, quan liêu do các nhà
nước kiểm soát và cung cấp tài chính, chứ không phải các tập đoàn kinh doanh. Nhiều
khoản cho vay chỉ đến tay những lãnh đạo độc tài không thực hiện bất kỳ một cải cách
nào, rốt cuộc chỉ dân thường là những người phải trả những khoản nợ này về sau. Một
số nhóm đặc biệt như các liên đoàn thương mại của thế giới phương Tây cũng phản
kháng sự toàn cầu hoá vì mâu thuẫn quyền lợi.
Tuy nhiên, thế giới ngày càng chia sẻ những vấn đề và thách thức vượt qua khỏi
quy mô biên giới quốc gia, nhất là vấn đề ô nhiễm môi trườn tự nhiên, và như vậy
phong trào được biết đến trước đây với tên gọi phong trào chống toàn cầu hoá từ nay
đã biến thành một phong trào chung của các phong trào vì toàn cầu hoá; họ tìm kiếm,
thông qua thử nghiệm, các hình thức tổ chức xã hội vượt qua khỏi khuôn khổ nhà nước
quốc gia và nền dân chủ đại diện. Do đó, cho dù các lý lẽ của phe chống toàn cầu hoá
lúc ban đầu có thể bị bác bỏ thông qua các thực tế về quốc tế hoá như ở trên, song sự
xuất hiện của một phong trào toàn cầu là không thể chối cãi và do đó chúng ta có thể
nói về một tiến trình thực sự hướng tới một xã hội nhân bản ở quy mô toàn cầu của tất
cả các xã hội.
11
Chương II:Vận dụng Toàn cầu hóa Và vấn đề hội nhập
của Việt Nam
2.1:Cơ hội Toàn cầu hóa và vấn đề hội nhập của Việt Nam:
2.1.1:Toàn cầu hóa,từ sức ép đến cơ hội:
Như tôi đã nói trong nhiều bài viết, quá trình phát triển của con người gồm có hai
giai đoạn, giai đoạn phấn đấu để trở thành con người và giai đoạn phấn đấu để trở
thành con người phù hợp với đòi hỏi của thời đại. Ba lần thất bại của con người khi đi
tìm tự do đánh dấu sự khép lại chặng đường đầu tiên trong tiến trình phát triển. Mở đầu
cho chặng đường thứ hai chính là toàn cầu hoá. Chúng ta biết rằng, trước khi toàn cầu
hoá, thế giới chưa phải là một khái niệm thống nhất, thế giới gồm những mảnh khác
nhau đặt trôi dạt trong một dòng chảy. Con người không chỉ có một sự lệch lạc mà có
nhiều sự lệch lạc tương đối với nhau trên phạm vi toàn cầu, cho nên con người không
thể đối thoại toàn cầu. Song, tất cả những sự lệch lạc như vậy sẽ được điều chỉnh bởi
hiện tượng toàn cầu hoá, bắt đầu từ kinh tế, sang đến chính trị, sang đến văn hóa và do
đó, nó xúc tiến một sự phát triển thống nhất đối với các giá trị con người. Như thế có
nghĩa là, thế giới đã bắt đầu hội tụ đến một trạng thái tự do mang tính toàn cầu đối với
thân phận con người. Các quốc gia buộc phải mở cửa do sự thúc ép của toàn cầu hoá,
nhưng đó cũng chính là cơ hội lớn để phát triển cho con người ở tất cả các quốc gia
này.
Toàn cầu hóa hay lộ trình để khái niệm tự do bộc lộ dần những giá trị của nó đi
theo hai trật tự. Trật tự thứ nhất là nó xuất hiện một cách bản năng do sự toàn cầu hóa
về kinh tế và sự giao lưu về mặt văn hóa. Toàn cầu hoá về kinh tế đã và đang là một xu
thế lớn cuốn hầu hết tất cả các quốc gia vào đó. Sự giao lưu về mặt văn hóa làm cho
các nền văn hóa có điều kiện để tìm cách chung sống với nhau. Du lịch là một trong
những cách thức mà con người tạo ra sự giao lưu giữa các nền văn hóa. Nếu nhìn du
lịch đơn thuần như là nhìn một ngành kinh tế thì đó là một cách nhìn đúng nhưng
12
không đủ, mà phải nhìn du lịch như một trong những cách thức chủ yếu mà loài người
sử dụng để giao lưu văn hóa và làm thức tỉnh những tiêu chuẩn văn hóa toàn cầu. Có
thể nói rằng, toàn cầu hóa tạo ra những hiện tượng rất kỳ lạ đối với tiến trình phát triển
của nhân loại. Toàn cầu hóa tạo ra các hệ quả kinh tế, hệ quả chính trị, hệ quả văn hóa.
Tất cả những hệ quả này đẩy con người vào tình thế buộc phải so sánh, buộc phải cạnh
tranh, và buộc phải hợp tác với nhau. Điều đó có nghĩa, càng ngày, việc thế giới được
toàn cầu hóa một cách bản năng đã phản ánh vào trong ý thức của con người, con
người buộc phải có ý thức về hiện tượng ấy để có thể tham gia một cách có lợi vào quá
trình này. Vì thế, toàn cầu hóa lại xuất hiện dưới dạng thức thứ hai là ý thức hóa về các
hiện tượng ban đầu của toàn cầu hóa và do đó, có ngành khoa học nghiên cứu các diễn
biến toàn cầu. Nghiên cứu về toàn cầu hóa thực chất là nghiên cứu sự cạnh tranh toàn
cầu. Sự cạnh tranh toàn cầu tố giác một thực tế quan trọng là sự thiếu năng lực cạnh
tranh của các nước thế giới thứ ba. Nói cách khác, quá trình hội nhập tạo ra sự thức
tỉnh của các nước thế giới thứ ba về việc thiếu tự do. Thiếu tự do thì không phát triển,
thiếu tự do thì thiếu năng lực cạnh tranh. Đặc biệt là thiếu tự do thì con người không
hạnh phúc. Trong điều kiện toàn cầu hóa, con người nhận ra và thậm chí cần phải xác
định rõ hạnh phúc mới là mục tiêu của tự do. Vì nếu không thì con người ngủ một giấc
rất say cũng thấy mình hạnh phúc. Theo tôi, các dân tộc khu trú, các dân tộc đóng cửa
là các dân tộc ngủ. Đấy là những dân tộc có tâm lý không cần cố gắng, không cần tự
do. Họ ngủ vì họ không cần tự do, vì khi đó con người chỉ là con người ý thức. Ngủ về
mặt văn hóa tức là không tự do. Nhiều dân tộc ngủ gà ngủ gật suốt nhiều thế kỷ và họ
cảm thấy mình rất hạnh phúc. Ở đâu người ta chống đối các nền văn minh nhiều nhất?
Ở những vùng lạc hậu, những vùng Amazone, ở Mexico, ở những vùng sâu thẳm trong
rừng Clombia, ở Peru, Bắc Phi, Trung Phi, Congo… Ở chỗ nào mà các dân tộc ngủ thì
người ta chống đối, người ta chống Mỹ, người ta chống phương Tây một cách quyết
liệt vì bị làm huyên náo giấc ngủ hàng nghìn năm. Suy cho cùng, họ chống đối vì họ sợ
nhìn vào sự thật. Toàn cầu hóa là cơ hội để các dân tộc nhìn vào sự thật về mình. Tự
nhiên người ta bị đặt vào trong các tương quan so sánh với những người bên cạnh để
thấy mình là một người lùn như thế nào. Tất nhiên, nếu không nhìn lên để thừa nhận sự
13
thua kém của mình thì con người có thể nhìn xuống, có thể nhìn ngang. Nhìn các chiều
là quyền tự do của con người nhưng người ta không thể giấu được sự thua kém đó. Con
người cần phải thức tỉnh giấc ngủ của mình bằng những lợi ích của tự do. Các dân tộc
không được đóng cửa. Tất cả các dân tộc muốn phát triển thì không được bảo thủ về
mặt chính trị, không được đóng cửa về mặt kinh tế, và không được lạc hậu về mặt văn
hóa.
Người ta thường tự do trong những giới hạn mà người ta nhận thức được, những
giới hạn mà xã hội loài người ở thời điểm ấy cho phép. Và thậm chí, người ta biết cách
hạnh phúc với những giới hạn tự nhiên, những giới hạn mang tính sinh học của mình.
Quay trở lại ví dụ trên, nếu con người cứ ngủ triền miên trong sự khu trú của mình thì
con người có hạnh phúc không? Tuy nhiên, ngay cả khi con người đóng cửa lại để
hạnh phúc một mình, tức là con người đóng cửa về mặt văn hóa, thì khi xu hướng toàn
cầu hoá thúc ép anh mở cửa, anh sẽ cảm thấy bất hạnh ngay lập tức. Vì khi anh đóng
cửa thì anh rơi vào tình trạng tự mãn, tức là nhìn lên thì chẳng bằng ai, nhìn xuống thì
cũng chẳng ai bằng mình. Sự tự mãn càng làm cho con người không thể hạnh phúc nếu
thấy mình lép vế trong bất kỳ tương quan so sánh nào với những người có địa vị như
mình trên thế giới. Ngay trong một quốc gia cũng có người hạnh phúc, có người không
hạnh phúc. Người thành đạt thì hạnh phúc hơn người không thành đạt, và thế giới
không bao giờ phẳng vì sự chênh lệch đó, toàn cầu hoá không xóa bỏ được sự chênh
lệch giàu nghèo, nhưng toàn cầu hóa cho phép người ta so sánh giữa những người
không thành đạt với nhau. Người ta nhận rõ ra giữa cái cấu trúc nhìn lên và nhìn xuống
của con người còn có nhìn ngang. Nhìn ngang là cái nhìn khẳng định các giới hạn tự
nhiên, các giới hạn khách quan của con người. Khi một người ở quốc gia nào đó thấy
rằng có những người có tương quan như mình và cũng có trạng thái như mình trên toàn
thế giới thì họ sẽ không thắc mắc về sự hẩm hiu của mình nữa. Đây là một khái niệm
cực kỳ tinh tế trong phân tâm học. Trong cạnh tranh toàn cầu, con người sẽ so sánh.
Tại sao người ta đi xe ô tô Mercedes mà mình lại đi xe đạp? Là bởi vì trong khi người
đi Mercedes ấy làm một ngày 20 giờ đồng hồ và chỉ ngủ 4 tiếng thì mình ngủ 12 tiếng
một ngày. Và khi nào người ta nhận thấy có người ở một quốc gia khác cũng ngủ 12
14

