Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

các giải pháp của việt nam đối với thu hút fdi của nhật bản


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "các giải pháp của việt nam đối với thu hút fdi của nhật bản": http://123doc.vn/document/1055192-cac-giai-phap-cua-viet-nam-doi-voi-thu-hut-fdi-cua-nhat-ban.htm


- Thời gian hoạt động không quá 50 năm trong thời gian đặc biệt đợc kéo dài
không quá 20 năm.
3. Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài
Theo điều 26 nghị định 12/ CP quy định: " Doanh nghiệp 100% vốn đầu
t nớc ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu t nớc ngoài thành lập tại
Việt Nam tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh ".
Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài đợc thành lập theo hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn có t cách pháp nhân theo pháp luật của Việt Nam. Thời hạn
không quá 50 năm kẻ từ ngày đợc cấp giấy phép.
Ngoài 3 hình thức còn có các hình thức sau:
Hợp đồng xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao ( BOT )
Theo điều 12 khoản 2 luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam: " Hợp đồng xây dựng
- Kinh doanh - Chuỷen giao là văn bản kỳ giữa cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam và nhà đầu t nớc ngoài để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu
hạ tầng trong tời hạn nhất định, thời hạn nhà đầu t nớc ngoài chuyển giao
không bồi hoàn công trình đó cho nhà nớc Việt Nam ".
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - Kinh doanh (BOT ) là văn bản kỳ kết
giữa cơ quan nhà nớc có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu t nớc ngoài
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong nhà đầu t nớc
ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nớc Việt Nam. Chính phủ Việt
Nam dành cho nhà đầu t Kinh doanh trong một thời hạn nhất định để thu
hồi vốn và lợi nhuận hợp lý.
Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao ( BT )
Theo khoản 13 điều 2 luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam: " Hợp đồng xây dựng
chuyển giao là hợp đồng ký kết giữ cơ quan nhà nớc có thẩm quyền Việt Nam
và nhà đầu t nớc ngoài để xây dựng kết cấu hạ tầng. Sau khi xây xong nhà đầu
t nớc ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nớc Việt Nam. Chính phủ Việt
5
Nam tạo điều kiện cho nhà đầu t nớc ngoài thực hiện các dự án khác để thu hồi
vốn và lợi nhuận hợp lý ".
III. Vai trò và nhân tố tác động đến đầu t trực tiếp nớc ngoài
1. Vai trò của FDI
Hơn 10 năm kể từ khi ban hành luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, đầu t
trực tiếp nớc ngoài là một bộ phận không thể thiếu đợc có tốc độ phát triển
nhanh nhất trong các hoạt động kinh tế đối ngọai của nớc ta đóng góp tích cực
và ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc, là một nhân tố
góp phần vào thành công của công việc đổi mới kinh tế.
Hoạt động FDI mang phạm vi quốc tế. Nó mang lại lợi ích cho cả 2 bên
và đồng vốn bỏ ra rất hiệu quả.
Đặc biệt là ở các nớc đang phát triển nó giải quyết đợc các vấn đề:
- FDI tăng cờng vốn đầu t bù đắp sự thiếu hụt về ngoại tệ góp phần tăng khả
năng cạnh tranh và tăng xuất khẩu, bù đắp cán cân thanh toán.
- FDI góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho ngời lao động tạo điều
kiện tích luỹ trong nớc.
- FDI sẽ chuyển giao công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn, trình
độ quản lý tiên tiến cho nớc nhận đầu t. Xét về lâu dài điều này sẽ tăng
năng xuất của các yếu tố sản xuất, thúc đẩy các nghành nghề mới đòi hỏi
hàm lợng công nghệ cao nh điện tử tin học Chính vì vậy nó có tác dụng
lớn đối với công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tăng trởng nhanh
của các nớc đầu t. Từ sự chuyển giao này cũng giúp cho các nớc chủ nhà có
đợc kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm trong quản lý, đội ngũ cán bộ đợc bôi d-
ỡng đào tạo nhiều mặt.