theo dỏi quá trình động học phân tử của adenine bằng lade xung cực ngắn


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "theo dỏi quá trình động học phân tử của adenine bằng lade xung cực ngắn": http://123doc.vn/document/1052383-theo-doi-qua-trinh-dong-hoc-phan-tu-cua-adenine-bang-lade-xung-cuc-ngan.htm



phân tử và cũng là cấp thời gian của các phản ứng hóa học, nên các tác giả cho rằng đã thu được thông
tin cấu trúc động của phân tử. Công trình chụp ảnh N
2
đã mở đường cho những công trình kế tiếp
nghiên cứu chụp ảnh phân tử sử dụng nguồn sóng hài bậc cao [6]. Ứng dụng của HHG đã không dừng
lại ở đó, trong các công trình [7], [8], các tác giả đã khẳng định theo dõi được quá trình đồng phân hóa
HCN/HNC và quá trình đồng phân hóa acetylen/vinyliden từ nguồn cơ sở dữ liệu HHG thu được do sự
tương tác của lade có xung cực ngắn (10 femto giây) và cường độ cực mạnh (~10
14
W/cm
2
) với các
phân tử.
Với mong muốn được tiếp cận với một hướng phát triển mới đầy tiềm năng, tác giả đã quyết
định sẽ tìm hiểu về cơ chế phát xạ sóng hài bậc cao và sử dụng chính cơ chế này để tìm hiểu thông tin
động và quá trình biến đổi của một phân tử có cấu trúc phức tạp hơn so với những nghiên cứu đã tiến
hành, đó chính là các base củ
a phân tử ADN. Sở dĩ tác giả lựa chọn phân tử ADN để thực hiện nghiên
cứu là bởi tính chất cần thiết và “hấp dẫn” của phân tử này.
Axit Deoxyribonucleic (ADN) là phân tử mang thông tin di truyền mã hóa cho hoạt động sinh
trưởng và phát triển của tất cả các dạng sinh vật sống bao gồm cả một số virus. ADN là môt đại phân
tử được tạo thành bởi hai chuỗi xoắn kép liên kết với nhau bởi liên kết hydro, mỗi sợi đơn là một chuỗi
polynucleotide gồm nhiều các nucleotide nối với nhau bằng liên kết photphat. Mỗi nucleotide gồm ba
thành phần: bazơ nitơ (base), đường pentose, nhóm phosphate. Thông tin di truyền chứa trong ADN
được giải mã dưới dạng trình tự sắp xếp của các base. Base trong phân tử ADN là các dẫn xuất hoặc
của pyrimidine gồm cytosine (C) và thymine (T), hoặc của purine gồm adenine (A) và guanine (G).
Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đều chỉ ra rằng mỗi base thường tồn tại dưới hai dạng đồng
phân h
ỗ biến (tautomer): base adenine và cytosine có hai tautomer là amino (bền) và imino (kém bền),
base thymine và guanine có hai tautomer là keto (bền) và enol (kém bền). Thông thường, các base sẽ
tồn tại trong phân tử ADN dưới dạng tautomer tự nhiên bền (keto và amino). Tuy nhiên trong quá trình
phát triển của sinh vật, dưới một số điều kiện nào đó, đôi khi các base sẽ không tồn tại ở dạng
tautomer phổ biến nữa mà chuyển sang dạng tautomer hiếm gặp hơn là enol và imino. Các dạng hiếm
gặp này dù có thời gian tồn tại rất ngắn như
ng nếu trong thời gian đó chúng được huy động vào quá
trình tổng hợp ADN thì đột biến sẽ xảy ra. Khi đó các cặp bazơ nitơ được hình thành là A và C (bằng
hai liên kết hydro); G và T (bằng ba liên kết hydro). Sau hai lần sao chép thì cặp A và T thành cặp G và
C, cặp G và C thành cặp A và T, dẫn đến hậu quả là thông tin di truyền sẽ không được nguyên vẹn cho
thế hệ sau. Quá trình các base bị biến đổi từ dạng tautomer này sang dạng tautomer khác gọi là quá
trình hỗ biến hóa học (tautomerism) [1]. Như vậy quá trình tautomerism chính là mộ
t trong những cơ
chế gây đột biến gen, do đó nó đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhóm khoa học trên thế
giới kể cả lí thuyết và thực nghiệm [15]. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng thời gian của quá
trình tautomerism là vào cỡ femto giây. Do đó, việc thu nhận được thông tin động ở cấp thời gian

femto giây và theo dõi được quá trình tautomerism của các base đã trở thành mục tiêu của các nhà
nghiên cứu trên thế giới.
Trên cơ sở hướng phát triển của ứng dụng HHG và nhu cầu của việc theo dõi quá trình
tautomerism của các base của ADN, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài
“Theo dõi quá trình động
học phân tử của adenine bằng
lade xung siêu ngắn” cho luận văn tốt nghiệp.
Trong phạm vi một luận văn tốt nghiệp, tác giả đã quyết định lựa chọn phân tử adenine thuộc
base purine, có cấu trúc hai mạch vòng làm đối tượng nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu quá trình
tautomerism của adenine bằng tính toán phổ HHG phát xạ có ưu điểm là có thể xác định được những
sự thay đổi cấu trúc phân tử ở thang thời gian femto giây. Từ đó cung cấp cho các nhà thực nghiệm
mộ
t cơ sở lí thuyết để có thể chủ động can thiệp vào quá trình tautomer hóa của base này và từ đó điều
khiển được cơ chế đột biến gen.
Mục tiêu chính của luận văn là sử dụng dữ liệu (HHG) thu được khi cho lade siêu ngắn 5 fs,
bước sóng 800 nm, cường độ mạnh 2.10
14
W/cm
2
tương tác với base adenine để theo dõi quá trình
tautomerism của phân tử này.
Để có thể đạt được kết quả như mong muốn, chúng tôi cần tiến hành từng bước cụ thể sau:
 Tìm hiểu lí thuyết về ADN, các base và quá trình tautomerism;
 Tìm hiểu cơ chế phát xạ HHG và mô hình ba bước Lewenstein;
 Tìm hiểu về phần mềm tính toán Gaussian, Gaussview và ngôn ngữ lập trình Fortran;
 Mô phỏng cấu trúc phân tử và orbital ngoài cùng HOMO của phân tử adenine. So sánh với số
liệu thực nghiệm;
 Mô phỏng quá trình tautomerism của adenine bằng cách tính toán mặt thế năng PES để tìm ra
hai trạng thái bền của phân tử đồng thời mô phỏng đường IRC;
 Tính toán HHG thu được khi cho lade xung 5 fs, cường độ 2.10
14
W/cm
2
, bước sóng 800 nm
tương tác với phân tử;
 Phân tích dữ liệu HHG phụ thuộc góc định phương để phân biệt ba trạng thái của phân tử;
 Phân tích dữ liệu HHG phụ thuộc vào góc định phương và góc cấu trúc để theo dõi quá trình
tautomerism của phân tử này.
Trong thực tế khi cho lade có cường độ mạnh tương tác với phân tử thì có nhiều hiệu ứng phi
tuyến xảy ra, tuy nhiên, trong đề tài này, chúng tôi chỉ chú ý đến hiệu ứng phát xạ HHG. Kể t
ừ khi ra
đời cho đến nay, HHG là một trong những vấn đề gây chú ý đối với nhiều nhóm nghiên cứu trên thế
giới. Thực chất bài toán HHG ở đây chính là giải phương trình Schrodinger phụ thuộc vào thời gian
khi electron chịu tác dụng của trường lade. Trên thực tế, bài toán đã được giải chính xác cho vài phân
tử đơn giản như H
2
, hay ion của nó H
2
+
. Tuy nhiên do tính chất phức tạp của các phân tử nên không
phải lúc nào ta cũng có thể áp dụng phương pháp TDSE để giải quyết bài toán này. Vì vậy yêu cầu đặt

ra là cần có những mô hình vật lí để thực hiện tính toán gần đúng nhưng vẫn giữ được bản chất vật lí
của hiện tượng. Có nhiều mô hình được nêu ra để giải quyết bài toán này và một trong những mô hình
được cộng đồng khoa học hiện nay chấp nhận rộng rãi đó là mô hình ba bước bán cổ điển Lewenstein.
Trong luận văn này, chúng tôi thực hiện thu nhận dữ liệu HHG dựa vào mô hình ba bước này với công
c
ụ được sử dụng để tính toán là ngôn ngữ lập trình Fortran. Chương trình tính toán phổ HHG trên ngôn
ngữ này được xây dựng bởi GS. Lin Chii-Dong (Đại Học Kansas, Mỹ) và sau đó được phát triển bởi
nhóm các nhà khoa học tại Khoa Vật Lý-Trường ĐHSP.TPHCM. Chương trình này đã được kiểm
chứng qua các công trình đăng trên các tạp chí Vật lý quốc tế có uy tín. Ở đây, chúng tôi không tiến
hành viết lại chương trình tính toán này mà chỉ tiếp thu các kĩ thuật tính toán được sử dụng và xem như
đây là một công cụ cho chúng tôi thực hiện luận văn này. Như đã nêu trong phần nhiệm vụ, để có thể
tính toán được HHG phát ra, chúng tôi cần phải mô phỏng được cấu trúc phân tử adenine. Nhiệm vụ
này được chúng tôi giải quyết bằng cách sử dụng phần mềm Gaussian 03W với mô hình tính toán dựa
trên phương pháp lý thuyết phiếm hàm mật độ DFT, có tính đến hiệu chỉnh Gradient B3LYP và hệ
hàm cơ sở 6-31G+(d,p). Bằ
ng phương pháp này chúng tôi đã mô phỏng được ba trạng thái của phân tử
adenine: amino, trạng thái chuyển tiếp và imino. Khi có được các thông tin này, chúng tôi tiến hành
tính toán và đã mô phỏng được HHG phát ra do sự tương tác này. Khảo sát sự phụ thuộc vào góc định
phương của phân tử, chúng tôi nhận thấy không thể phân biệt được các trạng thái nêu trên do hình dạng
HOMO của các trạng thái trên là khá giống nhau. Tuy nhiên điều chúng tôi quan tâm ở đây chính là
quá trình tautomerism của adenine. Vẫn sử dụng phương pháp nêu trên, chúng tôi đã mô phỏng được
quá trình tautomerism của adenine bằng cách tính toán được mặt thế năng cũng như đường phản ứng
hóa học của phân tử này. Khi đã mô phỏng được đường phản ứng hóa học này chúng tôi đã tiến hành
cho lade tương tác với phân tử thymine trong cả quá trình quá trình tautomerism này. Tuy nhiên từ dữ
liệu HHG thu được, chúng tôi nhận thấy chưa thể theo dõi được quá trình tautomerism của adenine
bằng dữ liệu HHG thu được khi sử dụng lade 5 fs, 800 nm, 2.10
14
W/cm
2
.
Bố cục luận văn gồm bốn chương chính:
 Chương 1. Cơ sở lí thuyết về ADN
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày một cách ngắn gọn về cấu trúc, đặc điểm, cơ chế đột
biến trong phân tử ADN, trong đó sẽ giới thiệu với bạn đọc về quá trình hỗ biến hóa học
(tautomerism). Đây là quá trình khi một tautomer của base này bị biến đổi thành dạng tautomer khác
hi
ếm gặp hơn, từ đó dẫn đến kết quả bắt cặp sai, và hậu quả là gây đột biến gen. Nắm được những
thông tin khái quát về ADN, hay cụ thể đó là sự đột biến do quá trình hỗ biến hóa học của các base
trong ADN sẽ giúp cho bạn đọc thấy được tầm quan trọng và cần thiết trong việc nắm bắt thông tin cấu
trúc động của phân tử ở cấp thời gian femto giây, để t
ừ đó có thể chủ động can thiệp vào quá trình gây
nên đột biến gen trong cơ thể sinh vật.