- FDI giúp các nớc nhận đầu t trực tiếp tiếp cận đợc với thị trờng thế giới, mở
rộng quan hệ kinh tế quốc tế trong xu hớng khu vực hoá toàn cầu hoá.
2. Những nhân tố tác động đến FDI
6
2.1 Đối với quốc gia đi đầu t
Thứ nhất, để mở rộng thị trờng tiêu thụ, ngay tại nớc chủ đầu t, Nhà đầu
t có thể dữ một vị thế nhất định trên thị trờng. Cũng có thể có loại hàng hoá
hặc dịch vụ mà nhà đầu t đó cung cấp đang bị cạnh tranh gay gắt tại thị trờng
trong nớc. Việc tìm kiếm những thị trờng ngoài nớc với những nhu cầu lớn về
loại hàng hoá hoặc dịch vụ của nhà đầu t sẽ đáp ứng đợc việc mở rộng sản xuất
và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ. Ngoài ra, các chủ đầu t có lợi thế độc quyền nhờ
sở hữu một nguồn lực hay kỹ thuật mà các đối thủ cạnh tranh của họ không có
đợc ở thị trờng ở tại. Điều này sẽ mang lại cho nhà đầu t nhiều lợi nhuận hơn.
Thứ hai, là xâm nhập thị trờng có tỷ xuất cao hơn. Theo lý thuyết về tỷ
xuất lợi nhuận giảm dần, nếu cứ tiếp tục đầu t vào một dự án nào đó ở một
quốc gia nào đó, tỷ xuất lợi nhuận chỉ tăng đến một mức nhất đỉnh rồi sẽ giảm
dần. Vì vậy. Các nhà đầu t luôn chú trọng tìm kiếm những thị trờng đầu t mới
mẻ đều đạt đợc tỷ xuất lợi nhuận cao hơn. Động thời, ở các nớc công nghiệp
phát triển thờng có hiện tợng thừa " tơng đối " vốn nên việc đầu t ra nớc ngoài
giúp các nhà t bản nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Thứ ba, sử dụng các yếu tố sản xuất ở nớc nhận đầu t. Do sự phát triển
không đều về trình độ của lực lợng sản xuất, ở các quốc gia khác nhau chi phí
sản xuất là không giống nhau. Giữa các quốc gia có sự chânh lệch về giá cả
hàng hoá, sc lao động, tài nguyên, khoa học kỹ thuật, vị trí địa lý các nhà
đầu t thờng lợi dụng sự chênh lệch này để thiết lập hoạt động sản xuất ở nơi có
chi phí sản xuất thấp nhằm hạ giá thành sản phẩm. Đầu t ra nớc ngoài có thể
giúp các nhà đầu t hạ thấp chi phí sản xuất do khai thác đợc nguồn lao động
dồi dào với mức giá giẻ ở nớc sở tại. Đồng thời khi đầu t sản xuất ở nớc sở tại,
nhà đầu t có thể sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành sản xuất của
mình ở chính nớc này. Việc này giảm bớt đợc chi phí vận tải cho việc nhập
nguyên nhiên liệu, nhất là khi các nhà đầu t muốn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng
ở nớc ngoài.
7
Đối với việc thiết lập nhà máy sản xuất ở các nớc t bản phát triển các nhà
đầu t có thể học tập công nghệ tiên tiến của các nớc đó và những công nghệ
này có thể sẽ đợc áp dụng ở nhiều nhà máy hay chi nhánh của các công ty nớc
khác. những công nghệ hiện đại sẽ góp phần nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ
thấp chi phí sản xuất để đa đến mục dích cuối cùng của nhà đầu t là lợi nhuận
cao.