 Chương 2. Tổng quan lade và cơ chế phát xạ sóng hài bậc cao
Trong chương 2, tác giả sẽ tập trung trình bày về công cụ chính được sử dụng để thu nhận thông
tin của phân tử. Đó chính là cơ chế phát xạ sóng hài bậc cao – HHG [12].
Trong phần thứ nhất của chương này, tác giả sẽ dành vài trang để giới thiệu những nét cơ bản
nhất về lade. Hiện nay, có thể nói lade là một thuật ngữ rất quen thuộc đố
i với nhiều người, nó đã
thâm nhập vào rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, do đó tác giả sẽ không đề cập nhiều đến những ứng
dụng của nó mà thay vào đó sẽ đề cập đến một hướng phát triển mới – lade xung siêu ngắn. Quá trình
rút ngắn chiều dài xung lade sẽ được tác giả đề cập theo tiến trình thời gian. Kể từ khi được chế tạo lần
đầu tiên, công nghệ lade ngày càng có những tiến triển mang tính chất đột phá. Cường độ lade được
tăng lên nhiều lần, song song đó độ dài xung lade được giảm đáng kể. Trong năm 1990, Zewail et al
[13] đã tạo ra xung lade vào cỡ femto giây, đánh dấu sự ra đời của một lĩnh vực mới gọi là Hóa học
thang thời gian femto giây (Femtosecond chemistry). Những nổ lực rút ngắn độ dài của xung lade vẫn
tiếp diễn. Trong những năm gần đây, cuộc chạy đua xung lade siêu ngắn đã có những đích đến mới,
đột phá và ấn tượng bằng công trình của các nhóm nghiên cứu trên thế giới khi tạo ra được xung lade ở
cấp độ atto giây, mở ra một lĩnh vực mới Vật lí thang thời gian atto giây (Attosecond Physics). Ngành
khoa học này đã mở ra những hướng đi mới đầy tiềm năng cho nhiều ngành khoa học khác nhau,
không chỉ riêng vật lí học. Đó chính là một tia sáng hứa hẹn những thay đổi sự hiểu biết của con người
về thế giới vật chất.
Chính sự phát triển của các xung lade siêu ngắn đã thực sự tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu
tìm hiểu sâu hơn về sự tương tác giữa nguyên tử, phân tử với các xung lade siêu ngắn có cường độ
mạnh, trong đó có hiện tượng phát xạ HHG. Do đó, nội dung thứ hai của chương này sẽ trình bày về sự
tương tác gi
ữa trường lade và nguyên tử, phân tử. Đây là sự tương tác phi tuyến, nghĩa là nguyên tử sẽ
phản ứng khác nhau đối với cường độ trường lade khác nhau, mở ra một ngành quang học mới gọi là
quang học phi tuyến. Khi trường lade yếu so với trường Coulomb trong nguyên tử thì lade chỉ khuấy
nhiễu nhẹ trạng thái của nguyên tử và sự ion hóa chỉ có thể xảy ra theo cơ chế đa photon, nghĩa là
nguyên tử hấp thụ liên tiếp nhiều photon để chuyển lên trạng thái kích thích. Khi trường lade tương đối
mạnh so với trường Coulomb thì sự ion hóa sẽ xảy ra theo cơ chế xuyên hầm, tức là electron có xác
suất xuyên hầm qua rào thế tạo bởi trường Coulomb của nguyên tử và trường lade để đi ra vùng phổ
liên tục. Còn trong trường hợp trường lade rất mạnh so với trường Coulomb thì đỉnh của rào thế trở
nên thấp hơn so với thế năng của electron, do đó electron có thể vượt rào thế đi vào vùng liên tục, đó
chính là sự ion hóa vượt rào. Để đặc trưng cho sự tương tác giữa lade với nguyên tử, tác giả sẽ trình
bày về một hệ số quan trọng được phát triển bởi Viện sĩ Keldysh, vì vậy hệ số này được đặt theo tên
ông, hệ số Keldysh.

Như vậy khi trường lade tương đối mạnh đối với trường Coulomb của nguyên tử thì electron có
thể thoát ra ngoài miền liên tục theo cơ chế xuyên hầm, và một trong những hiện tượng rất đặc biệt đã
xảy ra đó là sự phát xạ HHG – công cụ chính để thực hiện nghiên cứu trong luận văn. Phần cuối cùng
của chương hai sẽ cung cấp cho người đọc những kiến thức cần thi
ết về cơ chế phát xạ sóng hài bậc
cao. Được phát hiện lần đầu tiên bởi nhà nghiên cứu M.Ferray (Pháp) vào năm 1988, từ đó HHG đã trở
thành một điểm sáng thu hút sự quan tâm để tìm kiếm một lí thuyết phù hợp cho việc giải thích các đặc
tính của nó. Ban đầu, HHG được nghiên cứu là một trong những cơ chế để tạo ra xung ánh sáng siêu
ngắn cấp độ atto giây. Sau đó, trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã nhận thấy rằng khi bắn
lade cường độ mạnh vào phân tử thì cường độ HHG phát ra sẽ phụ thuộc vào góc định phương phân tử
đó [14]. Mặt khác, HHG phát ra ngay tại thời điểm electron tái kết hợp với ion mẹ, sau khi nó được
xuyên hầm ra vùng liên tục của trường lade, chịu tác dụng của trường lade và chuyển động ngược trở
lại. Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng HHG thu được mang thông tin cấu trúc phân tử.
Từ đó HHG được xem là m
ột công cụ trong việc quan sát cấu trúc và quá trình biến đổi của các phân
tử, cụ thể trong luận văn là cấu trúc và quá trình biến đổi của phân tử adenine. Trong phần này, tác giả
sẽ nhấn mạnh trình bày về mô hình tính toán ba bước bán cổ điển được xây dựng bởi Lewenstein (do
đó mô hình còn được gọi là mô hình Lewenstein) [10]. Cho đến nay, có thể nói rằng đây chính là một
mô hình “đẹp” về giải thích cơ chế cũng như những đặc tính của hiện tượng phát xạ sóng hài bậc cao.
 Chương 3. Mô hình tính toán
Đề tài không tiến hành những thí nghiệm cụ thể mà dựa vào những chương trình tính toán để
tìm được số liệu HHG phát ra. Vì vậy, trong chương 3, tác giả muốn giới thiệu đến người đọc đôi nét
khái niệm về một mô hình tính toán, và source code thiết lập trên ngôn ngữ Fortran được sử dụng trong
luận văn. Mục đích chính của chương 3 là cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan về các chươ
ng
trình được sử dụng trong luận văn, do đó nội dung chương 3 được trình bày ngắn gọn, đơn giản. Nếu
người đọc muốn tìm hiểu thêm về các chương trình này có thể tham khảo tài liệu [5],[16].
 Chương 4. Kết quả và đánh giá kết quả nghiên cứu
Phần này gồm 4 mục, tác giả trình bày về các kết quả đạt được và đánh giá đối với từng nội
dung.
 Mô phỏng c
ấu trúc và orbital ngoài cùng (HOMO) của phân tử adenine: Sử dụng Gaussian
mô phỏng hai đồng phân và cấu trúc chuyển tiếp của phân tử adenine. Với mô hình tính toán
được thiết lập bởi phương pháp phiếm hàm mật độ DFT hiệu chỉnh Gradient B3LYP và hệ hàm
cơ sở 6-31G+(d,p), tác giả đã mô phỏng cấu trúc tối ưu của phân tử sau đó so sánh với số liệu
thực nghiệm. Có khá nhiều công trình nghiên cứu cả lí thuyết lẫn thực nghiệm đưa ra k
ết quả
về cấu trúc phân tử các base của ADN, với việc sử các số liệu này để so sánh, tác giả nhận thấy
kết quả đạt được bằng tính toán có độ tin cậy cao (sai số <2%), do đó có thể sử dụng số liệu đã

có cũng như mô hình tính toán đã thiết lập cho các phép tính toán tiếp theo. Sau đó cũng với mô
hình tính toán này, tác giả đã mô phỏng thành công HOMO của adenine.
 Mô phỏng quá trình tautomerism của phân tử adenine: tác giả sẽ mô phỏng quá trình đồng
phân hóa của adenine chuyển từ trạng thái imino sang amino. Để thực hiện được mục tiêu này,
tác giả cần tính toán mặt thế năng của phân tử adenine cũng như phải mô phỏng được đường
phản ứng hóa học trong quá trình chuyể
n đồng phân này. Tác giả cũng tính được năng lượng
tương quan của quá trình tautomerism của adenine, và thấy rằng kết quả này phù hợp với kết
quả trong công trình [17].
 Sử dụng dữ liệu HHG thu được để phân biệt ba trạng thái của base adenine trong quá trình
tautomerism: tác giả sử dụng source code viết bằng ngôn ngữ Fortran dựa trên mô hình ba bước
Lewenstein để tính các số liệu HHG phát xạ ra khi hai tautomer và trạng thái chuyển tiếp của
adenine tương tác với lade xung cự
c ngắn. Tiến hành phân tích số liệu HHG phụ thuộc góc định
phương để nhận xét về sự khác biệt giữa ba trạng thái của phân tử.
 Theo dõi quá trình tautomerism của phân tử adenine: tác giả thực hiện tính toán cường độ
HHG phát ra khi chiếu lade vào phân tử adenine khi thực hiện quá trình tautomerism. Khảo sát
sự phụ thuộc của cường độ HHG vào góc định phương và góc cấu trúc để nhận xét kết quả theo
dõi quá trình tautomerism được hay không.
Kết luận sẽ
là phần cuối của luận văn. Trong phần này, tác giả sẽ tóm tắt lại các kết quả đã đạt
được, và đề xuất hướng phát triển cho đề tài vì hiện nay bài toán HHG về thu nhận thông tin cấu trúc
động của phân tử và các quá trình đồng phân hóa đang thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu
trên thế giới.

Chương 1. Cơ sở lý thuyết về ADN
1.1 Thành phần và cấu trúc của ADN
Axit Deoxyribonucleic (ADN) – một trong hai loại của axit nucleic được nhà khoa học
F.Miescher phát hiện năm 1869 – là cơ sở vật chất di truyền ở cấp độ phân tử.
1.1.1 Thành phần
ADN là đại phân tử, được tạo thành bởi hai chuỗi xoắn kép liên kết với nhau bởi liên kết hydro,
mỗi sợi đơn là một chuỗi polynucleotide gồm nhiều các deoxyribonucleotide nối với nhau bằng liên
kết photphat. Mỗi nucleotide gồm một nucleoside liên kết với gốc photphat.
Nucleoside là c
ấu trúc chỉ gồm bazơ nitơ với đường pentose. Các bazơ nitơ gắn với đường
pentose bằng liên kết cộng hóa trị ở vị trí C-1' của đường với nitơ ở vị trí số 9 của purine hoặc ở vị trí
nitơ số 1 của pyrimidine.
Nucleotide là sản phẩm gắn phosphate của nucleoside. Liên kết giữa pentose và acid phosphoric
là liên kết este do loại một phân tử nước giữa OH của acid và H của alcol (ở vị trí 5’ của pentose). Đối
với phân tử ADN thì nucleotide thuộc loại deoxyribo nên được gọi là deoxyribonucleotide. Cấu tạo của
một đơn phân nucleotide được thể hiện như hình 1.1.

Hình 1.1: Công thức cấu tạo của Nucleoside và Nucleotide.
Chuỗi polynucleotide là một dãy các nucleotide nằm liền kề nối với nhau thành một mạch dài,
qua liên kết phosphodieste giữa nhóm hydroxyl ở đầu C-5' của đường pentose của nucleotide này với
nhóm phosphate tại đầu C-3' của nucleotide nằm vị trí kế tiếp. Mỗi mạch polynucleotide mang tính
phân cực: một đầu C-5' mang nhóm phosphate (hoặc đôi khi là hydroxyl) còn đầu kia C-3' luôn mang
nhóm hydroxyl.

Như vậy thành phần cơ bản của ADN chính là các nucleotide. Mỗi nucleotide gồm 3 thành phần
như sau:
 Base (bazơ nitơ): Là các dẫn xuất hoặc của pyrimidine, gồm cytosine (C), thymine (T) và uracil
(U) – không có ở ADN; hoặc của purine, gồm adenine (A) và guanine (G).
 Pentose: Có hai loại pentose tham gia vào cấu tạo của nucleotide là ribose (xuất hiện trong ARN)
và deoxyribose (xuất hiện trong ADN). Các nguyên tử carbon của pentose được quy ước đánh số
có dấu phẩy để tránh nhầm lẫn với các số trong base.
 Axit Phosphoric: Là một tri axit, hai trong số 3 chức axit được este hóa trong phân tử ADN và
ARN.
Thành phần cấu tạo của ADN được thể hiện rõ ràng qua hình vẽ 1.2:

Hình 1.2: Thành phần cấu tạo của ADN.



Hình 1.3: Các base của ADN.

Mỗi loại bazơ nitơ có hai tautomer (đồng phân hỗ biến): một dạng phổ biến và một dạng hiếm
gặp. Cụ thể, đối với A và C thì dạng phổ biến là amino và dạng hiếm gặp là imino; còn đối với G và T
dạng phổ biến là keto, dạng hiếm gặp là enol.


Hình 1.4: Các base và các tautomer tương ứng.
1.1.2 Cấu trúc
Năm 1953, James Waston (nhà Sinh vật học người Mỹ) và Francis Crick (nhà Vật lý người
Anh) đã công bố mô hình cấu trúc phân tử axit nucleic. Đây cũng chính là mô hình cấu trúc ADN ở
trạng thái hoạt động phổ biến nhất.

Hình 1.5: Cấu trúc không gian của ADN.
Mỗi phân tử ADN sợi kép gồm hai mạch đơn polynucleotide ngược chiều nhau, bazơ purine của
sợi này nằm đối diện với bazơ pyrimidine của sợi kia theo quy luật bổ sung nghiêm ngặt: A liên kết với
T bằng hai liên kết hydro, G liên kết với C bằng ba liên kết hydro. Nguyên tắc liên kết này còn gọi là
nguyên tắc bổ sung hay nguyên tắc Charaff (do Erwin Charaff phát hiện đầu tiên năm 1950).

Tài liệu Nghiên cứu chọn tạo và phát triển các dòng lúa kháng đạo ôn và chất lượng cao bằng công nghệ tế bào và trợ giúp của các chỉ thị phân tử ppt


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Nghiên cứu chọn tạo và phát triển các dòng lúa kháng đạo ôn và chất lượng cao bằng công nghệ tế bào và trợ giúp của các chỉ thị phân tử ppt": http://123doc.vn/document/1052677-tai-lieu-nghien-cuu-chon-tao-va-phat-trien-cac-dong-lua-khang-dao-on-va-chat-luong-cao-bang-cong-nghe-te-bao-va-tro-giup-cua-cac-chi-thi-phan-tu-ppt.htm



Viện khoa học và công nghệ quốc gia
Viện công nghệ sinh học



đề tài nckh cấp nhà nớc
nghiên cứu công nghệ tế bào và kỹ thuật chỉ thị phân tử
phục vụ chọn tạo giống cây trồng
(thuộc Chơng trình KC 04, mã số KC 04.08)




đề tài nhánh
nghiên cứu chọn tạo và phát triển các dòng lúa
kháng đạo ôn và chất lợng cao bằng công nghệ
tế bào và trợ giúp của các chỉ thị phân tử



CNĐT: Nguyễn Đức Thành

















Hà Nội - 2005



Chơng trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nớc KC-04
_________________________________________________________




Báo cáo thực hiện đề tài thuộc Chơng trình KC04
(giai đoạn 2001-2004)


1. Tên đề tài:


N
N
g
g
h
h
i
i
ê
ê
n
n


c
c


u
u


s
s




d
d


n
n
g
g


c
c
ô
ô
n
n
g
g


n
n
g
g
h
h




t
t
ế
ế


b
b
à
à
o
o


v
v
à
à


k
k




t
t
h
h
u
u


t
t


c
c
h
h




t
t
h
h




p
p
h
h
â
â
n
n


t
t




p
p
h
h


c
c


v
v




c
c
h
h


n
n


t
t


o
o


g
g
i
i


n
n
g
g


c
c
â
â
y
y


t
t
r
r


n
n
g
g
,
,


M
M
ã
ã


s
s


:
:


K
K
C
C
.
.
0
0
4
4
.
.
0
0
8
8






C
C
h
h




n
n
h
h
i
i


m
m


đ
đ




t
t
à
à
i
i
:
:


P
P
G
G
S
S
.
.


T
T
S
S
K
K
H
H
.
.


L
L
ê
ê


T
T
h
h




M
M
u
u


i
i




2
2
.
.


Đ
Đ




t
t
à
à
i
i


n
n
h
h
á
á
n
n
h
h
:
:


N
N
g
g
h
h
i
i
ê
ê
n
n


c
c


u
u


c
c
h
h


n
n


t
t


o
o


v
v
à
à


p
p
h
h
á
á
t
t


t
t
r
r
i
i


n
n


c
c
á
á
c
c


d
d
ò
ò
n
n
g
g


l
l
ú
ú
a
a


k
k
h
h
á
á
n
n
g
g


đ
đ


o
o


ô
ô
n
n


v
v
à
à


c
c
h
h


t
t




l
l




n
n
g
g


c
c
a
a
o
o


b
b


n
n
g
g


c
c
ô
ô
n
n
g
g


n
n
g
g
h
h




t
t
ế
ế


b
b
à
à
o
o


v
v
à
à


t
t
r
r




g
g
i
i
ú
ú
p
p


c
c


a
a


c
c
á
á
c
c


c
c
h
h




t
t
h
h




p
p
h
h
â
â
n
n


t
t


.
.