Cuối cùng đó là tránh đợc các hàng rào thơng mại. Xu thế bảo hộ mậu
dịch trên thế giới ngày càng gia tăng , đặc biệt là ở các nớc công nghiệp phát
triển. Đầu t ra nớc ngoài là biện pháp hữu hựu để xâm nhập chiếm lĩnh thị tr-
ờng và tránh đợc các hàng rào bảo hộ mậu dịch giúp các chủ đầu t giảm bớt
chi phí sản xuất nhằm tránh đợc các trờng ngại cho việc tiêu thụ hàng hoá hay
dịch vụ của mình nh tránh đợc thuế nhập khẩu, hạn nghạch.
2.2 Đối với quốc gia nhận đầu t trực tiếp nớc ngoài
Đầu t trực tiếp nớc ngoài không những đáp ứng đợc nhu cầu và lợi íchcủa
nớc chủ đầu t mà còn giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của
nớc tiếp nhận đầu t.
FDI cung cấp cho nớc chủ nhà một nguồn vốn lớn để bù đắp sự thiếu hụt
vốn trong nớc. Hầu hết các nớc, nhất là các nớc đang phát triển đều có nhu cầu
vốn để thực hiện công hoá và nâng cao tốc độ phát triển kinh tế. Nhiều nớc đã
thu hút đợc một lopựng vốn nớc ngoìa lớn từ đầu t trực tiếp để giải quyết khó
khăn về vốn và do đó đã thực hiện tốt quá trình công nghiệp hoá đất nớc.
Cùng với việc cung cấp vốn là kỹ thuật. Qua thực hiện đầu t trực tiếp nớc
ngoài, các chủ đầu t đã chuyển giao công nghệ từ các chi nhánh, nhà máy của
họ ở các nớc khác sang nớc chủ nhà. Mặc dù sự chuyển giao này có nhiều hạn
chế do những chủ quan và khách quan chi phối sang điều không thể phủ nhận
chính là nhờ có sự chuyển giao đó mà các nớc đang phát triển có điều kiện tốt
hơn để khai thác các thế mạnh sẵn có về tài nguyên thiên nhiên tăng sản xuất,
8
sản lợng và khả năng cạnh tranh với các nớc khác trên thị trờng thế giới nhằm
thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Với việc thiết lập các cơ sở sản xuất ở các nớc sở tại , chủ đầu t cần sử
dụng lao động ở chính nơi ấy.Sự xuất hiện hàng loạt các nhà máy mới, Nông
trại mới đã thu hút nhiều lao động vào làm việc. Hơn thế nữa, các nhà đầu t n-
ớc ngoài còn phải đào tạo những ngời lao động thành những công nhân lành
nghề cho doanh nghiệp của mình điều này góp phần tạo thêm công ăn việc làm
và nâng cao chất lợng lao động cho nhân dân nớc sở tại, do đó giảm tỉ lệ thất
nghiệp ở những nớc này.
Do tác động của vốn và khoa học công nghệ đầu t trực tiếp sẽ tác động
mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm cả cơ cấu nghành, cơ cấu
kỹ thuật, cơ cấu sản phẩm và lao động. Bên cạnh đó, thông qua trực tiếp nớc
ngoài nớc chủ nhà sẽ có thêm điều kiện để mở rộng các mối quan hệ kinh tế.
Các nớc nhận đầu t sẽ có thêm sản phẩm để không những phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng trong nớc mà cón để xuất khẩu sang các nớc khác và mở rộng quan
hệ thơng mại quốc tế. Ngoài ra, việc đầu t nớc ngoài vào nớc sở tại sẽ thúc đẩy
sự cạnh tranh về đầu t của các nớc ở ngay nớc sở tại làm cho môi trờng đầu t
ngày càng phát triển.
Hạn chế của FDI đối với nơc nhận đầu t.
FDI không khi nào và bất cứ đâu cũng phát huy vai trò tích cực đối với
đời sống kinh tế xã hội của nớc chủ nhà. Nó chỉ phát huy tốt trong môi trờng
kinh tế, xã hội ổn định và đặc biệt khi nhà nớc biết sử dụng và phát huy vai trò
quản lý của mình. FDI bao hàm trong nó những hạn chế đối với nớc nhận đầu
t nh.