C
C
h
h




n
n
h
h
i
i


m
m


đ
đ




t
t
à
à
i
i


n
n
h
h
á
á
n
n
h
h
:
:




P
P
G
G
S
S
.
.


T
T
S
S


.
.


N
N
g
g
u
u
y
y


n
n


Đ
Đ


c
c


T
T
h
h
à
à
n
n
h
h




3
3
.
.


T
T
h
h


i
i


g
g
i
i
a
a
n
n


t
t
h
h


c
c


h
h
i
i


n
n
:
:


2
2
0
0
0
0
1
1


-
-


2
2
0
0
0
0
4
4




4
4
.
.


K
K
i
i
n
n
h
h


p
p
h
h
í
í


đ
đ




c
c


c
c


p
p
:
:


1
1
5
5
0
0


t
t
r
r
i
i


u
u










































































































5
5
.
.


N
N
h
h


n
n
g
g


n
n
g
g




i
i


t
t
h
h


c
c


h
h
i
i


n
n
:
:












































P
P
G
G
S
S
.
.


T
T
S
S
.
.


N
N
g
g
u
u
y
y


n
n


Đ
Đ


c
c


T
T
h
h
à
à
n
n
h
h
TS. Phan Thị Bảy
KS. Nguyễn Thuý Hạnh
Th. S. Quách Thi Liên
KTV. Đào Thị Hạnh
Th.S. Lê Thị Bích Thuỷ





Hà Nội - 2004


1


Báo cáo thực hiện đề tài thuộc Chơng trình KC04
(giai đoạn 2001-2004)

1. Tên đề tài:


N
N
g
g
h
h
i
i
ê
ê
n
n


c
c


u
u


s
s




d
d


n
n
g
g


c
c
ô
ô
n
n
g
g


n
n
g
g
h
h




t
t
ế
ế


b
b
à
à
o
o


v
v
à
à


k
k




t
t
h
h
u
u


t
t


c
c
h
h




t
t
h
h




p
p
h
h
â
â
n
n


t
t




p
p
h
h


c
c


v
v




c
c
h
h


n
n


t
t


o
o


g
g
i
i


n
n
g
g


c
c
â
â
y
y


t
t
r
r


n
n
g
g
,
,


M
M
ã
ã


s
s


:
:


K
K
C
C
.
.
0
0
4
4
.
.
0
0
8
8






C
C
h
h




n
n
h
h
i
i


m
m


đ
đ




t
t
à
à
i
i
:
:


P
P
G
G
S
S
.
.


T
T
S
S
K
K
H
H
.
.


L
L
ê
ê


T
T
h
h




M
M
u
u


i
i




2
2
.
.


Đ
Đ




t
t
à
à
i
i


n
n
h
h
á
á
n
n
h
h
:
:


N
N
g
g
h
h
i
i
ê
ê
n
n


c
c


u
u


c
c
h
h


n
n


t
t


o
o


v
v
à
à


p
p
h
h
á
á
t
t


t
t
r
r
i
i


n
n


c
c
á
á
c
c


d
d
ò
ò
n
n
g
g


l
l
ú
ú
a
a


k
k
h
h
á
á
n
n
g
g


đ
đ


o
o


ô
ô
n
n


v
v
à
à


c
c
h
h


t
t




l
l




n
n
g
g


c
c
a
a
o
o


b
b


n
n
g
g


c
c
ô
ô
n
n
g
g


n
n
g
g
h
h




t
t
ế
ế


b
b
à
à
o
o


v
v
à
à


t
t
r
r




g
g
i
i
ú
ú
p
p


c
c


a
a


c
c
á
á
c
c


c
c
h
h




t
t
h
h




p
p
h
h
â
â
n
n


t
t


.
.






C
C
h
h




n
n
h
h
i
i


m
m


đ
đ




t
t
à
à
i
i


n
n
h
h
á
á
n
n
h
h
:
:




P
P
G
G
S
S
.
.


T
T
S
S


.
.


N
N
g
g
u
u
y
y


n
n


Đ
Đ


c
c


T
T
h
h
à
à
n
n
h
h




3
3
.
.


T
T
h
h


i
i


g
g
i
i
a
a
n
n


t
t
h
h


c
c


h
h
i
i


n
n
:
:


T
T
1
1
0
0
/
/
2
2
0
0
0
0
1
1
-
-
T
T
1
1
0
0
/
/
2
2
0
0
0
0
4
4




4
4
.
.


K
K
i
i
n
n
h
h


p
p
h
h
í
í


đ
đ




c
c


c
c


p
p
:
:


1
1
5
5
0
0


t
t
r
r
i
i


u
u










































































































5
5
.
.


N
N
h
h


n
n
g
g


n
n
g
g




i
i


t
t
h
h


c
c


h
h
i
i


n
n
:
:












































P
P
G
G
S
S
.
.


T
T
S
S
.
.


N
N
g
g
u
u
y
y


n
n


Đ
Đ


c
c


T
T
h
h
à
à
n
n
h
h
TS. Phan Thị Bảy
KS. Nguyễn Thuý Hạnh
Th. S. Quách Thi Liên
KTV. Đào Thị Hạnh
Th.S. Lê Thị Bích Thuỷ

6. Nội dung nghiên cứu theo hợp đồng:


+
+


T
T


o
o


c
c
á
á
c
c


c
c


p
p


l
l
a
a
i
i


g
g
i
i


a
a


c
c
á
á
c
c


g
g
i
i


n
n
g
g


k
k
h
h
á
á
n
n
g
g


đ
đ


o
o


ô
ô
n
n


v
v


i
i


g
g
i
i


n
n
g
g


l
l
ú
ú
a
a


c
c
ó
ó


c
c
h
h


t
t


l
l




n
n
g
g


g
g


o
o


t
t


t
t
,
,


n
n
ă
ă
n
n
g
g


x
x
u
u


t
t


c
c
a
a
o
o


+
+


T
T
h
h
u
u


c
c
á
á
c
c


t
t
h
h
ế
ế


h
h




c
c
o
o
n
n


l
l
a
a
i
i


F
F
1
1
,
,


n
n
u
u
ô
ô
i
i


c
c


y
y


b
b
a
a
o
o


p
p
h
h


n
n


đ
đ




t
t


o
o


d
d
ò
ò
n
n
g
g


t
t
h
h
u
u


n
n
+ Sử dụng chỉ thị phân tử đã xác định để đánh giá sớm các con lai có tính kháng đạo ôn
và chất lợng cao.
+ Trồng và theo dõi các đặc điểm nông sinh học các thế hệ con lai
7. Công việc đã tiến hành và kết quả đạt đợc
a.Thu thập, trồng, đánh giá và lu giữ các giống lúa kháng đạo ôn và chất lợng cao:
- Đã thu đợc 11 giống/dòng lúa trong đó có 6 giống kháng đạo ôn, 5 giống có chất
lợng cao.
b. Lai tạo để thu hạt F1:
- Đã tạo đợc 14 cặp lai giữa các giống kháng đạo ôn và chất lợng cao (bảng 1, phụ

2
lục)
- Trồng các cây F1 của 14 cặp lai, đồng thời nhân và giữ các cây F1 trong điều kiện
in vitro
c. Nuôi cấy bao phấn các dòng cây F1 để tạo dòng thuần:
- Nhận đợc 93 dòng cây từ bao phấn của 10 cặp lai (bảng 2, phụ lục)
d. Nghiên cứu đánh giá bằng chỉ thị phân tử tính kháng đạo ôn và chất lợng gạo:
- Tách ADN genome từ 92 dòng cây gồm các dòng đơn bội kép, các dòng cây ở các
thế hệ khác nhau và các giống/dòng bố mẹ để phân tích ADN
- Đã thiết kế và đặt tổng hợp 9 cặp mồi liên quan đến tính kháng đạo ôn và chất lợng
gạo (hàm lợng amylose, độ bền gen, mùi thơm, độ dài hạt v.v.)
- Sử dụng các chỉ thị RG64, RG28, RG171, Wx1, Wxa, Wxb, G243, RZ323, RZ284
để đánh giá tính kháng đạo ôn và chất lợng (hàm lợng amylose, độ bền gen,
mùi thơm, độ dài hạt v.v.) ở 5 dòng cây từ bao phấn và 2 dòng cây F3. Kết quả nhận
đợc là: với mồi RG64 (liên kết với tính kháng đạo ôn) có thể phân biệt đợc các
dòng kháng đạo ôn. Đã xác định một số dòng cây lai F3 và 4 dòng cây từ hạt phấn
mang chỉ thị kháng đạo ôn.
- Trong số các mồi khác, có mồi G243 (liên kết với gel mềm) và RZ284 (liên kết với
độ dài hạt) cũng có thể cho thấy sự khác nhau giữa bố mẹ và con lai mang các tính
trạng tơng ứng.
đ. Trồng và theo dõi đặc điểm nông sinh học của 71 dòng thế hệ con lai và 61 dòng cây
từ bao phấn: Đã theo chiều cao cây, số nhánh, số hạt trên bông, hình thái hạt
(bảng 3, Phụ lục)
e. Thu hoạch các dòng lai và đơn bội kép từ bao phấn và chọn dòng: Đã chọn đợc 2
dòng cây F3, F5 và 2 dòng cây đơn bội kép từ nuôi cấy bao phấn mang đặc điểm
phân tử kháng đạo ôn và có chất lợng gạo khá (dựa vào độ dài hạt và phân tích sinh
hóa hạt nh hàm lợng amylose, độ bền gel, mùi thơm)
f. Đa khảo nghiệm Quốc gia một dòng (HPKW1) chất lợng cao

g. Công bố 2 bài báo và đào tạo 1 sinh viên.

8. Kế hoạch tiếp theo 2005 - 2006
+ Kiểm tra tính kháng đạo ôn trong nhà lới và trên đồng ruộng, theo dõi đánh giá các
đặc điểm nông học để chọn dòng u tú
+ Hoàn thiện qui trình đánh giá chất lợng hạt dựa vào chỉ thị phân tử và sinh hoá

3
+ Phân tích các chỉ tiêu sinh hoá liên quan đến chất lợng hạt (hàm lợng protein, hàm
lợng amylose, nhiệt độ hoá hồ, độ bền gel) của một số dòng chọn lọc
+ Chọn 2 dòng để khảo nghiệm vào cuối 2004 và 2 dòng vào 2005










































4
Phụ lục
1. Kết quả lai tạo:
Bảng1. Bảng các tổ hợp lai giữa các giống lúa kháng bệnh đạo ôn
và giống lúa chất lợng cao chọn lọc
TT Cặp lai

Mục tiêu chọn dòng
1 Moroberekan/KDML105 Lúa kháng đạo ôn, chất lợng cao
2 Moroberekan/WAB56-125 Lúa kháng đạo ôn,chất lợng cao
3 C101A51/KDML105 Lúa kháng đạo ôn, chất lợng cao
4 C71/KDML105 Lúa kháng đạo ôn , chất lợng cao
5 Tẻ tép/Q5 Lúa kháng đạo ôn năng suát cao
6 Q5/KDML105 Lúa năng suất cao, chất lợng tốt
7 KDML105/WAB56-125
Và ngợc lại
Lúa chất lợng cao
8 WAB56-125/Tẻtép Lúa kháng đạo ôn chất lợng cao
9 Khang dân/Moroberekan Lúa kháng đạo ôn chất lợng khá
10 Khang dân/Tẻtép Lúa kháng đạo ôn chất lợng khá
11 BR12/WAB56-125 Lúa kháng đạo ôn, chất lợng khá
12 BR12/Tám thơm Lúa kháng bệnh đạo ôn, chất lợng tốt
13 BR12/KDML105 Lúa kháng bệnh đạo ôn, chất lợng tốt
14 C71/WAB56-125 Lúa kháng bệnh đạo ôn, chất lợng tốt

2. Kết quả nuôi cấy bao phấn:
Nhận đợc 1079 dòng mô sẹo và 387 dòng cây tái sinh ( trong đó có 93 dòng cây
xanh) từ mô sẹo nuôi cấy bao phấn của các tổ hợp lai (bảng2).

Bảng 2. Kết quả tạo mô sẹo và tái sinh cây từ nuôi cấy bao phấn

Tái sinh cây Cặp
lai
Số bao
phân
nuôi cấy
Số mô sẹo hình
thành và cấy
chuyển
Số mô tái sinh
cây
Số mô tạo cây
xanh
Số mô tạo cây
bạch tạng
Số mô % Số mô % Số mô % Số mô %
1 750 38 5,1 12 31,5 2 16,6 10 83,4
2 720 130 18 94 72,3 32 34 62 66
3 870 285 32,7 44 15,4 15 34 29 66
4 1050 140 13,3 16 14,4 2 12,5 14 87,5
5 1870 131 7 59 45 3 5 56 95
6 2160 248 11 111 44 29 20 82 74
7 735 51 7 22 43 2 9 20 81
8 660 26 4 20 76,9 6 30 14 70
9 300 12 4 3 25 0 0 3 100
10 930 28 3 6 21,4 2 33 4 67
Tổng 1079 387 93

Chú thích bảng 1: thứ tự các cặp lai nh sau
1. Moroberekan/ KDM L 105 2. Moroberekan/ WAB 56- 125
3. BR12/ WAB56-125 4. C71/ KDML105
5. Kháng dân/Moroberekan 6. WAB56-125/Tẻ tép
7. WAB56-125/KDML105 8. Q5/KDML105
9. C101A51/KDML105 10. Tẻ tép

5

Hình 1. Mô sẹo tạo từ hạt phấn cặp lai Moroberekan và WAB56-125
trên môi trờng thạch

Hình2. Cây lúa tái sinh từ mô sẹo nuôi cấy bao phấn cây F1
cặp lai Moroberekan và WAB56-125


3. Kết quả sử dụng các chỉ thị phân tử để phát hiện sớm các dòng lúa kháng
bệnh đạo ôn chất lợng cao
Phản ứng PCR với cặp mồi RG64 431, RG64 432 và các mồi liên quan đến chất
lợng gạo (Wxa, RZ284, RG28, G243A) đã bớc đầu chọn đợc 5 dòng lúa đơn bội
kép (HPMD4, HPMD6 và HPMD9, HPMD13, HPMD20) mang đoạn ADN liên kết với
gen kháng bệnh đạo ôn pi-2(t) và 2 dòng cây F3 (F3C1 và F3C10) vừa có tính kháng
bệnh đạo ôn vừa có các đặc điểm chất lợng gạo tốt từ tổ hợp lai Moroberekan và
WAB56-125




6

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18






1400 bp
1200 bp (Băng liên kết với gen kháng đạo ôn Pi-2(t)
1000 bp




Hình 3. Điện di đồ sản phẩm PCR của ADN một số dòng lúa từ nuoi cấy bao phấn
cây F1 cặp lai Moroberekan và WAB56-125 với cặp mồi RG64 431và RG64 432

M 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10







500bp

Băng 390bp liên
Kết với tính thơm
Của gạo


Hình 4. Điện di đồ sản phẩm PCR của ADN một số cây lúa lai với mồi RG28
Chú thích hình 4:
1. ADNcây WAB56125; 2. KDMKL105(cây lúa thơm đã đợc xác định)
3.Tẻ tép; 4 9 Các cây lai F5 của cặp lai WAB56.125 và KDML105(WK)

M 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10







500bp




Hình 5. Sản phẩm PCR của ADN các cây lúa lai chọn lọc với mồi RZ284 (Mồi liên kết độ dài hạt.

7
Chú thích hình 5: 1 5 các cây lúa lai F5 của cặp lai WK
7. cây F1 của cặp lai WK; 8. Cây KDML105( Cây bố của cặp laiWK
9. Cây WAB56.125 (Cây mẹ của cặp lai WK
10. Cây tẻ tép

4. Kết quả theo dỏi đặc điểm nông sinh học một số dòng lúa chọn lọc.
Chúng tôi đã tiến hành các thí nghiệm đồng ruộng để kiểm tra một số chỉ tiêu
nông sinh học ở một số dòng lúa nhận đợc từ nuôi cấy bao phấn. Kết quả cho thấy,
nhìn chung các chỉ tiêu nông học ở 5 dòng lúa nhận đợc từ nuôi cấy bao phấn có hệ số
biến đổi di truyền không đáng kể, đặc biệt các cây trong cùng một dòng là tơng đối
đồng đều (bảng 2).

Bảng 3. Mức độ biến động một số chỉ tiêu hình thái ở các dòng lúa
nuôi cấy bao phấn

Chỉ tiêu

Tên dòng
Cao cây Dài bông Số hạt
chắc/bông
Dài hạt Rộng hạt


X Cv
%
X Cv
%
X Cv
%
X Cv
%
X Cv
%

HPMD4
95,8
1,9
3,2 28,7
1,7
6,0 164,5
26,6
14 7,58
0,31
2,5 2,7
0,07
2,0

HPMD6
102,2
2,2
4,0 22,7
2,2
7,0 185,7
27,4
14 6,7
0,10
2,5 2,38
0,08
2,5

HPMD9
100,3
2,8
3,5
27,3
2,1
7,2 273,3
24,6
17 6,92
0,18
1,5 2,5
0,07
2,0

HPMD13
90,5
3,3
4,0 20,1
1,9
7,0 144,4
22,6
15 7,2
0,13
1,5 2,54
0,08
2,0

HPMD20
96,7
3,5
3,8 22,5
1,8
6,8 145,4
21,2
13 6,8
0,2
2,0 2,8

2.0

Moroberekan
97,3
3,0
3,2 23,9
1,6
6,5 151,5
22,2
14 6,86
0,21
2,0 2,84
0,05
2,0


WAB56-125
98,3
4,5
3,5 20,4
2,0
8,5 142,9
16,3
11 7,25
0,23
2,0 2,82
0,08
2,0
Chú thích bảng2: X là giá trị trung bình mẫu
Cv là hệ số biến đổi di truyền

5. Kết quả phân tích sinh hoá một số dòng lúa từ nuôi cấy bao phấn
Bốn dòng lúa từ nuôi cấy bao phấn có triển vọng đã đợc lấy mẫu hạt phân tích
các chỉ tiêu sinh hoá liên quan đến chất lợng nấu nớng và ăn uống của gạo nh:
hàm lợng protein, hàm lợng Amylose, nhiệt độ hoá hồ và độ bền thể gel, Kết quả
cho thấy (bảng 3) các dòng lúa chọn lọc từ nuôi cấy bao phấn cây lai F1 tổ hợp lai
(Morobekan/WAB 56-125) là những dòng lúa có chất lợng tốt. Đặc biệt có dòng
lúa HPMD9 có hàm lợng Amylose 21,5, nhiệt độ hoá hồ TB và độ dài gel mềm
nên cơm gạo từ dòng này sẽ rất mềm dẻo, không bị cứng khi để nguội và dòng
HPMD4 có độ dài gel loại TB, hàm lợng Amylose thấp và nhiệt độ hoá hồ trung
bình nên cũng cho cơm mềm dẻo.


8
Bảng 4. kết quả phân tích sinh hoá một số dòng/giống lúa thí nghiệm

Protein Amylose Nhiệt độ hoá hồ Chiều dài Gel C (mm)Tên
dòng/giống
lúa

% CK % CK Phân
loại
Nhiệt độ
hoá hồ
(0
o
C)
Phân
loại
Sau
30

Sau
60

Phân
loại
WAB56-125 11,93 15,25 Thấp 70-74 TB 69 71 Mềm
Moroberekan 10,18 20,52 TB <70 Thấp 54 58 TB
HPMD4 11,98 18,54 Thấp 70-74 TB 40 42 TB
HPMD6 8,69 20,07 TB 70-74 TB 42 45 TB C
HPMD9 9,33 21,65 TB 70-74 TB 75 78 Mềm
HPMD13 10,12 20,60 TB 74-75 TBC 39 43 TB C

6. Kết quả chọn dòng lúa kháng bệnh đạo ôn chất lợng cao
Dựa vào các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đã định hớng chọn một số
dòng lúa u tú từ các tổ hợp lai để phát triển thành giống

Bảng 6. Một số dòng lai và dòng đơn bội kép chọn lọc cho các nghiên cứu khải nghiệm

TT Cặp lai

Số dòng chọn đến 2003 Mục tiêu chọn dòng Chú thích


Dòng ĐBK Dòng cây lai

1 Moroberekan/KD
ML105
1 dòng
(HPMK1)
2 dòng F3
(MK1,MK2)
Lúa kháng đạo ôn,
chất lợng cao

2 Moroberekan/WA
B56-125
Và ngợc lại
2dòng
HPMD4,HPMD9
2 dòng
(MWC1,
MWC10)

Lúa kháng đạo
ôn,chất lợng cao

3 C101A51/KDML
105
0 1 dòng F2

Lúa kháng đạo ôn,
chất lợng cao
Cây kém
0 phát triển
4 C71/KDML105 0 1 dòng F5
(CK1)
Lúa kháng đạo ôn ,
chất lợng cao

5 Tẻ tép/Q5
và ngợc lại
0 1 dòng F2 Lúa kháng đạo ôn
năng suát cao
Kém không
phát triển
6 Q5/KDML105 0 1 dòng F2 Lúa năng suất cao,
chất lợng tốt
Kém không
phát triển
7 KDML105/WAB
56-125
Và ngợc lại
1 dòng
(HPKW1)
2 dòng F5
(KW1, KW2)
Lúa chất lợng cao
8 WAB56-125/
Tẻtép

2 dòng (HPWT1,
HPWT2)
1 dòng F3
(WT1)
Lúa kháng đạo ôn
chất lợng cao

9 Khangdân/
Moroberekan

1 dòng
(HPKDM1)
2 dòng F3
(KDM1,
KDM2)
Lúa kháng đạo ôn
chất lợng khá

10 Khangdân/Tẻtép

2 dòng 1 dòng F3
( KT1)
Lúa kháng đạo ôn
chất lợng khá


9
11 BR12/
WAB56-125

1 dòng
Kém phát triển
1 dòng F5
(BW12)
Lúa kháng đạo ôn,
chất lợng khá

12 BR12/Tám thơm 2 dòng 1 dòng Lúa kháng bệnh đạo
ôn, chất lợng cao
Kém không
phát triển
13 BR12/KDML105 1 dòng 1 dòng

Kém không
phát triển
14 C71/WAB56-125 2 dòng 1 dòng

Kém không
phát triển
Dự kiến : Cuối năm 2004 sẽ đa khảo nghiệm 2 dòng thuần ( HPKW1, BW12)
Cuối năm 2005 đa khảo nghiệm 2 dòng HPMK1, KDM1, các dòng còn
lại sẽ đa khảo nghiệm vào các năm tiếp theo.

Một số hình ảnh các dòng lúa chọn lọc phát triển ngoài đồng ruộng



Hình 6. Dòng lúa đơn bội kép HPMK1 nhận đợc từ nuôi cấy bao phấn cây F1
cặp lai Moroberekan và KDML105 trồng trong nhà lới vụ đông 2003

Hình 7. Cây lúa đơn bội kép HPMD4 nhận đợc từ nuôi cấy bao phấn cây
F1 cặp lai Morroberekan và WAB56-12


10


Hình 8. Dòng lúa đơn bội kép HPKW1 nhận đợc từ tổ hợp lai KDML105 và WAB56-125




Hình 9. Dòng lúa lai F3 KDM1 nhận từ cặp lai Moroberekan và Khang dân trồng vụ đông 2003


11


Hình 10.Dòng lúa F6 BW12 trồng vụ xuân 2004



Hình11. Dòng lúa F4 KDM1 từ cặp lai Khang dân và Moroberekan
trồng vụ xuân 2004

12


Hình 12. Dòng lúa F4 KDM2 từ cặp lai Khang dân và Moroberekan
trồng vụ xuân 2004




Hình 13. Dòng lúa HPMK1từ căp lai Morobereka và KDML105
trồng vụ xuân 2004


13