- Nguồn vốn đầu t trực tiếp do chủ đầu t quản lý trực tiếp và sử dụng theo
mục đích của mình.
- Những công nghệ chuyển giao sang nớc đang phát triển thờng không phải
là công nghệ tiên tiến nhất mà là những công nghệ không còn đợc sử dụng
9
ở các nớc t bản phát triển vì đã qua thời hạn sử dụng và không còn đáp ứng
đợc nhu cầu mới về chất lợng và gây ô nhiễm môi trờng. Trên thực tế đã
diễn ra nhiều hiện tợng chuyển giao công nghệ nhỏ giọt, từng phần và mất
rất nhiều thời gian.
- Trong nhiều trờng hợp, FDI còn gây sự rối ren mất ổn định cho nền kinh tế
nớc chủ nhà. nhiều nhà đầu t nớc ngoài đã lợi dụng sơ hở trong luật pháp n-
ớc sở tại để trốn thuế, xâm phạm lợi ích của nớc chủ nhà.
- Mặc dù vậy, những hạn chế FDI không thể phủ nhận đợc vai trò tích cực
của nó đối với cả nớc chủ nhà và nớc đầu t. Vấn đề là ở chỗ các nớc tiếp
nhận đầu t phải kiểm soát đầu t trực tiếp nớc ngoài một cách hữu hiện để
phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó.
10
Chơng II: Thực trạng thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
I. Vài nét về quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
Ngày 21/ 9/ 1973. Việt Nam và Nhật Bản chính thực thiết lập quan hệ
ngoại giao đánh dấu sự tiếp nối các quan hệ giao lu vốn có đầu t lâu đời của
hai nớc. Từ những thế kỷ trớc, nhiều thơng gia Nhật Bản đã đến buôn bán và
kinh doanh ở Việt Nam. Phố Hiến ( Miền Bắc), Hội An ( Miền Trung ) là
những địa danh nghi đậm dấu ấn của các mối quan hệ giao lu đó.
Sau khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất, mối quan hệ giữa hai nớc có cơ
hội phát triển toàn diện cả về ngoại giao, chính trị, kinh tế và các lĩnh vực kinh
tế khác. tronh giai đoạn này mối quan hệ kinh tế chủ yếu là trao đổi thơng mại
và viện trợ.
Về thơng mại, Năm 1976 Nhật là bạn hàng lớn thứ hai của Việt Nam sau
Liên Xô, Việt Nam đã xuất khẩu sang Nhật khối lợng hàng hoá trị giá 44,5
triệu USD, chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực
2. Việt Nam nhập khẩu một lợng bằng 184,5 triệu, 127 triệu và 268 triệu USD.
Thời kỳ 1979 - 1982, do vấn đề campuchia và bầu không khí chiến tranh
không thuận lợi ở đông nam á, thơng mại giữa hai nớc giảm từ 267,5 triệu
USD năm 1978 còn 128 triệu USD năm 1982. Trong thời kỳ này, Việt Nam
nhập khẩu từ Nhật Bản lớn hơn xuất khẩu trở lại. Các mặt hàng nhập khẩu l-
ơng thực, nhiên liệu, khoánh sản, sản phẩm công nghiệp nhẹ, sản phẩm hoá
học và kim loại. Việt Nam xuất sang Nhật lơng thực, thực phẩm, nguyên liệu
( gỗ xẻ, cao xu ), nhiên liệu khoáng sản, hàng hoá đã chế biến ( vải ). Đến
1986, thơng mại giữa Việt nam và Nhật Bản phát triển trở lại và tăng lên
272100 triệu USD. Đặc biệt là khi liên xô tan rã, Nhật Bản trở thành bạn hàng
lớn nhất của Việt Nam. Năm 1990 tổng kim ngạch buôn bán hai chiều trị giá
809 triệu USD, các năm liên tục 1991 - 871 triệu, năm 1992 ( - 1321 triệu),
năm 1993 ( - 1707 triệu ), năm 1994 ( - gần 2 tỷ ), năm 1995 ( - đạt 2,6 tỷ tăng
11
355 và năm 1996 đã tăng 38,5% so với năm 1995. Thời gian này, hàng hoá
Việt Nam xuất nguyên vật liệu thô, lơng thực, thực phẩm, khoáng sản và dầu
thô là mặt hàng Nhật Bản mua chủ yếu. Phía Nhật xuất sang Việt Nam phân
bón, ô tô, xe máy, máy dệt và nguyên liệu dệt, máy xây dựng.
Từ 1986 trở lại đây, Việt Nam là nớc xuất siêu sang Nhật với mức thặng
d khá cao đã đóng góp tích cực vào quá trình cân đối cán cân thơng mại nói
chung của Việt Nam và thế giới. Đây cũng là điều khẳng định vai trò quan
trọng của thị trờng Nhật Bản đối với quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam
và ngợc lại.
Về viện trợ, mối quan hệ này đã có trớc năm 1975. Trong thời gian đó,
Nhật Bản đã chính thức viện trợ theo chơng trình cho Việt Nam. Sau khi Việt
Nam thống nhất, tổng số viện tự của Nhật Bản trong 2 năm 1975 - 1976 là 15
triệu USD. Dể tăng cờng thúc đẩy buôn bán trong hai năm tiếp theo, Nhật Bản
đã quyết định cho Việt Nam vay tiền với lãi suất thấp thông qua các cơ quan
hợp tác quốc tế của Nhật Bản hứa cho Việt Nam một khoản viện trợ không
hoàn lại là 16 tỷ yên trong 4 năm và các khoản cho vay khoảng 20 tỷ yên. Việc
Nhật Bản quyết định từ hoãn kế hoạch tài trợ 14 tỷ yên ( trong đó có 4 tỷ yên
viện trợ không hoàn lại và cho vay 10 tỷ yên ) vào cuối năm 1978 báo hiệu cho
một thời kỳ xấu đi trong quan hệ giữa hai nớc. Thời kỳ 1972 - 1992 và thời kỳ
Nhật Bản thực hiện chủ trơng " đông cừng " tài trợ kinh tế nhng không đình
chỉ các cuộc tiếp xúc ngọi giao và viện trợ nhân đạo đợc thể hiện.
Nhật Bản tiếp tục viện trợ cho Việt Nam một khoản trị giá 130000 USD
dới hình thức viện trợ nhân đạo sử dụng mua hàng của Nhật Bản nh xe tải, ô tô
điện, máy ủi và các loại hàng hoá khác cần thiết cho việc xây dựng lại nền
kinh tế Việt Nam và cho phép một cách không chính thức các công ty Nhật
Bản buôn bán với Việt Nam .
Từ đầu những năm 1990 cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, nền kinh tế Việt
Nam từng bớc thoát khỏi khủng hoảng và quan hệ của Việt Nam với nhiều
12
quốc giai phơng tây và các tổ trức quốc tế đợc bình thờng hoá. Vào năm 1992,
chính phủ Nhật Bản quyết định nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam với tổng số
281,2 triệu USD, đa nớc này tự vị trí "không số " lên hàng số một trong các
quốc gia DAC tài trợ cho Việt Nam. Theo thống kê chính thức của chính phủ
Nhật Bản, thời kỳ 1992 - 1994 tổng tài trợ ODA của nớc này cho Việt Nam
lên tới 372 triệ USD trong đó tài trợ không chính thức là 116,5 triệu USD.
trong những năm gần đây, Việt Nam nhận đợc một khối lợng lớn tài trợ ODA
của Nhật Bản và hiện nay Nhật Bản trở thành nhà tài trợ số 1 cho Việt Nam.
Nh vậy, thơng mại và viện trợ là hai lĩnh vực đi tiên phong trong mối
quan hệ kinh tế và là tiền đề để phát triển đầu t trực tiếp của Nhật Bản vào Việt
Nam.
II. Những yếu tố tri phối đầu t trực tiếp của Nhật Bản vào Việt
Nam
Công cuộc đổi mới của Việt Nam diễn ra đợc vì năm thì trật tự thế giới
thay đổi. Cùng với những khó khăn trong nớc, Việt Nam phải đơng đầu với
những khó khăn do sự tan giã của Liên Xô và chế độ XHCN ở Đông Âu trong
đó Liên Xô là nớc cung cấp viện trợ lớn nhất và cũng là bạn hàng của Việt
Nam trong nhiều năm. Liên Xô tan rã kèm theo đó là sự sụp đổ của thế giới 2
cực, chiến tranh lạnh không còn nữa, thay vào đó là xu thế thế giới đa cực hình
thành, quan hệ quốc tế chuyển từ đối kháng quân sự sang phát triển mối quan
hệ kinh tế, đã có rất nhiều sự hợp tác giữa các quốc gia, khu vực, châu lục đợc
hình thành nh liên minh châu âu. Hiệp định thơng mại tự do Bắc Mỹ ( NAFTA
) hợp tác kinh tế châu á Thái Bình Dơng (APEC ). Cùng với sự hợp tác kinh tế,
xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá đang chi phối tát cả các hoạt dộng của đời
sống con ngời.
1. Phía Việt Nam
Trải qua thời gian dài trong chiến tranh, sau chiến thắng 1975. Việt Nam
bắt tay vào xây dựng đất nớc. Tại đại hội VI đảng công sản Việt Nam họp 12/
13
1986 đã đề ra chính sách đổi mới trong đó chỉ rõ " phải kiên quyết chuyển từ
nền kinh tế tập chung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần ", vận dụng theo cơ chế thị trờng có sự quản ly vĩ mô của nhà nớc, theo
định hớng XHCN.
Về kinh tế, đề ra các chính sách và đổi mới tỏ chức quản lý kninh tế với
nội dung chủ yếu: điều chỉnh cơ cấu kinh tế, khai thác mọi nguồn vốn đầu t và
đổi mớicơ cấu quản lý, phát huy vai trò động lực của khoa học kỹ thuật, đẩy
mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại .
Việc chuyển sang kinh tế thị trờng làm kích thích sản xuất hàng hoá, tăng
khả năng cạnh tranh vốn và kỹ thuật hiện đại, đòi hỏi thị trờng tiêu thụ rộng
lớn. Nền kinh tế thị trờng cũng tạo cho các doanh nghiệp trong và ngoài nớc
thấy một trị trờng mở, đa dạng, chứa đựng nhiều lợi nhuận. Đây là nhân tố
quan trọng dể thu hút vốn, kỹ thuật trong và ngoài nớc.
Về chính trị, thực hiện đang cầm quyền duy nhất và đi theo đờng lố dẫn
dắt của đảng, mở rộng quan hệ với các nớ không phân biệt chính trị. đây là bớc
thay đổi cơ bản của chính phủ Việt Nam. Trong khi các nớc cùng khu vực đã
có bớc nhảy vọt về kinh tế thì Việt Nam vẫn trong tình trạmg chậm phát triển
do quan hệ dựa vào chínhtrị là chính. Vì vậy, để có thể teo kịp các quốc gia
này, Việt Nam cần phải mở rộng quan hệ hơn nữa, không chỉ bố buộc trong
phạm vi khu vực mà trên toàn thế giới. Tại đại hội lần thứ VII, tháng 6/ 1991
Đản đề ra khẩu hệu "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc trong cộng
đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển ". Đảng đã thay đổi
chính sách u tiên " quan hệ quốc tế XHCN ", coi trọng với các nớc XHCN ,mà
trung tâm là Liên Xô trớc đây vào thực hiện chính sách ngoại giao đa phơng
dựa vào " quan hệ quốc tế nói chung " không phân biệt chế độ chính trị xã hội
khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình. quan hệ hợp tác
quốc tế không chỉ mở rộngquan hệ kinh tế quốc tế, ổn định,có hoà bình ổn
định thì kinh tế mới phát triển.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét