Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Giờ học toàn cầu



Tiết học
lớn nhất thế giới

Từ ngày 21- 27 tháng 4 năm 2008 là Tuần lễ
toàn cầu hành động vì giáo dục do tổ chức
UNESCO, UNICEF và các tổ chức phi chính
phủ khác phối hợp thực hiện từ năm 1999 với
mục tiêu để cho trẻ em trên toàn thế giới đều
được đến trường. Việt
Nam tham gia chương trình này từ năm 2001
và mỗi năm có một chủ đề khác nhau VD-
năm 2005 là chủ đề Cho bạn đến trường,
năm 2006 là chủ đề Trẻ em cần có giáo
viên và đến năm nay là Tiết học lớn nhất
thế giới

* Mục tiêu
- Mọi người thấy được tầm quan trọng của một
nền giáo dục chất lượng.
- Cung cấp số liệu về số người không được đến
trường tại địa phương và trên thế giới.
- Tác hại của mù chữ đối với cuộc sống của
con người.
- Cung cấp cho cán bộ lãnh đạo những
thông tin về tầm quan trọng của giáo dục chất lư
ợng, hiện trạng chất lượng giáo dục và đề xuất
những việc làm thiết thực nhằm cải thiện tình
hình.

Kỷ lục thế giới Ghinet là
gì?
VD:
- Người giữ kỷ lục thế giới về nhảy xa
nhất là Mai-cơ-pô-gheo với khoảng cách là
8,95m.
Hay kỷ lục thế giới dành cho con vật chạy
nhanh nhất trên cạn thuộc về loài báo Gêpa,
tốc độ nhanh nhất của nó lên tới 100m trong
3 giây.

Hôm nay chúng ta đang tham gia lập kỷ
lục về Tiết học lớn nhất thế giới, chúng ta đang
cùng với hàng triệu triệu học sinh và rất nhiều
các nhà lãnh đạo trên khắp thế giới tham gia
vào Tiết học lớn nhất thế giới.
Kỷ lục thế giới này do Chiến dịch Toàn cầu
về Giáo dục tổ chức. Chiến dịch Toàn cầu về
Giáo dục là một phong trào hoạt động trên toàn
thế giới của các giáo viên, các tổ chức phi chính
phủ , nhằm khuyến cáo chính phủ các nước thực
hiện cam kết xoá nạn mù chữ và đảm bảo mọi
trẻ em trên thế giới đều được đến trường.

Điều gì quyết định việc một nền giáo
dục chất lượng hay không chất lượng?
- Số học sinh trong một lớp.
- Giáo viên có trình độ chuẩn và quan tâm
đến học sinh.
- Tài liệu và sách giáo khoa đủ.
- Học sinh được học chương trình phù
hợp. - Môi
trường đảm bảo an toàn.

-
ở Zăm- bia, trung bình một lớp học có tới
64 -> 100 học sinh với 1 giáo viên trên một lớp.
- ở Li-bê-ria, khoảng 27 học sinh
tiểu học thì mới có một quyển sách giáo khoa.

Hiện nay có rất nhiều trẻ em không đư
ợc đi học: Tính trên toàn thế giới có khoảng
70 triệu trẻ em không được đến trường, hơn
750 triệu người lớn không biết đọc và viết.
Số lượng người không biết đọc và
viết bằng 9 lần số dân của Việt Nam.
Số người mù chữ lớn như thế là do có
nhiều trẻ em không được đến trường, mà trong
số đó trẻ em gái là nhiều. Đó là nguyên nhân tại
sao cứ 4 phụ nữ lại có một người không biết đọc
biết viết.

Nhóm trẻ nào có nguy cơ không
được tới trường nhất?
- Nghèo đói, trẻ em buộc phải lao động,
không có tiền
- Nhà cách trường quá xa.
- Vấn đề về giới (ở nhiều nước con gái
không được đi học )
Tương lai của họ như thế nào, khi trư
ởng thành họ không biết đọc biết viết?
- Khó kiếm việc làm.
- Không đọc được biển chỉ đường.
- Không dạy được con cái học hành.
- Không viết được thư, đọc sách, sử dụng in tơ
nét. - Không thể mua, bán vì
không biết tính.

Mọi trẻ em trai và em gái đều được tới trư
ờng là một trong 6 mục tiêu Giáo dục cho
Mọi người được 180 nước ký cam kết thực
hiện năm 2000. Giảm số người lớn không
biết đọc và viết xuống còn một nửa thông
qua giáo dục cho người lớn cũng nằm
trong số các mục tiêu này. Cho tới nay, thế
giới đang bị đẩy xa khỏi các mục tiêu đề ra
và rất nhiều nước sẽ không thể đạt được
mục tiêu phổ cập giáo dục đến tận năm
2115 chứ không phải là năm 2015.

Giáo dục cho Mọi người là một trong
những chính sách quan trọng của Việt
Nam trong Chiến lược toàn diện về tăng
trưởng và xoá đói giảm nghèo giai đoạn
2001- 2010. Với nỗ lực của toàn xã hội, tỷ
lệ mù chữ của người lớn từ 15 tuổi trở lên
giảm từ 10,12% xuống còn 7,87%. Tức
là, hiện nay cứ 100 người từ 15 tuổi trở
lên ở Việt Nam thì có khoảng 8 người
không biết đọc, biết viết.

Con vật trên cạn nào chạy nhanh nhất?
Tại Việt Nam cứ 100 người từ 15 tuổi trở lên thì
có bao nhiêu người không biết đọc, biết viết?
Hãy nêu ví dụ về những yếu tố làm lên một
nền giáo dục tốt.
Tại sao, biết đọc, biết viết, biết làm tính lại có
vai trò quan trọng đối với cuộc sống?
Tỷ lệ phụ nữ trên toàn thế giới không biết
đọc, biết viết là bao nhiêu?
ở Việt Nam có phải chính phủ đã cam kết tất
cả trẻ em đều được đến trường không?
Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai

Xem chi tiết: Giờ học toàn cầu


giao an


2)
2)
Đặc điểm :
Đặc điểm :
a. Phân bố dân cư không đều theo không gian:
a. Phân bố dân cư không đều theo không gian:



Năm 2005 thế giới có 6477 triệu người, mật độ
Năm 2005 thế giới có 6477 triệu người, mật độ
dân số trung bình là 48 người / km2.
dân số trung bình là 48 người / km2.



Dựa vào bảng 24 -2 SGK, hãy nêu sự
Dựa vào bảng 24 -2 SGK, hãy nêu sự
thay đổi về tỉ trọng phân bố dân cư trên
thay đổi về tỉ trọng phân bố dân cư trên
thế giới thời kì 1650 – 2005.
thế giới thời kì 1650 – 2005.
( nhận xét 5 ý và kết luận chiếm ưu thế
( nhận xét 5 ý và kết luận chiếm ưu thế
là Châu Á)
là Châu Á)

b. Biến động về phân bố dân cư theo thời
b. Biến động về phân bố dân cư theo thời
gian
gian
:
:

Khu vực Châu Á dân cư tăng nhanh và
Khu vực Châu Á dân cư tăng nhanh và
chiếm ưu thế . Kế tiếp là Châu Phi.
chiếm ưu thế . Kế tiếp là Châu Phi.


Tại sao dân cư thế giới phân bố không
Tại sao dân cư thế giới phân bố không
đều theo thời gian và không gian?
đều theo thời gian và không gian?

3). Các nhân tố ảnh hưởng tới phân bố dân
3). Các nhân tố ảnh hưởng tới phân bố dân
cư:
cư:

Phân bố dân cư là hiện tượng xã hội có
Phân bố dân cư là hiện tượng xã hội có
tính qui luật.
tính qui luật.

Nguyên nhân:
Nguyên nhân:
-
-
Trình độ phát triển sản xuất ( quyết
Trình độ phát triển sản xuất ( quyết
đònh).
đònh).
- Tính chất của nền kinh tế.
- Tính chất của nền kinh tế.
- Điều kiện tự nhiên.
- Điều kiện tự nhiên.
- Lòch sử khai thác lãnh thổ.
- Lòch sử khai thác lãnh thổ.
- Chuyển cư.
- Chuyển cư.


Dựa SGK và kiến thức đã học, hãy:
Dựa SGK và kiến thức đã học, hãy:

Nêu khái niệm quần cư.
Nêu khái niệm quần cư.

Phân biệt hai loại hình quần cư chủ yếu.
Phân biệt hai loại hình quần cư chủ yếu.
II.
II.
Các loại hình quần cư:
Các loại hình quần cư:

II.
II.
Các loại hình quần cư:
Các loại hình quần cư:
1)
1)
Khái niệm:
Khái niệm:

Quần cư là hình thức biểu hiện cụ thể
Quần cư là hình thức biểu hiện cụ thể
của việc phân bố dân cư trên bề mặt
của việc phân bố dân cư trên bề mặt
Trái Đất.
Trái Đất.


Xem hình ảnh, phân biệt quần cư nông
Xem hình ảnh, phân biệt quần cư nông
thôn và thành thò.
thôn và thành thò.


Xem chi tiết: giao an


Hồi kí Nguyễn Đăng Mạnh

4
Phần một - Gia đình. Những ngày thơ
ấu. Thời học sinh và quá trình công
tác
Chương I: Gia đình – Những ngày thơ ấu
5
Giấy khai sinh của tôi ghi: sinh ngày 18 - 3 - 1930 tại làng Quần Phương
Hạ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Nguyên Quán: làng Thổ Khối, tổng Cự
Linh, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. ( nay thuộc phường Cự Khối, quận Long
Biên, Hà Nội).
Làng Thổ Khôi nằm vắt ngang đê sông Hồng, ruộng ít, dân làng ít người
sống bằng nghề nông, chủ yếu đi học, làm quan, làm viên chức, làm thuyền thợ
hay buôn bán. Làng chỉ có một nghề truyền thống là làm vàng mã. Gái làng suốt
ngày ngồi bẻ nan thoăn thoắt, phết hồ, dán giấy, làm thành những thoi vàng, thoi
bạc dùng cho cõi âm. Làng ít ruộng nên dân xuất ngoại rất nhiều, ở đâu cũng có
: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Yên, Nam Định, Thanh, Nghệ, Tĩnh, Sài Gòn vv
Khi tôi sinh ra thì bố tôi đang giữ chức lục sự ( Coi việc án từ ở các phủ
huyện thời Pháp thuộc ) ở huyện Hải Hậu. Ông đọc được chữ Hán và biết làm
thuốc. Ông có nhiều sách chữ Hán, đều là sách thuốc Tầu. Có lúc tôi thấy ông
mời hẳn một thày lang đến nhà để học nghề. Ông cũng thích làm thơ. Nhiều
đêm, đã khuya, thấy ông thức dậy, thắp đèn làm thơ. Hồi ấy ông làm việc ở phủ
Thái Ninh, tỉnh Thái Bình. ở đây có một viên tổng đốc về hưu tên là Nguyễn
Năng Quốc. Ông này thường gọi một số viên chức trong phủ đến nhà uống rượu,
ngâm thơ. Ông bố tôi xem chừng rất hào hứng chuẩn bị cho những buổi thơ phú
thù tạc như thế. Tôi không hiểu thơ phú của ông có hay ho gì không, chỉ thấy tài
hoa của ông thể hiện rất rõ ở các thú chơi như trồng hoa, thư pháp, đồ cổ, nuôi
gà chọi, chim hoạ mi, các loại chó cảnh, mèo cảnh Ông đặc biệt sành sỏi về
nghệ thuật tỉa thuỷ tiên. Hàng năm cứ đến giáp Tết âm lịch ông lại lên Hà Nội
mua về một sọt thuỷ tiên củ. Ông chọn lấy những củ cho là đẹp rồi ngồi cả buổi
gọt tỉa bằng một mũi dao trổ. Phải tỉa như thế nào đó để khi thuỷ tiên trổ lá, trổ
hoa thì dò hoa mọc thẳng vút trên cái nền lá quấn quýt uốn râu rồng. Lại phải
làm sao cho hoa nở theo ý muốn của mình đúng vào đêm giao thừa. Trời lạnh thì
áp đèn để thúc. Trời nóng thì lại phải cuốn giò hoa bằng giấy bản dấp nước để
hãm. Có lần ông đã đem thuỷ tiên đi thi ở đình Hàng Bạc, Hà Nội và được ăn
giải nhì. Lần ấy, tôi có được ông cho đi theo. Tôi nhớ giải là một bức trạm nổi
trên gỗ thiếp vàng một đôi chim đậu trên một nhành mai. Ông cũng rất sành sỏi
trong nghệ thuật trồng lan. Trên dàn hoa thì treo la liệt phong lan, dưới sân thì
bầy hàng trăm chậu địa lan đặt trên đôn sứ hay bệ gạch. Tôi nhớ lõm bõm những
cái tên địa lan rất đẹp: Đại Kiều, Tiểu Kiều, Bạch Ngọc, Mặc lan vv Một
trong những kỷ niệm của tôi thời nhỏ là luồn lỏi giữa những chậu lan, tìm bắt
những con dế chui dưới chậu lan hay các khe của những bệ gạch. Ông cũng rất
mê chim hoạ mi. Trong nhà, ngoài hiên la liệt những lồng chim. Cái to, cái nhỏ,
có cái cao hàng vài ba thước, tất cả đều quang dầu. Suốt ngày ríu ran tiếng chim
hót. Ông đặc biệt thích thú nuôi chim chọi. Phải biết chọn chim theo hình tướng
: đầu thế nào, mắt thế nào, thân thế nào, chân, cựa thế nào vv Lại phải nuôi
6
kèm chim mái để “ xuỳ” cho chim đực chọi nhau. Nuôi chim thì hết sức cầu kỳ.
Gần đến mùa thi thì nước uống phải là nước sâm, thức ăn là gạo tấm tẩm lòng
đỏ trứng gà rồi xấy khô. Tẩm đi tẩm lại đến khi nào hạt tấm có màu nâu xẫm
mới thôi. Rồi phải tẩm bổ thêm cào cào, châu chấu, dế, thậm chí cả đông trùng
hạ thảo Hàng năm những cuộc thi chọi chim hoạ mi thường được tổ chức ở
đình Ngọc Hà, Hà Nội. Ông bố tôi cũng nhiều lần đưa chim đi thi và được giải.
Bố tôi tính lành nhưng ham chơi. Cái gì cũng thích. Trà Tàu, thuốc lào,
thuốc phiện, chơi hoa, chơi chim, chọi gà, nuôi mèo, nuôi chó, chơi hoành phi
câu đối, đồ cổ, hát ả đào. Trong nhà, trong tủ bầy đủ cả: điếu ống, điếu bát, bàn
đèn, các kiểu tẩu hút thuốc phiện, ấm chén cổ, lọ hoa, độc bình, đàn nguyệt, đàn
đáy, trống chầu, dùi trống có khắc thơ Đường Ông mê hát ả đào và mê cả cô
đầu nữa. Mẹ tôi có lần nói, ông ấy mê gái đến không biết sợ là gì nữa. Có năm
bệnh dịch phát triển ở địa phương. Đường xá vắng tanh, nhất là ban đêm. Người
ta sợ quan ôn đi lùng bắt phu xuống âm phủ. Thế mà ông ấy vẫn cứ đi đến xóm
hát như thường, không sợ gì cả.
Mẹ tôi đúng là điển hình của một bà vợ viên chức. Chẳng làm gì cả. Nấu
ăn đã có đầy tớ. Bế bồng, chăm bẵm con nhỏ, đã có vú em. Chỉ thỉnh thoảng đi
chợ, có con sen cắp rổ đi theo. Thường thường khi bố tôi đi làm thì bà cùng một
số vợ viên chức khác họp nhau đánh tổ tôm, tài bàn. Bà rất thích nghe đọc
truyện cổ và thuộc rất nhiều truyện nôm như Kiều, Nhị độ mai, Hoàng Trừu,
Tống Trân Cúc Hoa, Phan Trần Cho đến nay tôi vẫn còn nhớ hình ảnh này
của bà: Cơm trưa xong, nằm nghiêng trên tấm phản quang dầu, nhai trầu và hút
thuốc lá sâu kèn, nghe con gái - Chị cả tôi - đọc tiểu thuyết cổ, hết Chinh Đông,
Chinh Tây, lại đến Tam quốc chí, Hán Sở tranh hùng, Phấn trang lâu, Bình Sơn
Lãnh yến vv Hàng năm bà thường đưa các con đi chơi các hội chùa: hội Phủ
Giầy, Chợ Viềng Hải Lạng, đền Sòng, Phố Cát, hội Trường Yên vv
Tôi không thể không nói đến một người trong gia đình rất có ảnh hưởng
tới tôi thời thơ ấu: bà chị cả tôi. Bà tên là Nguyễn Kim Hồi, hơn tôi đúng một
giáp. Chị tôi thời con gái rất xinh đẹp, nhưng tính cách hết sức táo tợn. Cho đến
nay, tôi chưa từng gặp một người con gái nào táo tợn đến mức ấy: dám vào lớp
học đang giờ giảng bài, xin phép thầy giáo rồi đi thẳng đến một cậu học trò vừa
trêu ghẹo mình, tát trái cho một cái rồi đàng hoàng đi ra; bố đi vắng, mời bạn
trai đến nhà, đốt pháo đón mừng; thuê thuyền đi chơi trên sông với bạn trai; con
gái mới mười sáu, mười bảy mà rất hách dịch: bắt đầy tớ lớn tuổi hơn mình xoè
bàn tay ra, lấy thước kẻ đánh vì tội giặt quần áo, rũ không sạch mùi xà phòng;
các em lười học thì phạt bằng cách vẽ vòng tròn dưới đất, bắt đứng đó không
được bước ra ngoài khi chưa cho phép. Tính cách như thế khiến các em sợ hơn
cả bố mẹ. Đặc biệt, con gái mà đi đánh ghen hộ mẹ: đưa đầy tớ đến nhà hát,
đánh chửi cô đầu. Chị tôi rất mê thơ lãng mạn và các loại tiểu thuyết của Tự lực
văn đoàn, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Thanh Châu, Ngọc
Giao, Lan Khai, Lê Văn Trương…vv Hứng lên, ngồi một mình cũng cao giọng
ngâm thơ sang sảng… Hồi gia đình tôi chuyển sang Phủ Nghĩa Hưng, Nam
Định, có thuê một ngôi nhà lầu : chị tôi mua đủ thứ sách báo chất lên một căn
7
buồng trên gác: Ngày nay, Tiểu thuyết thứ bảy, Hà Nội báo, Loa, Tri Tân, Thanh
Nghị … và các loại thơ ca, tiểu thuyết kể trên. Bố tôi rất quan liêu, tuy cấm con
gái không được đọc tiểu thuyết, nhưng không bao giờ lên gác để biết có cả một
kho sách báo trên đó. Kho sách báo này đã là một thư viện phong phú và đầy
hấp dẫn đối với tôi từ tuổi thiếu niên nhi đồng.
Tôi học tiểu học ở trường huyện. Học thì lười, chỉ ham chơi. Rất mê
truyện kiếm hiệp, truyện cổ Tầu. Thích vẽ tranh phỏng theo những tranh minh
hoạ trong các truyện, thích nhất vẽ hiệp sĩ múa gươm, phi thân lên mái nhà, và
những ông tướng Tầu: Quan Công, Trương Phi, Lã Bố… ấy thế mà cũng có
nhiều thằng bạn rất phục. Chúng phải đổi vài ba tờ giấy trắng để lấy một bức vẽ
của tôi.
Tôi từ nhỏ đã không thích sinh hoạt tập thể. Bố mẹ tôi muốn cho tôi sinh
hoạt trong đội Sói con ( louveteau) của trường huyện: cắm trại, mặc đồng phục,
hát đồng ca, nấu ăn chung, vui chơi tập thể…vv Tôi ở với họ nửa buổi rồi thừa
lúc họ không để ý, lủi trốn về nhà. Tôi không thích sinh hoạt tập thể, có lẽ một
phần vì ít tiếp xúc với người ngoài, nhát, vụng về trong giao tiếp, làm gì cũng
lúng túng, chậm chạp. Nhưng quả thực từ nhỏ tôi đã có thói quen sống và chơi
một mình. Mẹ tôi sinh tất cả mười một lần, nhưng chỉ nuôi được 6: hai trai, bốn
gái. Anh tôi từ nhỏ đã được gửi cho một ông cậu làm giáo viên ở tỉnh Bắc Ninh
kèm cặp cho. ở nhà còn lại toàn con gái, tôi chơi với ai được! Đành chỉ chơi một
mình. Nghĩa là ngồi một mình, tưởng tượng ra đủ thứ chuyện phỏng theo những
sách vở đọc được, đặc biệt là các truyện võ hiệp, truyện cổ Tầu, truyện tình lãng
mạn…Tất nhiên bao giờ cũng biến mình thành một nhân vật chính trong đó.
Phải nói rằng tôi từ nhỏ đã có một đầu óc rất giàu tưởng tượng đến mức như là
bệnh hoạn, cứ nhắm mắt lại là lập tức như lạc vào một thế giới hoang đường
nào.
Nếu không ngồi chơi một mình thì đi lang thang vớ vẩn ở phố huyện hay
trên những cánh đồng, bờ đê, đường làng, ngõ xóm, bắt cào cào, châu chấu,
chuồn chuồn, chui vào các đền miếu quanh vùng, trèo cây, hái quả, vừa đi vừa
tưởng tượng. Tôi rất thích quả bàng chín. Nó có một vị ngọt ngọt chua chua rất
riêng và một hương thơm riêng. Về sau này, ngẫm ra, tôi gọi đấy là hương vị
của mùa thu. Ăn một quả bàng chín như nuốt vào trong bụng hương vị của mùa
thu. Không hiểu sao tôi cũng rất thích mùi thuốc pháo và mùi hơi ét xăng ô tô.
Hễ có xe ô tô đi qua trước nhà, thế nào cũng phải chạy ra hít lấy hít để… Sau
này đọc bài Tựa Tây Sương Ký của Thánh Thán, thấy ông kể ra la liệt các thứ
khoái trên đời, trong đó có cái khoái ngửi mùi thuốc pháo. Té ra cái khoái của
tôi cũng không phải là cá biệt.
Thấm vào tâm hồn tôi cho đến mãi bây giờ là cái gọi là không khí những
phố huyện, phố phủ ngày xưa: ấy là một đoạn đường đất hoặc rải đá khoảng ba
bốn trăm mét, hai bên có vài hàng cơm, hàng phở, quán nước, một trạm dây
thép, một trạm y tế, vài cửa hiệu tạp hoá, xa xa nơi đầu phố hay cuối phố là một
trường tiểu học. To tát oai nghiêm hơn cả là dinh quan huyện, ngoài cổng có
lính gác. Ra vào cửa quan là mấy thầy thừa, thầy lục, mấy ông xã, ông lý ở các
8
làng lên hầu kiện, mấy anh nho lại áo the, khăn xếp, cắp ô. Tỏ ra bận rộn hơn cả
là mấy chú lính cơ, lính lệ chạy ra chạy vào. Văn minh nhất huyện là mấy thầy
giáo cấp một thường vận Âu phục, đi đứng nghiêm trang. Quan huyện thì dường
như là người của một thế giới khác. Đi đâu có trống báo hiệu và chỉ thấy một
chiếc xe ô tô hòm kính lướt nhanh qua phố huyện.
Nói chung phố huyện là một cảnh sống đơn điệu, quẩn quanh, nhạt tẻ.
Buồn vắng hơn nữa là về ban đêm. Các cửa hàng đèn dầu leo lét, tù mù giữa
cảnh đêm tối thăm thẳm.
Phố huyện thường xa thành phố, gần nông thôn. Kề ngay phố huyện là
đồng ruộng, làng mạc, là bờ tre, nương dâu, là cánh cò, cánh vạc, con trâu kéo
cày, là những dân quê lam lũ chân lấm tay bùn… Cho nên từ huyện lên tỉnh thì
cũng coi như là từ nhà quê ra tỉnh.
Môi trường sống thời thơ ấu có ảnh hưởng rất quan trọng đối với năng lực
cảm thụ văn chương của tôi. Từ những thú chơi cổ điển của ông bố tôi, tôi rất dễ
cảm nhận được vẻ đẹp “ vang bóng một thời” của văn Nguyễn Tuân. Và cảnh
làng quê, cảnh phố huyện đã khiến tôi dễ nhập thân ngay vào thế giới nghệ thuật
của những Thạch Lam, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Đỗ Đức Thu, Bùi
Hiển, Tô Hoài, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm…vv , thế giới của những
phố huyện nghèo, của những nhân vật quan lại, lính tráng, viên chức nhỏ, hương
lý, của những cảnh sông dài trời rộng, những bến sông hoang vắng, của linh hồn
đồng quê cổ kính, bình dị miền Bắc bàng bạc một chất thơ buồn… Đó cũng là
cái buồn của ca dao, của chèo. Đọc một câu ca dao, nghe một làn điệu chèo, bao
giờ tôi cũng thấy hiện lên trong trí tưởng tượng của mình cảnh đồng quê heo hút
ngày xưa khiến nhiều khi chảy nước mắt.
Trí nhớ của con người ta có những quy luật riêng của nó mà con người
không ý thức được, không làm chủ được. Có những hình ảnh rất xa xưa và
không có ý nghĩa gì cả, tự nhiên cứ hiện lên trong trí nhớ của ta, có thể gọi là
những hồi ức ngoài ý muốn (mémoires involontaires). Tôi thường có những hồi
ức như vậy. Chẳng hạn, bỗng nhớ một ông già tên là Xã An, mặc quần trắng, áo
dài trắng, có những cái khuy cài nâu nâu màu hổ phách. Không hiểu sao lại nhớ
cụ thể cả tên ông ta, tuy không biết ông là ai. Gần đây hỏi chị tôi, chị tôi cho
biết, ông Xã An là chủ ngôi nhà cha mẹ tôi thuê hồi bố tôi làm việc ở huyện Hải
Hậu (Nam Định). Lúc đó tôi chỉ độ năm, sáu tuổi. Trong trí nhớ của tôi cũng
hay hiện lên hình ảnh một khu vườn rau vào mùa thu. Có những luống cải thưa
thớt, xác xơ, mấy cái ngồng cải cao vọt lên với những bông hoa nở vàng. Vài
con bướm trắng bay chập chờn quanh những bông hoa. Rồi hình ảnh người vú
em, tuy đã luống tuổi, nhưng chúng tôi vẫn gọi là Chị – Chị Đại. Chị có một cái
nốt ruồi lớn ở dưới mắt phải. Chị vừa quét sân vừa đọc ngân nga mấy câu lục bát
để đùa ghẹo tôi:
Nước Hải Lạng vừa trong vừa mát,
Đường Hải Lạng lắm cát dễ đi
Cô Sĩ kia xinh đẹp làm chi
Để cho câu M. trở đi trở về…
9
Lúc này, bố tôi đã chuyển về làm việc ở phủ Nghĩa Hưng (Nam Định).
Tôi đã hơn 10 tuổi. Vào dịp đầu xuân, Hải Lạng (thuộc phủ Nghĩa Hưng) mở
hội, có đấu cờ người. Mỗi quân cờ là một cô gái đồng trinh cầm một cái biển có
ghi chữ Tướng, Sĩ, Tượng…vv… Những cô được chọn cầm biển tướng, sĩ là
những cô xinh đẹp hơn cả. Hầu như năm nào tôi cũng cùng gia đình đi xem hội
làng Hải Lạng. Chúng tôi đi thuyền xuôi từ thị trấn Nghĩa Hưng tới Hải Lạng, kề
ngay bến sông. Một hình ảnh khác cũng thường trở đi trở lại trong trí nhớ của
tôi: một người đàn bà ăn mày, rách rưới, mắt loà, bước rờ rẫm lên hè nhà tôi
trông ra chợ phủ Thái Ninh, vừa bước đi, miệng vừa ngốn một ngọn rau muống.
Lúc này bố tôi đã chuyển tới làm việc ở phủ Thái Ninh (Thái Bình). Tôi đã 13,
14 tuổi…vv… Những hình ảnh ấy chẳng có ý nghĩa gì. Chúng chỉ gợi lên không
khí của một thời rất xa xưa một đi không trở lại. Và tôi cảm thấy buồn, một nỗi
buồn vu vơ. Những cảnh ấy nay còn không? Những con người ấy chắc đã chết
cả rồi! Hồn họ đang ở đâu? “Hồn ở đâu bây giờ!” (Vũ Đình Liên)
Nhưng có những kỷ niệm cũng rất vụn vặt thôi, và cũng hiện lên trong trí
nhớ tôi một cách tự phát, mà sao cứ ám ảnh sâu sắc và có tác động rất lớn, rất
lâu dài tới tâm lý, tính cách của tôi. Nói đến những kỷ niệm ấy, tôi thấy nhất
thiết phải kể đến chi tiết này- một chi tiết rất nhỏ, có thể nói là chẳng có nghĩa lý
gì, vậy mà sao nó cứ theo đuổi tôi đến tận bây giờ và có lẽ cho tới khi nhắm mắt.
Một chi tiết thực sự có ảnh hưởng đến cá tính, tính cách của tôi: hồi đó tôi mới
khoảng 11, 12 tuổi gì đó, có một lần ông bố tôi sai tôi múc cho ông một thau
nước rửa mặt. Tôi múc vài gáo nước vào thau rồi bưng đến cho ông. Nhìn vào
thau, thấy ít nước quá, ông nhăn mặt: “Cái thằng, sao bủn xỉn, bần tiện thế!”.
Đấy, chi tiết chỉ có thế thôi, thế mà tôi cứ ấm ức, xấu hổ và rất tự ái, thấy mình
bị coi là bần tiện, là bo bíu, là tiểu nhân, là không đường hoàng, nói chung là
đáng khinh bỉ, chẳng làm nên trò trống gì …Từ đó, có thể nói, mọi hành vi của
tôi trong sinh hoạt đời thường hay trong công tác, trong cách ứng xử với người
này người khác, trong hoạt động văn học…vv đều là những cố gắng sao cho
người đời đừng khinh mình là keo bẩn, tiểu nhân, không đường hoàng… Dù
nghèo túng không bao giờ lèm nhèm trong chuyện tiền bạc. Việc không làm
được thì tránh không làm. Phát biểu hay viết lách về cái gì, phải biết đến nơi đến
chốn, biết đến đâu, nói đến đấy và phải có ý kiến riêng, không được thế thì thôi,
không nói, không viết. Không cầu cạnh người sang, người trên để họ có thể
khinh mình. Trời cho cái gì thì hưởng cái đó, không cay cú, cố đấm ăn xôi,
không xin xỏ, hay tranh cuớp của ai… Nói chung tôi quan niệm được làm chủ
bản thân mình là sướng nhất. Vì thế không làm bất cứ điều gì vượt quá thân
phận, tầm vóc, khả năng của mình để rơi vào bị động, mất tự do, tự chủ và bị
thiên hạ khinh bỉ. Tôi rất thích dùng hai chữ sang trọng là vì thế. Sang trọng đối
lập với nhếch nhác, hèn hạ. Nghèo mà vẫn sang. “Phó thường dân” cũng có thể
sang. Thậm chí kém cỏi vẫn có thể sang, nghĩa là tự chủ trong phạm vi khả năng
của mình, tránh không bị khinh tức là sang. Và tôi đã viết một bài “ Về khái
niệm sang trong đánh giá văn học”.
Một kỷ niệm khác cũng có ảnh hưởng lớn tới tâm lý, tính cách của tôi:
10
chuyện tập xe đạp. Không hiểu sao tôi lại khốn khổ đến vậy trong việc tập đi xe
đạp. Hồi mười ba, mười bốn tuổi, học cấp II ở thành phố Nam Định, tôi đã cùng
mấy thằng bạn ở chung một nhà trọ tập đi xe đạp. Trèo lên xe, đạp mấy vòng,
nhưng cứ hễ thằng bạn giữ hộ xe buông tay ra là ngã đổ kềnh ra đất. Tập mãi
không được, đã thế lại còn bị toạc một mảng thịt ở ống chân, đến nay vẫn còn
vết sẹo. Sợ quá không dám tập nữa. Một chuyện ai cũng làm được, kể cả đàn bà
con gái hay đứa trẻ sáu bẩy tuổi, vậy mà mình không làm được. Nhục quá! Hèn
kém quá! Điều này khiến tôi luôn có tâm lý bi quan về năng lực của mình.
Nghĩa là thấy mình bất tài, bất lực, chẳng làm nên trò trống gì. Cho nên bị ai coi
thường, tuy cũng tức, nhưng liền đó lại tự thấy: nó khinh mình cũng phải thôi.
Mình là thằng hèn kém, nó khinh cũng chẳng oan ức gì.
Không thể tưởng tượng được cái nhục không biết đi xe đạp của tôi kéo dài
cho mãi đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc (1954). Lúc ấy tôi đã 24
tuổi. Trong chiến tranh, mấy ai có xe đạp mà đi. vì thế không biết đi xe đạp,
chưa thấy bức xúc lắm, và cũng không ai biết. Nhưng hoà bình rồi. Không biết
đi xe đạp thì nguy quá. Mà lộ ra thì xấu hổ chết được! Tôi quyết định, nhất định
phải tập, mà phải tập một mình, tập dấu, tập bí mật. Đợi lúc đêm xuống, tôi thuê
một cái xe đạp, dắt đến một chỗ vắng vẻ có đường dốc, rồi ngồi lên xe thả cho
nó lao xuống và cứ thế đạp phứa đi. Sau nhiều lần ngã, tôi đi được xe đạp.
Sướng quá! Thế là có quyết tâm thì cũng không đến nỗi kém cạnh ai. (Hồi này
gia đình tôi ở một vùng ven thị xã Thái Nguyên)
Có lẽ vì chuyện này mà tôi một mặt vẫn bi quan về năng lực của mình,
nhưng mặt khác cho rằng có quyết tâm thì cũng có thể vượt lên được. Đồng thời
tôi có tâm lí dễ dị ứng với những người có thái độ tự mãn và rất thông cảm với
những người bị đời khinh bỉ. Sau này trong học tập và nghiên cứu khoa học, tôi
luôn luôn gắng sức, cố vượt lên bản thân mình một cách âm thầm lặng lẽ. Tuy
vậy khi có ai đó đánh giá cao tài trí của mình, tôi tuy cũng thích, nhưng không
bao giờ tỏ ra hí hửng, thậm chí vẫn cứ ngờ ngợ: “Chẳng lẽ mình mà cũng có tài
thật sao!”
Xin nói thêm về một nét tính cách này mà tôi tự nhận thấy đã có từ nhỏ:
thực chất thì hèn nhát, nhưng lại muốn tỏ ra là dũng cảm. Chẳng hạn, vào các
đền miếu bỏ hoang, phá phách các đồ thờ cúng, lấy những cây gươm thờ múa
may chơi. Có khi đái cả vào bát hương. Những trò quậy phá ấy chẳng chết ai,
vậy mà cũng làm cho một số đàn bà, con gái hoảng sợ và nể phục. Đúng là thứ
anh hùng rơm.
Sau này lớn lên, tôi thích ăn nói ngang ngược, nhưng chỉ dám nói trong
phạm vi một công chúng vốn hâm mộ mình hoặc đồng tình với mình hay không
có khả năng hại được mình. Viết lách cũng thế. Không muốn nói xuôi chiều,
thích gai góc một chút, nhưng cũng chỉ trong giới hạn không nguy hiểm lắm đến
bản thân mình và vừa đủ cho một số người yếu bóng vía phải nể trọng.
Chương II: Thời học sinh
11
Học xong bậc tiểu học ở phủ Thái Ninh, tôi lên thành phố Nam Định học
thành chung (trung học cơ sở). Tôi thi vào trường công không đỗ. Đúng là nhà
quê ra tỉnh, nghĩ lại thật xấu hổ. Lớ ngớ thế nào đi lạc lung tung rồi nhầm phòng
thi. Thành phố Nam Định với những toà “nhà Tây”, lúc đó, đối với tôi, sao mà
hoành tráng mênh mông thế. Tâm trạng bối rối hoang mang như vậy thì làm bài
tất không ra gì. Tôi trượt là phải. Không được học trường công, tôi xin học
trường tư. ấy là trường cố đạo Xanh Tô-ma (Saint Thomas d‘Aquin). Thực ra thì
tôi học trường ngoại trú Đức Bà (Externat Notre Dame) đặt ở phố Pigneau de
Béhaine (nay là phố Bến Ngự). Có lẽ đây là một phân hiệu ngoại trú của trường
Xanh Tô-ma chăng? Hiệu trưởng là một cố đạo Tây, người thấp lùn, râu tóc bạc
phơ, gọi là cố lùn. (đối lập với một cố đạo khác cũng ở thành phố Nam Định gọi
là Cố Cao.) Dạy học là những thày dòng (Frères) còn trẻ, mặc áo trùng thâm, cổ
cồn trắng. Trường học nuôi cả một đàn dê cung cấp cho các bếp ăn hàng ngày
của các cha cố. Nhiều frères rất chải chuốt và có vẻ trai lơ nữa. Sáng thứ hai,
học sinh phải xếp hàng chào cờ trước tượng Đức Bà. Vào lớp thì phải đứng dậy
cầu kinh vài phút trước khi học bài. Vài tuần lễ lại có một buổi giảng kinh
Thánh, giống như ngoại khoá. Nói chung các frères dạy nghiêm túc, chuyên
môn vững, nhất là về khoa học tự nhiên. Những học sinh như tôi, không theo
đạo, thì được ghi vào danh sách kẻ ngoại đạo, vô đạo (paien). Tuy thế không
thấy có sự phân biệt đối xử gì cả.
Những học sinh thành phố nói chung lanh lẹn, hoạt bát, ăn mặc đẹp và
sang hơn học sinh nhà quê như tôi. Chúng thường bắt nạt tôi. Có lần tôi phản
ứng lại đã bị chúng đánh cho một trận nên thân ngay giữa sân trường. Tất nhiên
uất lắm nhưng chẳng làm gì được chúng, chỉ tự mình khắc sâu thêm cái mặc
cảm về thân phận hèn kém, bị khinh bỉ.
Thời gian học ở Nam Định, tôi trọ ở nhà một ông gọi là ông giáo Cầu.
Chẳng biết ông dạy học ở đâu, bao giờ, dạy cái gì, chỉ biết ông đã nghỉ hưu lâu
rồi. Ông có quen biết bố tôi cũng không biết tự bao giờ. Ông người cao, râu tóc
đã bạc, ở với một bà vợ hai. Nhà có một đầy tớ trai tên là Hỵ. Vợ chồng ông
giáo hay cãi nhau, diếc móc nhau. Bà giáo khoảng 40 tuổi, người khoẻ mạnh và
khá đáo để. Hàng ngày tôi thường thấy ông giáo khăn áo chỉnh tề, xách ô đi đâu
đó. Khi trở về thường bị bà giáo diếc: Lại mò đến nhà thằng con rể ( lấy con gái
bà cả ) được nó đãi mấy mẩu kẹo lạc vụn chứ gì? Ông không nói gì, chỉ lừ mắt
nghiến răng, đe doạ suông thế thôi. Nhưng bà chẳng sợ gì cả, còn nguýt lại mấy
cái. Tôi đoán chừng ông giáo kiếm ăn bằng nghề viết đơn từ thuê cho những
người có chuyện kiện cáo gì đó. Hồi này, cuộc đại chiến thế giới thứ hai đang
diễn ra ác liệt. Tôi nhớ ông giáo thường gật gù vẻ đắc chí, nhắc đi nhắc lại một
câu như sấm ngôn:“ Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”.
Nhà ông giáo là một căn hộ ở tầng hai, nằm trong một dẵy nhà cho thuê
gọi là dẫy chín gian, cũng ở đường Pigneau de Béhaine. Cùng ở trọ nhà ông giáo
12
Cầu còn có ba học sinh nữa cũng ở vùng quê lên trọ học, hình như đều là dân
phố huyện Hải Hậu và bố mẹ cũng có quen biết ông giáo Cầu từ trước.Trong số
này, tôi nhớ có một anh rất chăm học. Hồi ấy gọi là học gạo. Nhiều khi tôi thấy
anh học bài, mệt quá, gục ngay lên sách ngủ, nước rãi rớt cả ra sách. Còn tôi thì
vẫn lười học. Ngoài giờ lên lớp chỉ thích đi lang thang các phố xá, vườn hoa và
ra cả các vùng ngoại ô. Hồi ấy ( từ 1943 đến 1945 ), máy bay Mỹ đánh phá Nam
Định luôn. Mỗi lần có báo động, tôi lại cùng người dân các phố quanh vùng
chạy tản ra Bên Đồng ( địa danh của một vùng ngoại ô thành phố, có cái hồ lớn
gọi là hồ Rakét, có lẽ vì giống cái vợt bóng bàn – raquette ). Tôi để ý, lần nào
chạy báo động cũng có một gia đình Hoa kiều giầu có đi về phía cuối hồ, đến
một ngôi biệt thự sang trọng. Gia đình này có một cô gái độ 18, 19 tuổi, xinh
đẹp, mặc áo xường xám màu xanh lam, hở vai, xẻ tà, đi giày cao gót. Tôi cứ
lẳng lặng lẽo đẽo theo cô ta cho đến tận ngôi biệt thự. Chỉ là một thứ tình cảm
lãng mạn trẻ con vớ vẩn thế thôi – một thứ tình cảm mà sau này tôi thấy Hoàng
Cầm thường kể lại trong những bài thơ của mình – mối tình Em – Chị…
Em mười hai tuổi tìm theo Chị
Qua cầu bà Sấm bến cô Mưa…
ở thành phố Nam Định, tôi được chứng kiến cuộc đảo chính 9/3 của quân
Nhật. Đêm hôm ấy, đang ngủ bỗng nghe nổ một phát đại bác. Tất cả chỉ có thế
thôi. Sáng ra thành phố đã thuộc quân đội Nhật. Chúng chiếm đóng các công sở,
hò hét tập thể dục. Một vài Pháp kiều đi lại lén lút, sợ hãi.Tâm lý bọn tôi hồi ấy
rất khoái khi nghe chuyện bọn Tây đầm bị lính Nhật đánh đập, hạ nhục ngay
trên đường phố hay ở các hàng quán … Ngay sau cái đêm đảo chính ấy, tôi đi xe
kéo về Thái Bình ( nhà tôi lúc này đã chuyển về ở phủ Thái Ninh, tỉnh Thái
Bình.) Qua cầu Bo, thấy lính khố xanh, khố đỏ nhớn nhác hò nhau chạy trốn.
Cuộc đảo chính diễn ra chỉ có thế thôi. ở Nam Đinh bọn Nhật còn phải bắn một
phát đại bác, chứ ở Thái Bình nó không tốn một viên đạn.
Bây giờ tôi không còn nhớ được vì sao lại không học ở trường ngoại trú
Đức Bà nữa mà lại có thời gian học ở trường Pôn Dume ( Paul Doumer) cũng là
một trường tư thục ở thành phố Nam Định, đặt ở phố Pôn Be ( Paul Bert ) nay là
đường Trần Hưng Đạo. Tôi nhớ hiệu trưởng có tật ở lưng, gọi là ông Tiển gù.
Trường này học sinh rất táo tợn, thậm chí rất hung hãn. Tôi đã chứng kiến, ngay
trong giờ học, học sinh xông lên đánh thầy giáo. Chẳng biết ông giáo này phê
vào học bạ của học sinh thế nào mà nó đến trước mặt thầy xé toang cuốn học bạ,
sau đấy mấy đứa đồng bọn xô lên đánh thầy. Ông giáo này tên là Hãn, mặc soóc,
người cao lớn, sức lực, vậy mà sợ hãi quá phải tuông từ tầng hai xuống, chạy ra
ngoài đường, đến đồn cảnh sát cầu cứu.
Máy bay Mỹ đánh phá Nam Định ngày càng ác liệt. Có một trận bom ném
vào nhà máy rượu gần dãy nhà tôi ở. Nhà xây đã lâu, trần nhà đã lở lói sẵn, nay
bị hơi bom ép mạnh làm cho rơi xuống từng mảng.
Bố mẹ tôi sợ quá, chuyển tôi về học tại thị xã Thái Bình. ở thị xã Thái
Bình lúc này, không hiểu sao lắm trường tư thục thế: Trường Pascal, trường Port
Royal, trường Gia Long ở Hà Nội sơ tán về. Có thời gian tôi học ở trường Port
13
Royal. Sau này tôi được biết hiệu trưởng tên Giang là một trí thức cấp tiến. Một
hôm tôi thấy ông đến lớp tôi, giới thiệu với học sinh một thanh niên đến đọc thơ.
Người thanh niên này hình như là một sinh viên đại học gì đó, anh đứng trước
lớp, đọc rất hùng hồn, kèm theo điệu bộ, bài Ly rượu thọ của Tố Hữu. Sau này
tôi mới biết đó chính là anh Nguyễn Trác có một thời làm tổ trưởng tổ văn học
Việt Nam hiện đại của trường Đại học sư phạm Hà Nội mà tôi là một tổ viên.
Anh người hiền lành, ít nói, vậy mà ngờ đâu đã có một thời trai trẻ hết sức sôi
nổi, đầy cảm hứng lãng mạn.
ở trường Port Royal một thời gian, tôi lại chuyển sang học trường Gia
Long. Tôi nhớ hồi ấy có thầy Trương dạy toán, thầy Nghiêm Toản dạy Pháp
văn, thầy Nguyễn Lương Ngọc dạy sinh vật. Thầy Ngọc đẹp trai, hiền hậu, ít
nói, thường mặc bộ âu phục màu rêu nhạt, đi bách bộ một mình ở sân trường, có
vẻ đăm chiêu suy nghĩ điều gì. Sau này tôi biết hồi đó thầy đang hoạt động trong
nhóm Xuân thu nhã tập và thầy có những suy nghĩ về thơ ca, về đạo,về tư cách
trí thức… Thầy dạy chúng tôi về con gà, con vịt, con chim bồ câu…vv… Mỗi
bài dạy thầy lại kết thúc bằng một chuyện vui, chẳng hạn, có anh đi săn thấy vịt
người ta nuôi tưởng vịt giời, bắn chết, bị người ta bắt đền…ý thầy muốn nói vịt
nhà và vịt giời giống hệt nhau.
ở thị xã Thái Bình, tôi trọ học ở nhà một ông đồ nho. Bố mẹ tôi hồi ấy có
nhờ ông dạy thêm cho tôi chữ Hán. Lúc này thuyết Đại đông á của Nhật rất có
ảnh hưởng, đã đẻ ra phong trào học chữ Hán. Ông đồ bộ dạng rất hủ lậu. Vẫn
búi tó củ hành. Ông rất bẩn. Tôi nhớ ông có một cái tăm rất dài, dùng xong lại
dắt lên mái nhà để tiếp tục dùng mãi. Lối dạy của ông rất cổ lỗ “Nhân chi sơ là
người chưng xưa, tính bản thiện là tính vốn lành”… Mỗi lần ông giảng bài, tôi
rất sợ, vì mồm ông rất hôi. Không hiểu sao người thế mà lại có một bà vợ trẻ,
người nhẹ nhõm, lanh lẹn.
Càng gần đến cách mạng Tháng Tám, không khí xã hội càng khiến cho
lòng người không yên. Còi báo động liên miên. Chuyện bọn Nhật thu thóc tạ,
bắt dân nhổ lúa trồng đay, chuyện tội ác dã man của chúng. Tin tức hoạt động
của Việt Minh các nơi dội về: họp dân diễn thuyết, phát báo chí, truyền đơn, giết
Việt gian, phá kho thóc Nhật… vv… Và nạn đói khủng khiếp diễn ra ngay giữa
vùng lúa gạo Nam Định, Thái Bình…
Tôi không học nữa, trở về với gia đình ở phủ Thái Ninh, tỉnh Thái Bình. ở
đây có một dạo, bố mẹ tôi bắt tôi học tư ông giáo Năng ở làng Thượng Phú,
cách nhà tôi ở phố phủ Thái Ninh độ vài cây số. Ông dạy tôi tiếng Pháp. Tôi nhớ
ông thường cho tôi dịch ra tiếng Pháp những câu ca dao có nội dung nói về nỗi
khổ của người dân nghèo, hoặc châm biếm nhân tình thế thái, chẳng hạn:
Cha đời cái áo rách này
Mất chúng mất bạn vì mày áo ơi!
Sau này, nghiên cứu văn thơ cách mạng thời kỳ 1930 – 1945, tôi mới biết
ông giáo Năng làng Thượng Phú té ra là Nguyễn Văn Năng, một chiến sĩ cộng
sản từng bị bắt giam và đã sáng tác một số bài thơ trong tù, như bài: Đi Hà
Giang,Tôi không chết, tôi còn sống mãi…vv…Hồi tôi học ông, chắc ông đang bị

Quyết định 07/2007/QĐ-BTM ban hành Danh mục Hàng tiêu dùng để phục vụ việc xác định thời hạn nộp thuế nhập khẩu do Bộ trưởng Bộ Thương mại ban hành

BỘ THƯƠNG MẠI
*******
Số: 07/2007/QĐ-BTM
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
************
Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2007
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH DANH MỤC HÀNG TIÊU DÙNG ĐỂ PHỤC VỤ VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI HẠN NỘP
THUẾ NHẬP KHẨU
BỘ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI
Căn cứ Nghị định số 29/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2004 của Chính phủ quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thương mại;
Căn cứ Nghị định số 149/2005/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật Thuế Xuất khẩu, Thuế nhập khẩu số 045/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Xuất Nhập khẩu;
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Danh mục Hàng tiêu dùng để phục vụ việc xác định thời
hạn nộp thuế nhập khẩu.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Quyết
định số 04/2006/QĐ-BTM ngày 13 tháng 01 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Thương mại về việc ban hành
Danh mục Hàng tiêu dùng để phục vụ việc xác định thời hạn nộp thuế nhập khẩu.
Nơi nhận:
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng TW và Ban Kinh tế TW;
- Viện KSND tối cao;
- Toà án ND tối cao;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Cơ quan TW của các Đoàn thể;
- Cục Kiểm tra văn bản Bộ Tư pháp;
- Công báo;
- Các Sở Thương mại;
- Bộ Thương mại: Bộ trưởng, các Thứ trưởng,
các Vụ, Cục, các đơn vị trực thuộc;
- Lưu: VT, XNK.
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Phan Thế Ruệ
DANH MỤC
HÀNG TIÊU DÙNG ĐỂ PHỤC VỤ VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI HẠN NỘP THUẾ NHẬP KHẨU
(kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BTM ngày 28 tháng 02 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Thương mại)
Mã hàng Mô tả hàng hoá
Chương 2: Thịt và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ
0201 Thịt trâu, bò, tươi hoặc ướp lạnh
0202 Thịt trâu, bò, đông lạnh
0203 Thịt lợn, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh
0204 Thịt cừu hoặc dê, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh
0205 00 00 00 Thịt ngựa, lừa, la, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh
0206 Phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò, cừu, dê, ngựa, la, lừa,
tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh
0207 Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05,
tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh
0208 Thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác
tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh
0209 00 00 00 Mỡ lợn, không dính nạc, mỡ gia cầm, chưa nấu chảy hoặc chiết xuất
cách khác, tươi, ướp lạnh, đông lạnh, muối, ngâm nước muối, sấy khô
hoặc hun khói
0210 Thịt và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ, muối, ngâm nước
muối, sấy khô hoặc hun khói; bột mịn và bột thô ăn được từ thịt hoặc từ
phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ
Chương 3: Cá và động vật giáp xác, động vật thân mềm và động
vật thuỷ sinh không xương sống khác
0301 Cá sống (trừ loại để làm giống)
0302 Cá, tươi hoặc ướp lạnh, trừ filê cá (fillets) và thịt cá khác thuộc nhóm
03.04
0303 Cá đông lạnh, trừ filê cá (fillets) và các loại thịt cá khác thuộc nhóm
03.04
0304 Filê cá (fillets) và các loại thịt cá khác (băm hoặc không băm),
tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh
0305 Cá sấy khô, muối hoặc ngâm nước muối; cá hun khói, đã hoặc chưa làm
chín trước hoặc trong quá trình hun khói; bột mịn, bột thô và bột viên từ
cá, thích hợp dùng làm thức ăn cho người
0306 Động vật giáp xác, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, sống, tươi, ướp lạnh,
đông lạnh, sấy khô, muối hoặc ngâm nước muối; động vật giáp xác ch-
ưa bóc mai, vỏ, đã hấp chín hoặc luộc chín trong nước, đã hoặc chưa
ướp lạnh, đông lạnh, sấy khô, muối hoặc ngâm nước muối; bột thô, bột
mịn và bột viên của động vật giáp xác, thích hợp dùng làm thức ăn cho
người (trừ loại để làm giống)
0307 Động vật thân mềm, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, sống, tươi, ướp lạnh,
hoặc đông lạnh, sấy khô, muối hoặc ngâm nước muối; các loại động vật
thuỷ sinh không xương sống, trừ động vật giáp xác hoặc thân mềm,
sống, tươi, ướp lạnh, đông lạnh, sấy khô, muối hoặc ngâm nước muối;
bột thô, bột mịn và bột viên của động vật thuỷ sinh không xương sống,
trừ động vật giáp xác, thích hợp dùng làm thức ăn cho người
Chương 4: Sữa và các sản phẩm từ sữa; trứng chim và trứng gia
cầm; Mật ong tự nhiên; sản phẩm ăn được gốc động vật, chưa
được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác
0401 Sữa và kem, chưa cô đặc, chưa pha thêm đường hoặc chất ngọt khác
0402 Sữa và kem, cô đặc hoặc đã pha thêm đường hoặc chất ngọt khác
0403 Buttermilk (phụ phẩm thu được từ quá trình làm bơ sữa), sữa đông và
kem, sữa chua, kephir và sữa, kem khác đã lên men hoặc axit hóa, đã
hoặc chưa cô đặc hoặc pha thêm đường hoặc chất ngọt khác hoặc hư-
ơng liệu, hoa quả, quả hạch hoặc ca cao
0404 Whey, đã hoặc chưa cô đặc hoặc pha thêm đường hoặc chất ngọt khác;
các sản phẩm có chứa các thành phần sữa tự nhiên, đã hoặc chưa pha
thêm đường hoặc chất ngọt khác, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi
khác
0405 Bơ và các chất béo khác và các loại dầu chế từ sữa; chất phết bơ sữa
(dairy spreads)
0406 Pho mát và sữa đông dùng làm pho mát
0407 Trứng chim và trứng gia cầm nguyên vỏ, tươi, đã bảo quản hoặc làm
chín
0408 Trứng chim và trứng gia cầm đã bóc vỏ, lòng đỏ trứng, tươi, sấy khô,
hấp chín hoặc luộc chín trong nước, đóng bánh, đông lạnh hoặc bảo
quản cách khác, đã hoặc chưa thêm đường hoặc chất ngọt khác
0409 00 00 00 Mật ong tự nhiên
0410 Sản phẩm ăn được gốc động vật, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi
khác
Chương 6: Cây sống và các loại cây trồng khác; củ, rễ và các loại
tương tự; cành hoa rời và các loại cành lá trang trí
0603 Cành hoa và nụ hoa dùng làm hoa bó hoặc để trang trí, tươi, khô, đã
nhuộm, tẩy, thấm tẩm hoặc xử lý cách khác
0604 Tán lá, cành và các phần khác của cây, không có hoa hoặc nụ, các loại
cỏ, rêu địa y dùng làm nguyên liệu để làm hoa bó hoặc trang trí, tươi,
khô, đã nhuộm, tẩy, thấm tẩm hoặc xử lý cách khác
Chương 7: Rau và một số loại củ, thân củ, rễ ăn được
0701 90 00 00 - Loại khác
0702 00 00 00 Cà chua, tươi hoặc ướp lạnh
0703 Hành, hành tăm, tỏi, tỏi tây, các loại rau họ hành, tỏi khác, tươi hoặc -
ướp lạnh (trừ loại để làm giống)
0704 Bắp cải, hoa lơ, su hào, cải xoăn và các loại rau ăn được tương tự, tư-
ơi hoặc ướp lạnh
0705 Rau diếp, xà lách (lactuca sativa) và rau diếp, xà lách xoăn (cichorium
spp), tươi hoặc ướp lạnh
0706 Cà rốt, củ cải, củ cải đỏ làm rau trộn (sa-lát), cần củ, diếp củ, củ cải ri và
các loại củ rễ ăn được tương tự, tươi hoặc ướp lạnh
0707 00 00 00 Dưa chuột và dưa chuột ri, tươi hoặc ướp lạnh
0708 Rau đậu đã hoặc chưa bóc vỏ, tươi hoặc ướp lạnh
0709 Rau khác, tươi hoặc ướp lạnh
0710 Rau các loại (đã hoặc chưa hấp chín hoặc luộc chín trong nước), đông
lạnh
0711 Rau các loại đã bảo quản tạm thời (ví dụ: bằng khí sunfurơ, ngâm nước
muối, ngâm nước lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản
khác), nhưng không ăn ngay được
0712 Rau khô, ở dạng nguyên, cắt, thái lát, vụn hoặc ở dạng bột, nhưng chưa
chế biến thêm
0713 Các loại rau đậu khô, đã bóc vỏ quả, đã hoặc chưa bóc vỏ hạt hoặc làm
vỡ hạt (trừ loại để làm giống)
0714 Sắn, củ dong, củ lan, A-ti-sô Jerusalem, khoai lang, các loại củ và rễ t-
ương tự có hàm lượng bột hoặc i-nu-lin cao, tươi, ướp lạnh, đông
lạnh hoặc khô, đã hoặc chưa thái lát hoặc làm thành dạng viên; lõi cây
cọ sago
Chương 8: Quả và quả hạch ăn được;
vỏ quả thuộc chi cam quýt hoặc các loại dưa
0801 21 00 00 - - Chưa bóc vỏ
0801 22 00 00 - - Đã bóc vỏ
0801 32 00 00 - - Đã bóc vỏ
0802 Quả hạch khác, tươi hoặc khô, đã hoặc chưa bóc vỏ hoặc lột vỏ
0803 00 00 00 Chuối, kể cả chuối lá, tươi hoặc khô
0804 Quả chà là, sung, vả, dứa, bơ, ổi, xoài và măng cụt, tươi hoặc khô
0805 Quả thuộc chi cam quýt, tươi hoặc khô
0806 Quả nho, tươi hoặc khô
0807 Các loại dưa (kể cả dưa hấu) và đu đủ, tươi
0808 Quả táo, lê và qủa mộc qua, tươi
0809 Quả mơ, anh đào, đào (kể cả xuân đào), mận và mận gai, tươi
0810 Quả khác, tươi
0811 Quả và quả hạch, đã hoặc chưa hấp chín hoặc luộc chín trong nước,
đông lạnh, đã hoặc chưa thêm đường hoặc chất ngọt khác
0813 Quả khô, trừ các loại quả thuộc nhóm 0801 đến 0806; hỗn hợp các loại
quả hạch hoặc quả khô thuộc chương này
0814 00 00 00 Vỏ các loại quả thuộc chi cam quýt, hoặc các loại dưa (kể cả dưa hấu),
tươi, đông lạnh, khô hoặc bảo quản tạm thời trong nước muối, nước lưu
huỳnh hoặc trong các dung dịch bảo quản khác
Chương 9: Cà phê, chè, chè Paragoay và các loại gia vị
0901 21 - - Chưa khử chất ca-phê-in:
0901 22 - - Đã khử chất ca-phê-in:
0901 90 00 00 - Loại khác
0902 Chè, đã hoặc chưa pha hương liệu
0903 00 00 00 Chè Paragoay
0904 Hạt tiêu thuộc chi Piper; các loại quả chi Capsicum hoặc chi Pimenta,
khô, xay hoặc nghiền
0910 Gừng, nghệ tây, nghệ, lá rau thơm, lá nguyệt quế, ca-ry (curry) và các
loại gia vị khác
Chương 10: Ngũ cốc
1006 20 - Gạo lứt
1006 30 - Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng hạt hoặc hồ
1006 40 00 00 - Tấm
Chương 12: Hạt và quả có dầu; các loại ngũ cốc, hạt và quả khác;
cây công nghiệp hoặc cây dược liệu;
rơm, rạ và cây làm thức ăn gia súc
1206 00 00 00 Hạt hướng dương, đã hoặc chưa vỡ mảnh
Chương 15: Mỡ và dầu động vật hoặc thực vật và các sản phẩm
tách từ chúng; mỡ ăn được đã được chế biến;
các loại sáp động vật hoặc thực vật
1501 00 00 00 Mỡ lợn (kể cả mỡ từ mỡ lá) và mỡ gia cầm, trừ các loại mỡ thuộc nhóm
02.09 hoặc 15.03
1507 90 10 00 - - Dầu đã tinh chế
1507 90 90 00 - - Loại khác
1508 90 10 00 - - Dầu đã tinh chế
1508 90 90 00 - - Loại khác
1509 90 11 00 - - - Đóng gói với trọng lượng tịnh không quá 30 kg
1510 00 91 00 - - Dầu đã tinh chế
1510 00 99 00 - - Loại khác
1511 90 90 00 - - Loại khác
1512 19 10 00 - - - Dầu đã tinh chế
1512 19 90 00 - - - Loại khác
1513 29 10 00 - - - Dầu đã tinh chế
Chương 16: Các chế phẩm từ thịt,
cá hay động vật giáp xác, động vật thân mềm
hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống khác
TOÀN BỘ CHƯƠNG
Chương 17: Đường và các loại kẹo đường
1701 91 00 00 - - Đã pha thêm hương liệu hoặc chất màu
1701 99 - - Loại khác
1704 Các loại kẹo đường (kể cả sô-cô-la trắng), không chứa ca cao
Chương 18: Ca cao và các chế phẩm từ ca cao
1806 Sôcôla và chế phẩm thực phẩm khác có chứa ca cao (trừ loại đặc biệt
dành sử dụng cho trẻ em, chưa đóng gói để bán lẻ, mã số 1806 90 20
00)
Chương 19: Chế phẩm từ ngũ cốc, bột,
tinh bột hoặc sữa; các loại bánh
1901 10 - Chế phẩm dùng cho trẻ em đã đóng gói để bán lẻ:
1901 90 31 00 - - - Có chứa sữa
1901 90 33 00 - - - Loại khác, không chứa ca cao
1901 90 34 00 - - - Loại khác, chứa ca cao
1901 90 41 00 - - - Dạng bột
1901 90 49 00 - - - Dạng khác
1901 90 52 00 - - - Loại khác, không chứa ca cao
1901 90 53 00 - - - Loại khác, chứa ca cao
1902 Các sản phẩm bột nhào (pasta) đã hoặc chưa làm chín hoặc nhồi (thịt
hoặc các chất khác) hay chế biến cách khác, như spaghety, macaroni,
mì sợi, mì dẹt, gnocchi, ravioli, cannelloni; cut-cut (couscous), đã hoặc
chưa chế biến
1904 Thức ăn chế biến từ quá trình nổ hoặc rang ngũ cốc hoặc từ các sản
phẩm ngũ cốc (ví dụ: mảnh ngô chế biến từ bột ngô); ngũ cốc (trừ ngô)
ở dạng hạt, mảnh hoặc hạt đã làm thành dạng khác (trừ bột, tấm và bột
thô), đã làm chín sơ hoặc chế biến cách khác, chưa được chi tiết
hoặc ghi ở nơi khác
1905 Bánh mì, bánh ngọt, bánh quy và các loại bánh khác, có hoặc không
chứa ca cao; bánh thánh, vỏ viên nhộng dùng trong ngành dược, bánh
quế, bánh đa nem và các sản phẩm tương tự (trừ mã HS 1905 90 80
00)
Chương 20: Chế phẩm từ rau, quả, quả hạch
hoặc các phần khác của cây
TOÀN BỘ CHƯƠNG
Chương 21: Các chế phẩm ăn được khác
2101 Chất chiết xuất, tinh chất và các chất cô đặc từ cà phê, chè, chè
Paragoay và các chế phẩm có thành phần cơ bản là các sản phẩm này
hoặc có thành phần cơ bản là cà phê, chè, chè Paraguay; rễ rau diếp
xoăn rang và các chất khác thay thế cà phê rang, các chất chiết xuất,
tinh chất và các chất cô đặc từ các sản phẩm thay thế đó
2103 Nước xốt và các chế phẩm làm nước xốt; đồ gia vị hỗn hợp và bột canh
hỗn hợp; bột mịn và bột thô từ hạt mù tạt và mù tạt đã chế biến
2104 Súp, nước xuýt và các chế phẩm để làm súp, nước xuýt; chế phẩm thực
phẩm tổng hợp đồng nhất
2105 00 00 00 Kem lạnh (ice - cream) và sản phẩm ăn được tương tự khác, có hoặc
không chứa ca cao
2106 90 10 00 - - Đậu phụ đã làm khô và đậu phụ dạng thanh
2106 90 20 00 - - Si rô đã pha mầu hoặc hương liệu
2106 90 30 00 - - Kem không sữa
2106 90 91 00 - - - Chế phẩm thực phẩm cho trẻ thiếu lactase
2106 90 93 00 - - - Chế phẩm sử dụng cho trẻ em khác
2106 90 99 00 - - - Loại khác
Chương 22: Đồ uống, rượu và giấm
2201 Nước, kể cả nước khoáng tự nhiên hoặc nhân tạo và nước có ga, chưa
pha thêm đường hoặc chất ngọt khác hay hương liệu; nước đá và tuyết
2202 Nước, kể cả nước khoáng và nước có ga, đã pha thêm đường hoặc
chất ngọt khác hay hương liệu, và đồ uống không chứa cồn khác, không
bao gồm nước quả ép hoặc nước rau ép thuộc nhóm 20.09
2203 Bia sản xuất từ malt
2204 Rượu vang làm từ nho tươi, kể cả rượu vang cao độ; hèm nho trừ loại
thuộc nhóm 20.09
2205 Rượu vermourth và rượu vang khác làm từ nho tươi đã pha thêm hương
vị từ thảo mộc hoặc chất thơm
2206 Đồ uống đã lên men khác (ví dụ: vang táo, vang lê, vang mật ong); hỗn
hợp của đồ uống đã lên men và hỗn hợp của đồ uống đã lên men với đồ
uống không chứa cồn, chưa được chi tiết hay ghi ở nơi khác
2207 Cồn ê-ti-lích chưa biến tính có nồng độ cồn tính theo thể tích từ 80% trở
lên; cồn ê-ti-lich và rượu mạnh khác, đã biến tính, ở mọi nồng độ.
2208 Cồn ê-ti-lích chưa biến tính có nồng độ cồn dưới 80% tính theo thể tích;
rượu mạnh, rượu mùi và đồ uống có rượu khác.
2209 00 00 00 Giấm và chất thay thế giấm làm từ axit axetic
Chương 23: Phế liệu và phế thải từ ngành công nghiệp thực phẩm;
thức ăn gia súc đã chế biến.
2309 10 - Thức ăn cho chó hoặc mèo đã đóng gói để bán lẻ:
Chương 24: Thuốc lá và nguyên liệu thay thế
thuốc lá lá đã chế biến
2402 Xì gà, xì gà xén hai đầu, xì gà nhỏ và thuốc lá điếu, chế biến từ lá thuốc
lá hoặc từ các chất thay thế lá thuốc lá
2403 Thuốc lá lá đã chế biến và các chất thay thế thuốc lá lá đã chế biến
khác; thuốc lá "thuần nhất" hoặc thuốc lá "hoàn nguyên"; chiết xuất và
tinh chất thuốc lá
2403 10 11 00 - - - Thuốc lá lá đã được phối trộn
2403 10 19 00 - - - Loại khác
2403 91 00 00 - - Thuốc lá " thuần nhất" hoặc "hoàn nguyên"
2403 99 - - Loại khác (trừ mã HS 2403 99 10 00 và 2403 99 30 00)
Chương 33: Tinh dầu, các chất tựa nhựa; nước hoa,
mỹ phẩm hoặc các chế phẩm dùng cho vệ sinh
3303 00 00 00 Nước hoa và nước thơm
3304 Mỹ phẩm hoặc các chế phẩm để trang điểm và các chế phẩm dưỡng da
(trừ dược phẩm), kể cả các chế phẩm chống nắng hoặc bắt nắng; các
chế phẩm dùng để trang điểm móng tay, móng chân
3305 Chế phẩm dùng cho tóc
3306 Chế phẩm dùng cho vệ sinh răng hoặc miệng, kể cả kem và bột làm chặt
chân răng; chỉ tơ nha khoa, đã đóng gói để bán lẻ
3307 Các chế phẩm dùng trước, trong hoặc sau khi cạo mặt, các chất khử mùi
cơ thể, các chế phẩm dùng để tắm rửa, thuốc làm rụng lông và các chế
phẩm nước hoa, mỹ phẩm hoặc vệ sinh khác, chưa được chi tiết hoặc
ghi ở nơi khác; các chất khử mùi nhà (trong phòng) đã được pha chế,
có hoặc không có mùi thơm hoặc có đặc tính tẩy uế
Chương 34: Xà phòng, các chất hữu cơ hoạt động bề mặt, các chế
phẩm dùng để giặt, rửa, các chế phẩm bôi trơn, các loại sáp nhân
tạo, sáp chế biến, các chế phẩm dùng để đánh bóng hoặc tẩy sạch,
nến và các sản phẩm tương tự, bột nhão dùng làm hình mẫu, sáp
dùng trong nha khoa và các chế phẩm dùng trong nha khoa có
thành phần cơ bản là thạch cao.
3401 Xà phòng, các sản phẩm và các chế phẩm hữu cơ hoạt động bề mặt
dùng như xà phòng, ở dạng thỏi, miếng, bánh hoặc các hình dạng khác,
có hoặc không chứa xà phòng; các sản phẩm và các chế phẩm hữu cơ
hoạt động bề mặt dùng để làm sạch da, ở dạng lỏng hoặc ở dạng kem
và đã được đóng gói để bán lẻ, có hoặc không chứa xà phòng; giấy,
mền xơ, nỉ và sản phẩm không dệt, đã thấm tẩm, tráng hoặc phủ xà
phòng hoặc chất tẩy (trừ xà phòng ở dạng khác, phân nhóm 3401 20)
3402 20 - Chế phẩm đã đóng gói để bán lẻ:
3405 Chất đánh bóng và các loại kem dùng cho giày dép, đồ đạc, sàn nhà,
khuôn cửa, kính hoặc kim loại, các loại bột nhão và bột khô để cọ rửa và
chế phẩm tương tự (có hoặc không ở dạng giấy, mền xơ, tấm không
dệt, plastic xốp hoặc cao su xốp, đã được thấm tẩm, tráng hoặc phủ
bằng các chế phẩm trên) trừ các loại sáp thuộc nhóm 34.04 (trừ mã HS
3405 40)
3406 00 00 00 Nến, nến cây và các loại tương tự
Chương 36: Chất nổ; các sản phẩm pháo; diêm; các hợp kim tự
cháy, dẫn lửa; các chế phẩm dễ cháy khác
3604 90 20 00 - - Pháo hoa nhỏ và nụ nổ dùng để làm đồ chơi
3605 Diêm, trừ các sản phẩm pháo thuộc nhóm 36.04
Chương 38: Các sản phẩm hoá chất khác
3808 10 20 00 - - Hương vòng chống muỗi (kể cả bột hương chống muỗi đã trộn sơ bộ)
3808 10 30 00 - - Tấm chống muỗi
Chương 39: Plastic và các sản phẩm bằng plastic
3918 Tấm trải sàn bằng plastic, có hoặc không tự dính, dạng cuộn hoặc dạng
tấm rời để ghép: tấm phủ tường và phủ trần bằng plastics, như đã xác
định trong Chú giải 9 của chương này
3922 Bồn tắm, bồn tắm vòi sen, bồn rửa, chậu rửa, bệ rửa, bệ và nắp xí bệt,
bình xối nước và các thiết bị vệ sinh tương tự, bằng plastic
3924 Bộ đồ ăn, bộ đồ dùng nhà bếp, các sản phẩm gia dụng và các sản phẩm
phục vụ vệ sinh khác, bằng plastic
3926 20 Hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc (kể cả găng tay, găng hở ngón
và găng bao tay (trừ mã HS 3926 20 50 00)
3926 30 00 00 - Linh kiện lắp vào đồ đạc trong nhà, trong xe cộ và các loại tương tự
3926 40 00 00 - Tượng nhỏ và các đồ trang trí khác
3926 90 92 - - - Tấm thẻ để trình bày đồ nữ trang hoặc những đồ vật nhỏ để trang
điểm cá nhân; chuỗi hạt; khuôn giầy:
3926 90 93 00 - - - Dây vợt racket có chiều dài không quá 15 m đã đóng gói để bán lẻ
3926 90 96 00 - - - Chuỗi tràng hạt cho người cầu nguyện
Chương 40: Cao su và các sản phẩm bằng cao su
4014 Sản phẩm vệ sinh hoặc y tế (kể cả núm vú cao su), bằng cao su lưu hóa
trừ cao su cứng, có hoặc không kèm theo các phụ kiện lắp ráp bằng cao
su cứng
4015 19 00 00 - - Loại khác
4016 91 - - Tấm lót sàn và tấm trải sàn:
4016 99 94 00 - - - - Thảm và tấm trải bàn
Chương 42: Các sản phẩm bằng da thuộc; bộ đồ yên cương; các
mặt hàng du lịch, túi xách và các loại đồ chứa tương tự; các sản
phẩm làm từ ruột động vật (trừ tơ từ ruột con tằm)
4201 00 00 00 Bộ đồ yên cương dùng cho các loại động vật (kể cả dây kéo, dây dắt,
miếng đệm đầu gối, đai hoặc rọ bịt mõm, vải lót yên, túi yên, áo chó và
các loại tương tự), làm bằng vật liệu bất kỳ
4202 Hòm, va ly, xắc đựng đồ nữ trang, cặp tài liệu, cặp sách, túi sách, túi cặp
học sinh, bao kính, bao ống nhòm, hộp camera, hộp nhạc cụ, bao súng,
bao súng ngắn mắc vào yên ngựa và các loại đồ chứa tương tự; túi
du lịch, túi đựng đồ ăn hoặc đồ uống có phủ lớp cách, túi đựng đồ vệ
sinh cá nhân, ba lô, túi xách tay, túi đi chợ, xắc cốt, ví, túi đựng bản đồ,
hộp đựng thuốc lá điếu, hộp đựng thuốc lá sợi, túi để dụng cụ, túi thể
thao, túi đựng chai rượu, hộp đựng đồ trang sức, hộp đựng phấn, hộp
đựng dao kéo và các loại túi hộp tương tự bằng da thuộc hoặc da thuộc
tổng hợp, bằng tấm plastic, bằng vật liệu dệt, bằng sợi lưu hóa hoặc
bằng bìa, hoặc được phủ toàn bộ hay chủ yếu bằng các vật liệu trên
hoặc bằng giấy
4203 Hàng may mặc và đồ phụ trợ quần áo bằng da thuộc hoặc bằng da tổng
hợp (trừ mã 4203 29 10 00, 4203 21 00 00, 4203 40 00 00)
Chương 43: Da lông và da lông nhân tạo;
các sản phẩm làm từ da lông và da lông nhân tạo
4303 Hàng may mặc, đồ phụ trợ quần áo và các vật phẩm khác bằng da lông
(trừ 4303 90 20 00)
4304 Da lông nhân tạo và các sản phẩm làm bằng da lông nhân tạo (trừ 4304
00 20 00)
Chương 44: Gỗ và các mặt hàng bằng gỗ, than từ gỗ
4414 00 00 00 Khung tranh, khung ảnh, khung gương bằng gỗ hoặc các sản phẩm
bằng gỗ tương tự
4419 00 00 00 Bộ đồ ăn, bộ đồ làm bếp bằng gỗ
4420 Gỗ khảm, dát; tráp, và các loại hộp đựng đồ kim hoàn, đựng dao kéo và
các sản phẩm tương tự, bằng gỗ; tượng nhỏ và đồ trang trí bằng gỗ; các
loại đồ dùng bằng gỗ không thuộc chương 94
4421 10 00 00 - Mắc treo quần áo
4421 90 92 00 - - - Chuỗi hạt cầu nguyện
4421 90 93 00 - - - Chuỗi hạt loại khác
4421 90 94 00 - - - Tăm
4421 90 99 00 - - - Loại khác
Chương 46: Sản phẩm làm từ rơm, cỏ giấy hoặc từ các loạivật liệu
tết bện khác; các sản phẩm bằng liễu gai và song mây
4601 20 10 00 - - Chiếu và thảm
4601 20 20 00 - - Mành
4601 99 10 00 - - - Chiếu và thảm
Chương 48: Giấy và cáctông; các sản phẩm làm bằng bột giấy,
bằng giấy hoặc bằng cáctông
4814 Giấy dán tường và các loại tấm phủ tường tương tự; tấm che cửa sổ
trong suốt bằng giấy
4815 00 00 00 Tấm phủ sàn có thành phần cơ bản là giấy hoặc cáctông, đã hoặc chưa
cắt theo kích cỡ
4817 Phong bì, bưu thiếp, bưu thiếp trơn và các loại danh thiếp bằng giấy
hoặc cáctông; các loại hộp, túi ví, cặp tài liệu và cặp hồ sơ in sẵn, bằng
giấy hoặc cáctông, đựng các loại văn phòng phẩm
4818 Giấy vệ sinh và giấy tương tự, tấm lót xenlulô hoặc súc xơ sợi xenlulo
dùng cho các mục đích nội trợ hoặc vệ sinh, dạng cuộn có chiều rộng
không quá 16 cm hoặc cắt theo hình dạng, kích thước; khăn lau tay, giấy
lụa lau tay, khăn mặt, khăn trải bàn, khăn ăn, tã lót cho trẻ sơ sinh, băng
vệ sinh, khăn trải giường, các đồ dùng nội trợ, vệ sinh hoặc các vật
phẩm dùng cho bệnh viện tương tự, các vật phẩm trang trí, đồ phụ kiện
may mặc bằng bột giấy, giấy, tấm lót xenlulo hoặc súc xơ sợi xenlulo
(trừ 4818 50 10 00)
4819 Thùng, hộp, va li, túi xách và các loại bao bì khác bằng giấy, cáctông,
tấm lót xenlulo hoặc súc xơ sợi xenlulo; hộp đựng hồ sơ (files), khay
thư và các vật phẩm tương tự bằng giấy hoặc cáctông dùng cho văn
phòng, cửa hàng và những nơi tương tự
4820 Sổ đăng ký, sổ sách kế toán, vở ghi chép, sổ đặt hàng, quyển biên lai,
tập viết thư, tập ghi nhớ, sổ nhật ký và các ấn phẩm tương tự, vở bài
tập, quyển giấy thấm, quyển bìa đóng hồ sơ (loại tờ rời hoặc loại khác),
bìa kẹp hồ sơ, vỏ bìa kẹp hồ sơ, biểu mẫu thương mại các loại, tập giấy
ghi chép có chèn giấy than kê lót và các vật phẩm văn phòng khác, bằng
giấy hoặc cáctông, album dùng để đựng mẫu hoặc để các bộ su tập và
các loại bìa sách, bằng giấy hoặc cáctông
4823 60 00 00 - Khay, bát, đĩa, cốc, chén và các vật phẩm tương tự bằng giấy hoặc
cáctông
4823 90 10 00 - - Giấy vàng mã
Chương 49: Sách, báo, tranh ảnh và các sản phẩm khác của công
nghiệp in; các loại bản thảo viết bằng tay,
đánh máy và sơ đồ
4909 00 00 00 Bưu thiếp in hoặc bưu ảnh, các loại thiếp chúc mừng in sẵn, điện tín,
thư tín, thông báo, có hoặc không có minh hoạ, có hoặc không có phong
bì kèm theo hoặc trang trí
4910 00 00 00 Các loại lịch in, kể cả bloc lịch
Chương 57: Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác
TOÀN BỘ CHƯƠNG
Chương 61: Quần áo và hàng may mặc phụ trợ,
dệt kim hoặc móc
TOÀN BỘ CHƯƠNG
(trừ nhóm 6113 và 6114 30 10 00)
Chương 62 : Quần áo và hàng may mặc phụ trợ, không dệt kim
hoặc móc
TOÀN BỘ CHƯƠNG
(trừ 6210, 6211 33 10 00, 6211 33 20 00, 6211 39 10 00, 6211 43 10 00,
6211 43 30 00, 6217 10 20 00, 6217 10 90 00, 6217 90 00 00)
Chương 63: Các mặt hàng dệt đã hoàn thiện khác; bộ vải;
Quần áo dệt cũ và các loại hàng dệt cũ khác; vải vụn
6301 Chăn và chăn du lịch
6302 Khăn trải giường, khăn trải bàn, khăn trong phòng vệ sinh và khăn nhà
bếp
6303 Màn che (kể cả rèm trang trí) và rèm mờ che phía trong; diềm màn che
hoặc diềm giừơng
6304 Các sản phẩm trang trí nội thất khác, trừ các loại thuộc nhóm 94.04
6307 10 - Khăn lau sàn, khăn lau bát đĩa, khăn lau bụi và các loại khăn lau tương
tự:
6308 00 00 00 Bộ vải bao gồm vải và chỉ, có hoặc không có phụ kiện dùng để làm chăn,
thảm trang trí, khăn trải bàn hoặc khăn ăn đã thêu, hoặc các sản phẩm
dệt tương tự đóng gói sẵn để bán lẻ
6309 00 00 00 Quần áo và các sản phẩm may mặc đã qua sử dụng khác
Chương 64: Giày, dép, ghệt và các sản phẩm tương tự;
các bộ phận của các sản phẩm trên
TOÀN BỘ CHƯƠNG trừ nhóm 6406
Chương 65: Mũ và các vật đội đầu khác và
các bộ phận của chúng
6503 00 00 00 Mũ nỉ và các vật đội đầu bằng nỉ khác, làm từ thân mũ hình nón, hình
chuông, thân mũ chóp bằng thuộc nhóm 65.01 đã hoặc chưa có lót hoặc
trang trí
6504 00 00 00 Các loại mũ và các vật đội đầu khác, được làm bằng cách tết hoặc ghép
các dải làm bằng chất liệu bất kỳ đã hoặc chưa có lót, hoặc trang trí
6505 Các loại mũ và các vật đội đầu khác, dệt kim hoặc móc hoặc làm từ ren,
phớt hoặc vải dệt khác ở dạng mảnh (trừ dạng dải), đã hoặc chưa lót
hoặc trang trí; lưới bao tóc bằng vật liệu bất kỳ, đã hoặc chưa có lót
hoặc trang trí
6506 Mũ và các vật đội đầu khác, đã hoặc chưa lót hoặc trang trí (trừ mũ bảo
hộ công nghiêp, mũ bảo hiểm cho lính cứu hoá thuộc mã 6506 10 20 00,
6506 10 30 00, 6506 10 40 00
Chương 66: Ô, dù che, ba toong, gậy tay cầm có thể
chuyển thành ghế, roi gậy điều khiển, roi điều khiển
súc vật thồ kéo và các bộ phận của các sản phẩm trên
6601 Các loại ô, dù (kể cả ô có cán là ba toong, dù che trong vườn và các loại
ô, dù tương tự)
6602 00 00 00 Ba toong, gậy tay cầm có thể chuyển thành ghế, roi da, roi điều khiển
súc vật thồ, kéo và các loại tương tự
Chương 67: Lông vũ và lông tơ chế biến,
các sản phẩm bằng lông vũ hoặc lông tơ; hoa nhân tạo;
các sản phẩm làm từ tóc người
6702 Hoa, cành, lá, quả nhân tạo và các phần của chúng; các sản phẩm làm
bằng hoa, lá hoặc quả nhân tạo
6703 00 00 00 Tóc người đã được chải, chuốt, tẩy hoặc xử lý bằng cách khác; lông cừu
hoặc lông động vật khác hoặc loại vật liệu dệt khác, được chế biến để
dùng làm tóc giả hoặc sản phẩm tương tự
6704 Tóc giả, râu, lông mi, lông mày giả, độn tóc và các loại sản phẩm tương
tự bằng tóc người, bằng lông động vật hoặc bằng các loại vật liệu dệt;
các sản phẩm bằng tóc người chưa được chi tiết hay ghi ở nơi khác
Chương 69: Đồ gốm, sứ
6910 Bồn rửa, chậu giặt, bệ chậu giặt, bồn tắm, chậu vệ sinh dành cho phụ
nữ, bệ xí bệt, bình xối nước, bệ đi tiểu nam và các sản phẩm vệ sinh tư-
ơng tự gắn cố định bằng gốm, sứ
6911 Bộ đồ ăn, bộ đồ nhà bếp, đồ gia dụng và đồ sứ vệ sinh khác bằng sứ
6912 00 00 00 Bộ đồ ăn, bộ đồ nhà bếp, đồ gia dụng và đồ vệ sinh khác bằng gốm, trừ
loại bằng sứ
6913 Các loại tượng nhỏ và các loại sản phẩm trang trí bằng gốm, sứ khác
6914 Các sản phẩm khác bằng gốm, sứ
Chương 70 : Thuỷ tinh và các sản phẩm bằng thuỷ tinh
7013 Bộ đồ ăn, đồ nhà bếp, đồ vệ sinh, đồ dùng văn phòng, đồ trang trí nội
thất hoặc đồ dùng cho các mục đích tương tự bằng thủy tinh (trừ các
sản phẩm thuộc nhóm 70.10 hoặc 70.18)
7018 10 00 00 - Hạt thủy tinh, thủy tinh giả ngọc trai, thủy tinh giả đá quý hoặc đá bán
quý và các đồ vật nhỏ tương tự bằng thủy tinh
7018 90 90 00 - - Loại khác
Chương 71: Ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quí hoặc đá bán
quí, kim loại quí, kim loại được dát phủ kim loại quí, và các sản
phẩm của chúng; đồ kim hoàn giả; tiền kim loại
7113 Đồ kim hoàn và các bộ phận rời của đồ kim hoàn, bằng kim loại quý
hoặc kim loại được dát phủ kim loại quý
7114 Đồ kỹ nghệ vàng hoặc bạc và các bộ phận rời của đồ kỹ nghệ vàng bạc,
bằng kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý
7115 Các sản phẩm khác bằng kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý
7116 Sản phẩm bằng ngọc trai thiên nhiên hoặc nuôi cấy, đá quý và đá bán
quý (thiên nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo)
7117 Đồ kim hoàn giả
Chương 73: Các sản phẩm bằng sắt hoặc thép
7321 Bếp lò, vỉ lò, lò sấy, bếp nấu (kể cả loại có nồi hơi phụ dùng cho hệ thống nhiệt
trung tâm), vỉ nướng, lò nướng, lò ga hình vòng, lò hâm nóng dạng tấm và
các loại đồ dùng gia đình không dùng điện tương tự và các bộ phận rời của
chúng, bằng sắt hoặc thép
7323 Bộ đồ ăn, đồ nhà bếp, các loại gia dụng khác và các bộ phận rời của
chúng, bằng sắt hoặc thép; bùi nhùi bằng sắt hoặc thép; miếng cọ nồi và
cọ rửa hoặc đánh bóng, bao tay và các loại tương tự bằng sắt hoặc thép
7324 Đồ trang bị trong nhà vệ sinh và các bộ phận rời của chúng, bằng sắt
hoặc thép
Chương 74: Đồng và các sản phẩm bằng đồng
7417 00 00 00 Bếp nấu hoặc các thiết bị nhiệt dùng cho gia đình không sử dụng điện và
các bộ phận rời của chúng, bằng đồng
7418 Bộ đồ ăn, đồ nhà bếp hoặc đồ gia dụng khác và các bộ phận rời của
chúng, bằng đồng; miếng cọ nồi, cọ rửa hoặc đánh bóng, bao tay và các
loại tương tự bằng đồng; đồ trang bị trong nhà vệ sinh và các bộ phận rời
của chúng, bằng đồng
Chương 76: Nhôm và các sản phẩm bằng nhôm
7615 Bộ đồ ăn, đồ nhà bếp hoặc các loại đồ gia dụng khác và các bộ phận
của chúng bằng nhôm; miếng cọ nồi, cọ rửa, đánh bóng, bao tay và các
loại tương tự bằng nhôm; đồ trang bị trong nhà vệ sinh và phụ tùng của
nó, bằng nhôm
Chương 82: Dụng cụ, đồ nghề, dao, kéo và bộ đồ ăn
làm từ kim loại cơ bản; các bộ phận của chúng
8210 00 00 00 Đồ dùng cơ khí cầm tay, nặng 10 kg trở xuống dùng để chế biến, pha
chế hoặc phục vụ việc làm đồ ăn hoặc đồ uống
8211 91 00 00 - - Dao ăn có lưỡi cố định
8211 92 10 00 - - - Dao nhíp
8212 10 00 00 - Dao cạo
8212 20 10 00 - - Lưỡi dao cạo kép
8213 00 00 00 Kéo, kéo thợ may và các loại tương tự, và lưỡi của chúng
8214 20 00 00 - Bộ, hộp đồ dùng cắt sửa móng tay, móng chân (kể cả dũa móng tay,
móng chân)
8215 Thìa, dĩa, muôi, thìa hớt kem, hớt bọt, đồ xúc bánh, dao ăn cá, dao cắt
bơ, kẹp gắp đường và các loại đồ dùng nhà bếp, bộ đồ ăn tương tự
Chương 83: Hàng tạp hoá làm từ kim loại cơ bản
8301 30 90 00 - - Loại khác
8301 70 00 00 - Chìa rời
8302 42 00 00 - - Loại khác, dùng cho đồ đạc trong nhà
8302 50 00 00 - Giá để mũ, mắc mũ, chân giá đỡ và các loại giá cố định tương tự
8306 Chuông, chuông đĩa và các loại tương tự, không dùng điện, bằng kim
loại cơ bản, tượng nhỏ và đồ trang trí khác bằng kim loại cơ bản; khung
ảnh, khung tranh và các loại khung tương tự, bằng kim loại cơ bản; g-
ương bằng kim loại cơ bản
Chương 84: Lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và
trang thiết bị cơ khí; các bộ phận của chúng
8414 51 - - Quạt bàn, quạt sàn, quạt tường, quạt cửa sổ, quạt trần hoặc quạt
mái, có động cơ điện độc lập công suất không quá 125 W:
8415 10 10 00 - - Có công suất không quá 21,1 kW
8415 81 91 00 - - - - Có công suất không quá 21,1 kW
8415 82 91 00 - - - - Có công suất không quá 21,1 kW
8415 83 91 00 - - - - Có công suất không quá 21,1 kW
8418 10 10 00 - - Loại dùng cho gia đình
8418 21 00 00 - - Loại nén
8418 22 00 00 - - Loại hút, dùng điện
8418 29 00 00 - - Loại khác
8418 30 10 00 - - Dung tích không quá 200 lít
8418 40 10 00 - - Dung tích không quá 200 lít

Tài liệu Quản lý nhà nước về kinh tế -Chương 3 pdf

Chương III
Chương III


CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP
CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP
QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC
QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC
VỀ KINH TẾ
VỀ KINH TẾ
TS. Đỗ Thị Hải Hà
TS. Đỗ Thị Hải Hà
Giáo trình
Giáo trình
Quản lý nhà nước về kinh tế
Quản lý nhà nước về kinh tế
, 2008, Trường ĐH Kinh tế quốc dân,
, 2008, Trường ĐH Kinh tế quốc dân,
Nxb ĐH Kinh tế quốc dân
Nxb ĐH Kinh tế quốc dân
2
I. CÔNG CỤ QLKT
I. CÔNG CỤ QLKT
1.
1.
Khái niệm:
Khái niệm:
L
L
à tổng thể những
à tổng thể những
phương tiện hữu hình và vô hình mà
phương tiện hữu hình và vô hình mà
NN sử dụng để tác động lên mọi chủ
NN sử dụng để tác động lên mọi chủ
thể kinh tế trong xã hội nhằm thực
thể kinh tế trong xã hội nhằm thực
hiện mục tiêu quản lý kinh tế quốc
hiện mục tiêu quản lý kinh tế quốc
dân
dân
3
I. CÔNG CỤ QLKT
I. CÔNG CỤ QLKT
2.
2.
C
C
ác loại công cụ chủ yếu
ác loại công cụ chủ yếu
:
:
a)
a)
Pháp luật:
Pháp luật:
là hệ thống các quy tắc xử sự
là hệ thống các quy tắc xử sự
mang tính bắt buộc chung do nhà nước
mang tính bắt buộc chung do nhà nước
đặt ra, thực hiện và bảo vệ nhằm mục
đặt ra, thực hiện và bảo vệ nhằm mục
tiêu bảo toàn và phát triển xã hội theo
tiêu bảo toàn và phát triển xã hội theo
các đặc trưng đã định.
các đặc trưng đã định.

Hình thức biểu hiện:
Hình thức biểu hiện:
-
-
VB quy phạm pháp luật
VB quy phạm pháp luật
-
-
VB áp dụng quy phạm pháp luật
VB áp dụng quy phạm pháp luật
4
I. CÔNG CỤ QLKT
I. CÔNG CỤ QLKT
2.
2.
C
C
ác loại công cụ chủ yếu
ác loại công cụ chủ yếu
:
:
a)
a)
Pháp luật:
Pháp luật:

Vai trò
Vai trò
:
:
-
Xác lập trật tự kỷ cương xã hội cho các hoạt
Xác lập trật tự kỷ cương xã hội cho các hoạt
động kinh tế
động kinh tế
-
Tạo cơ sở pháp lý thực hiện quyền bình
Tạo cơ sở pháp lý thực hiện quyền bình
đẳng trong kinh tế
đẳng trong kinh tế
-
Tạo cơ sở pháp lý cho việc gắn phát triển
Tạo cơ sở pháp lý cho việc gắn phát triển
kinh tế với bảo vệ môi trường và độc lập
kinh tế với bảo vệ môi trường và độc lập
chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
5
I. CÔNG CỤ QLKT
I. CÔNG CỤ QLKT
2.
2.
C
C
ác loại công cụ chủ yếu
ác loại công cụ chủ yếu
:
:
b)
b)
Kế hoạch
Kế hoạch

Khái niệm
Khái niệm
: kế hoạch là tập hợp các mục tiêu
: kế hoạch là tập hợp các mục tiêu
phải làm và các phương tiện, nguồn lực,
phải làm và các phương tiện, nguồn lực,
phương thức tiến hành để đạt tới các mục tiêu
phương thức tiến hành để đạt tới các mục tiêu
đã định.
đã định.

Phân loại:
Phân loại:
-
Chiến lược phát triển kinh tế đất nước
Chiến lược phát triển kinh tế đất nước
-
Quy hoạch phát triển
Quy hoạch phát triển
-
Các kế hoạch cụ thể (dài hạn, ngắn hạn, trung hạn)
Các kế hoạch cụ thể (dài hạn, ngắn hạn, trung hạn)
-
Chương trình
Chương trình
-
Dự án
Dự án
6
I. CÔNG CỤ QLKT
I. CÔNG CỤ QLKT
2.
2.
C
C
ác loại công cụ chủ yếu
ác loại công cụ chủ yếu
:
:
b)
b)
Kế hoạch
Kế hoạch

Vai trò
Vai trò
:
:
-
Kế hoạch là sự tính toán, cân nhắc kỹ trước khi
Kế hoạch là sự tính toán, cân nhắc kỹ trước khi
hành động, nhờ đó rủi ro, ách tắc sẽ bị hạn
hành động, nhờ đó rủi ro, ách tắc sẽ bị hạn
chế; các nguồn lực được sử dụng tốt.
chế; các nguồn lực được sử dụng tốt.
-
Kế hoạch vạch viễn cảnh tương lai cho con
Kế hoạch vạch viễn cảnh tương lai cho con
người, tạo niềm tin hành động tích cực cho con
người, tạo niềm tin hành động tích cực cho con
người
người
-
Kế hoạch là cơ sở để cho công tác kiểm tra có
Kế hoạch là cơ sở để cho công tác kiểm tra có
căn cứ thực hiện
căn cứ thực hiện
7
I. CÔNG CỤ QLKT
I. CÔNG CỤ QLKT
2.
2.
C
C
ác loại công cụ chủ yếu
ác loại công cụ chủ yếu
:
:
c)
c)
Chính sách
Chính sách

Khái niệm
Khái niệm
:
:
-
Kế hoạch là sự tính toán, cân nhắc kỹ trước khi
Kế hoạch là sự tính toán, cân nhắc kỹ trước khi
hành động, nhờ đó rủi ro, ách tắc sẽ bị hạn
hành động, nhờ đó rủi ro, ách tắc sẽ bị hạn
chế; các nguồn lực được sử dụng tốt.
chế; các nguồn lực được sử dụng tốt.
-
Kế hoạch vạch viễn cảnh tương lai cho con
Kế hoạch vạch viễn cảnh tương lai cho con
người, tạo niềm tin hành động tích cực cho con
người, tạo niềm tin hành động tích cực cho con
người
người
-
Kế hoạch là cơ sở để cho công tác kiểm tra có
Kế hoạch là cơ sở để cho công tác kiểm tra có
căn cứ thực hiện
căn cứ thực hiện
8
I. CÔNG CỤ QLKT
I. CÔNG CỤ QLKT
2.
2.
C
C
ác loại công cụ chủ yếu
ác loại công cụ chủ yếu
:
:
c)
c)
Chính sách
Chính sách

Hệ thống chính sách
Hệ thống chính sách
: là toàn bộ các chính
: là toàn bộ các chính
sách mà nhà nước sử dụng trong mỗi giai đoạn
sách mà nhà nước sử dụng trong mỗi giai đoạn
phát triển cụ thể
phát triển cụ thể
-
Chính sách cơ cấu kinh tế
Chính sách cơ cấu kinh tế
-
Chính sách các thành phần kinh tế
Chính sách các thành phần kinh tế
-
Chính sách thuế
Chính sách thuế
-
Chính sách đối ngoại, v.v.
Chính sách đối ngoại, v.v.
9
I. CÔNG CỤ QLKT
I. CÔNG CỤ QLKT
2.
2.
C
C
ác loại công cụ chủ yếu
ác loại công cụ chủ yếu
:
:
c)
c)
Chính sách
Chính sách

Vai trò
Vai trò
:
:
-
Là các giải pháp quản lý theo hướng trọng tâm,
Là các giải pháp quản lý theo hướng trọng tâm,
trọng điểm
trọng điểm
-
Là sự động não, cân nhắc tính toán của nhà
Là sự động não, cân nhắc tính toán của nhà
nước
nước
-
Là cách khai thác các mặt mạnh, hạn chế các
Là cách khai thác các mặt mạnh, hạn chế các
mặt yếu cụ thể nào đó của nhà nước
mặt yếu cụ thể nào đó của nhà nước
10
I. CÔNG CỤ QLKT
I. CÔNG CỤ QLKT
2.
2.
C
C
ác loại công cụ chủ yếu
ác loại công cụ chủ yếu
:
:
d)
d)
Tài sản quốc gia
Tài sản quốc gia

Khái niệm
Khái niệm
: Tài sản quốc gia là tổng thể các
: Tài sản quốc gia là tổng thể các
nguồn lực mà nhà nước làm chủ, có thể đưa ra
nguồn lực mà nhà nước làm chủ, có thể đưa ra
khai thác phục vụ mục tiêu phát triển đất nước.
khai thác phục vụ mục tiêu phát triển đất nước.

Các loại tài sản:
Các loại tài sản:
-
Ngân sách nhà nước: là toàn thể các khoản thu
Ngân sách nhà nước: là toàn thể các khoản thu
chi hàng năm của nhà nước được Quốc hội
chi hàng năm của nhà nước được Quốc hội
thông qua.
thông qua.
-
Tài nguyên thiên nhiên: đất đai, biển cả, bầu
Tài nguyên thiên nhiên: đất đai, biển cả, bầu
trời, v.v.
trời, v.v.
-
Công khố: là kho bạc nhà nước và các nguồn
Công khố: là kho bạc nhà nước và các nguồn
dự trữ có giá trị (ngoại tệ, vàng, đá quý, di sản
dự trữ có giá trị (ngoại tệ, vàng, đá quý, di sản
có giá trị thương mại, v.v.)
có giá trị thương mại, v.v.)
11
I. CÔNG CỤ QLKT
I. CÔNG CỤ QLKT
2.
2.
C
C
ác loại công cụ chủ yếu
ác loại công cụ chủ yếu
:
:
d)
d)
Tài sản quốc gia
Tài sản quốc gia

Các loại tài sản:
Các loại tài sản:
-
Kết cấu hạ tầng: là tập hợp các trang bị, các
Kết cấu hạ tầng: là tập hợp các trang bị, các
công trình vật hoá nhằm tạo môi trường chuyển
công trình vật hoá nhằm tạo môi trường chuyển
dịch cho sản xuất và đời sống của con người.
dịch cho sản xuất và đời sống của con người.
-
Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước
-
Các chuyên gia đầu ngành khoa học
Các chuyên gia đầu ngành khoa học

Vai trò:
Vai trò:
Là các đầu vào quan trọng của sự
Là các đầu vào quan trọng của sự
phát triển kinh tế
phát triển kinh tế
12
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP QLNN
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP QLNN
VỀ KINH TẾ
VỀ KINH TẾ
1.
1.
Khái niệm:
Khái niệm:
Các phương pháp quản lý của
Các phương pháp quản lý của
nhà nước về kinh tế là tổng thể các cách
nhà nước về kinh tế là tổng thể các cách
thức tác động có chủ đích và có thể có của
thức tác động có chủ đích và có thể có của
nhà nước lên hệ thống kinh tế quốc dân,
nhà nước lên hệ thống kinh tế quốc dân,
nhằm đạt được mục tiêu quản lý kinh tế - xã
nhằm đạt được mục tiêu quản lý kinh tế - xã
hội đặt ra.
hội đặt ra.
NX: - Phương pháp có tính năng động
NX: - Phương pháp có tính năng động


- Tính lựa chọn
- Tính lựa chọn
13
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP QLNN
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP QLNN
VỀ KINH TẾ
VỀ KINH TẾ
2.
2.
Phương pháp hành chính- tổ chức
Phương pháp hành chính- tổ chức
.
.
a)
a)
Khái niệm:
Khái niệm:


các phương pháp hành chính trong
các phương pháp hành chính trong
quản lý kinh tế của nhà nước là các cách tác động
quản lý kinh tế của nhà nước là các cách tác động
trực tiếp bằng các quyết định dứt khoát mang tính
trực tiếp bằng các quyết định dứt khoát mang tính
bắt buộc của nhà nước lên đối tượng quản lý
bắt buộc của nhà nước lên đối tượng quản lý
nhằm đạt được mục tiêu đặt ra.
nhằm đạt được mục tiêu đặt ra.
b)
b)
Vai trò:
Vai trò:



Xác lập trật tự cho các đối tượng kinh tế hoạt
Xác lập trật tự cho các đối tượng kinh tế hoạt
động
động

Giải quyết vấn đề nhanh chóng, dứt khoát
Giải quyết vấn đề nhanh chóng, dứt khoát

Khâu nối các phương pháp khác lại
Khâu nối các phương pháp khác lại
14
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP QLNN
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP QLNN
VỀ KINH TẾ
VỀ KINH TẾ
2.
2.
Phương pháp hành chính- tổ chức
Phương pháp hành chính- tổ chức
.
.
c)
c)
Hình thức thực hiện:
Hình thức thực hiện:

Ban hành luật pháp kinh tế và quản lý có
Ban hành luật pháp kinh tế và quản lý có
liên quan
liên quan

Tiêu chuẩn hoá cán bộ, bộ máy
Tiêu chuẩn hoá cán bộ, bộ máy

Nâng cao chất lượng các quyết định
Nâng cao chất lượng các quyết định

Quyết định 110/2007/QĐ-UBND phê duyệt Chương trình phát triển nhà ở trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 do Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành

UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
*****
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
*******
Số: 110/2007/QĐ-UBND Vinh, ngày 21 tháng 09 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH
V/V PHÊ DUYỆT CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN ĐẾN
NĂM 2010, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật Nhà ở ngày 29/11/2005;
Căn cứ Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà
ở;
Căn cứ Chỉ thị số 34/2006/CT-TTr ngày 26/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành
Luật Nhà ở;
Căn cứ Quyết định số 76/2004/QĐ-TTg ngày 06/5/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt định
hướng phát triển nhà đến năm 2020;
Căn cứ Nghị quyết số 187/2007/NQ-HĐND ngày 25/7/2007 của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khoá XV,
kỳ họp thứ 9;
Xét đò nghị của Sở Xây dựng tại Công văn số 1494/SXD-QLKT&N ngày 06/9/2007 về việc xin phê duyệt
Chương trình phát triển nhà ở trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2010, định hướng đến năm 2020,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1: Phê duyệt "Chương trình phát triển nhà ở trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2010, định hướng
đến năm 2020" kèm theo Quyết định này
Điều 2: Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký.
Điều 3: Các ông: Chánh văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc các sở, Thủ trưởng các ban, ngành, đoàn thể cấp
tỉnh có liên quan; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò chịu trách nhiệm thi hành
quyết định này./.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Hồ Đức Phớc

CHƯƠNG TRÌNH
PHÁT TRIỂN NHÀ Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2010, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM
2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 110/2007/QĐ-UBND ngày 21 tháng 09 năm 2007 của UBND tỉnh Nghệ
An).
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Sự cần thiết:
Nhà ở là một trong những nhu cầu cơ bản ở, luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhân dân; là nơi nghỉ ngơi,
tái tạo sức sản xuất; là tài sản có giá trị lớn đối với mỗi hộ gia đình, cá nhân.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An trong những năm qua, lĩnh vực đầu tư phát triển nhà
đã được các cấp, các ngành trong tỉnh quan tâm. Nhiều cơ chế chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực nhà
ở đã được ban hành và thực hiện trên địa bàn toàn tỉnh như: chính sách ưu đãi đầu tư xây dựng nhà để bán,
cho thuê, tái định cư; phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương và nhiều chính sách khác đã tác
động tích cực, góp phần giải quyết nhu cầu bức xúc của nhân dân về chỗ ở trong thời gian qua đồng thời
góp phần tích cực vào thực hiện chủ trương kích cầu trong lĩnh vực nhà ở của Chính phủ trong những năm
gần đây.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực quản lý và phát triển nhà ở đã và đang xuất hiện nhiều vấn đề vướng mắc, tồn tại
cần phải khắc phục. Tình trạng phát triển nhà ở manh mún, tự phát, không tuân thủ quy hoạch, cảnh quan,
kiến trúc và môi trường sống đang diễn ra trên địa bàn toàn tỉnh. Nhà ở cho các đối tượng thu nhập thấp
(cán bộ, công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách; công nhân lao động tại các khu công nghiệp, sinh
viên các trường đại học, cao đẳng ) chưa được quan tâm đúng mức. Xu thế xây dựng nhà ở sang trọng, cao
cấp đắt tiền để thu lợi nhuận cao (nhà ở thương mại) đang lấn át ý nghĩa xã hội của nhà ở.
Để khắc phục những vấn đề bất cập và tồn tại nêu trên là sự cần thiết, đòi hỏi phải có chương trình định
hướng phát triển nhà ở tại khu vực đô thị và nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh nhằm cụ thể hóa chương trình
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020 đồng thời góp phần hình thành và phát triển thị
trường bất động sản lành mạnh theo Luật Nhà ở đã được ban hành.
2. Cơ sở pháp lý để xây dựng Chương trình:
- Luật Nhà ở số 56/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
- Điều 70 của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ về xây dựng chương trình phát
triển nhà ở của các địa phương.
- Định hướng phát triển nhà ở đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 76/2004/QĐ-TTg ngày
06/5/2004 của Thủ tướng Chính phủ;
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020;
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò đến năm 2020;
- Chỉ thị số 34/2006/CT-TTg ngày 26/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật
Nhà ở;
- Quyết định số 76/2004/QĐ-TTg ngày 06/5/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt định hướng
phát triển nhà ở đến năm 2020;
- Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg ngày 30/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng
thành phố Vinh trở thành trung tâm kinh tế văn hoá vùng Bắc Trung bộ.
- Nghị quyết Đại hội Đảng khoá X và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An khoá XVI nhiệm kỳ 2006-
2010.
Chương 1:
KHÁI QUÁT VỀ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY VÀ DỰ BÁO
ĐẾN 2010; 2020
1. Đặc điểm về tự nhiên:
1.1. Vị trí địa lý:
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung bộ,
Nghệ An giáp tỉnh Thanh Hóa ở phía Bắc, tỉnh Hà Tĩnh ở phía Nam, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
ở phía Tây với 419 km đường biên giới và biển Đông ở phía Đông với chiều dài 82 km. Vị trí này tạo cho
Nghệ An có vai trò quan trọng trong mối giao lưu kinh tế – xã hội Bắc – Nam, xây dựng và phát triển kinh
tế biển, kinh tế đối ngoại và mở rộng hợp tác quốc tế.
Nằm trong hành lang kinh tế Đông - Tây nối liền Myanma - Thái Lan - Lào - Việt Nam - Biển Đông theo
đường QL 7 đến cảng Cửa Lò.
1.2. Về địa hình:
Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn có địa hình đa dạng, phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi
núi và hệ thống sông, suối. Về tổng thể, địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Với hệ thống
sông ngòi có độ dốc lớn, với 117 thác lớn nhỏ là tiềm năng rất lớn cần được khai thác để phát triển thuỷ
điện và điều hoà nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh. Đồi núi chiếm 83% diện tích tự nhiên của toàn
tỉnh.
1.3. Đặc điểm khí hậu: Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh và chia làm hai mùa rõ rệt: mùa hạ nóng,
ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa.
a. Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23-24
0
C, sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong
năm khá cao. Nhiệt độ trung bình các tháng nóng nhất (tháng 6 đến tháng 7) là 33
0
C. Nhiệt độ trung bình
các tháng lạnh nhất (tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau).
b. Chế độ mưa: Nghệ An là tỉnh có lượng mưa trung bình so với các tỉnh khác ở miền Bắc. Lượng mưa
bình quân hàng năm dao động từ 1.200-2.000 mm/năm, phân bổ cao dần từ Bắc vào Nam và từ Tây sang
Đông và chia làm hai mùa rõ rệt:
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15-20% lượng mưa cả năm, tháng khô
hạn nhất là tháng 1, 2.
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung chiếm 80-85% lượng mưa cả năm, tháng mưa
nhiều nhất là tháng 8, 9.
c. Độ ẩm không khí: Trị số độ ẩm tương đối trung bình năm dao động từ 80-90%, độ ẩm không khí cũng có
sự chênh lệch giữa các vùng và theo mùa.
d. Chế độ gió: Nghệ An chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu: gió mùa Đông Bắc và gió phơn Tây Nam.
- Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, bình quân mỗi năm
có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc.
- Gió phơn Tây Nam là một loại hình thời tiết đặc trưng cho mùa hạ của vùng Bắc Trung Bộ. Loại gió này
thường xuất hiện ở Nghệ An vào tháng 5 đến tháng 8 hàng năm. Gió Tây Nam gây ra khí hậu khô, nóng và
hạn hán.
e. Các hiện tượng thời tiết khác: Là tỉnh có diện tích rộng, có đủ các dạng địa hình: miền núi, trung du,
đồng bằng và ven biển nên khí hậu tỉnh Nghệ An đa dạng, đồng thời có sự phân hoá theo không gian và
biến động theo thời gian.
Bên cạnh những yếu tố chủ yếu như nhiệt độ, lượng mưa, gió, độ ẩm không khí thì Nghệ An còn là một
tỉnh chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới. Trung bình mỗi năm có 2-3 cơn bão, sức gió mạnh nhất
có lúc giật trên cấp 12, mùa bão thường vào tháng 8-10, bão về kèm theo mưa lớn cùng với sự tàn phá của
sức gió, gây ra lũ lụt và nhiều thiệt hại lớn.
Nhìn chung, Nghệ An nằm trong vùng khí hậu có nhiều đặc thù, phân dị rõ rệt trên toàn lãnh thổ và theo
các mùa, song khí hậu có phần khắc nghiệt, đặc biệt là bão và gió Tây Nam.
1.4. Đặc điểm về đất đai:
Nghệ An có tổng diện tích tự nhiên 16.488.820 ha. Trong đó: Đất nông nghiệp là 1.033.926 ha (đất lâm
nghiệp: 777.359 ha); Đất phi nông nghiệp là 113.489 ha (đất ở đô thị: 1.268 ha, đất ở nông thôn: 15.231 ha,
đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp: 3.925 ha); Đất chưa sử dụng là 501.404 ha (đất bằng chưa sử
dụng: 13.059 ha).
Về mặt hành chính, có 17 huyện (gồm 7 huyện đồng bằng ven biển và 10 huyện miền núi), thành phố Vinh
và thị xã Cửa Lò, với 473 xã, phường và thị trấn, trong đó có 244 xã, thị trấn miền núi.
1.5. Đặc điểm về địa chất: Có nhiều dạng địa chất khác nhau phân bố trên toàn tỉnh.
1.6. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn đối với việc xây dựng nhà ở:
Với những đặc điểm về tự nhiên như đã nêu trên đã tác động không nhỏ đến việc xây dựng nhà ở trên địa
bàn. Với nhiều vùng địa hình, khí hậu khác nhau nên có nhiều loại nhà ở phù hợp cho từng vùng đồng thời
tạo nên những kiến trúc nhà ở đặc trưng cho từng vùng. Tuy nhiên, việc xây dựng nhà ở đòi hỏi phải tính
toán đến các tác động khắc nghiệt của thời tiết (bão, gió Lào, ), động đất, địa hình, địa chất
2. Đặc điểm xã hội - thực trạng và dự báo đến 2010; 2020
2.1. Dân số: Khu vực
Biểu 1: Tổng hợp dân số toàn tỉnh và dự báo đến 2010, 2020:
(Đơn vị tính: người)
Khu vực Hiện nay Dự báo đến 2010 Dự báo đến 2020
Toàn tỉnh 3.130.000 3.181.000 3.500.000
Khu vực đô thị 390.000 540.000 1.300.000
Khu vực nông thôn 2.740.000 2.641.000 2.200.000
Trong thời kỳ đến năm 2020, dự kiến dân số trung bình của Nghệ An tăng bình quân gần 1%/năm. Dân số
trong độ tuổi lao động của tỉnh dự kiến tăng bình quân 2,07%/năm giai đoạn 2006-2010 và 1,27%/năm giai
đoạn 2011-2020.
Cơ cấu dân số năm 2010 và 2020 có những đặc điểm chính như sau: Tỷ lệ dân đô thị tăng từ 10,7% năm
2005 lên 17% năm 2010 và 37% năm 2020. Cơ cấu dân số theo giới tính vào các năm 2010 và 2020 dự kiến
không thay đổi nhiều so với năm 2005. Cơ cấu dân số theo độ tuổi sẽ có thay đổi theo hướng tỷ trọng dân
số dưới 15 tuổi giảm dần trong khi tỷ trọng nhóm dân số từ 15 đến 60 tuổi tăng lên.
Tỷ lệ hộ nghèo 27,14% (theo tiêu chí mới) trên tổng số hộ trong tỉnh.
2.2. Phân bố dân cư:
Dân cư phân bố không đồng đều, ở vùng miền núi dân cư thưa thớt, trong khi đó ở vùng thành thị, đồng
bằng ven biển mật độ dân cư cao. Mật độ dân số bình quân trong toàn tỉnh năm 2005 là 184 người/km2,
trong đó ở vùng đồng bằng, ven biển là 697 người/km2 và ở vùng miền núi là 81 người/km2; cao nhất là
thành phố Vinh (3.737 người/km2) và thị xã Cửa Lò (1.759 người/km2), thấp nhất là huyện Tương Dương
(27 người/km2). Mật độ dân số trung bình của tỉnh thuộc loại cao so với các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ.
2.3. Đặc điểm kiến trúc nhà ở:
Kiến trúc nhà ở trong tỉnh đa dạng và phong phú, được phân ra nhiều loại:
- Theo khu vực kinh tế đô thị và nông thôn;
- Theo phong tục tập quán của các tộc người;
- Theo vùng địa lý: đồng bằng, miền núi, ven biển, trung du ;
- Theo hệ thống kết cấu chịu lực và vật liệu xây dựng;
- Theo mặt bằng không gian kiến trúc: nhà ở nền đất, nhà sàn hoặc hỗn hợp nền đất nhà sàn,
2.4. Đặc điểm đô thị của tỉnh - thực trạng và xu thế phát triển:
Dưới tác động của công cuộc đổi mới đã tạo tiền đề cho quá trình đô thị hoá và phát triển đô thị. Quy mô
đô thị ngày càng mở rộng, chất lượng đô thị ngày càng được nâng cao. Đây là nơi tập trung các hoạt động
sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị ngày càng được hoàn thiện.
2.5. Đặc điểm nông thôn của tỉnh - thực trạng và xu thế phát triển:
Khu vực này đã có sự thay đổi cơ bản theo hướng sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tăng tỷ trọng của lĩnh vực sản xuất phi nông nghiệp. Một số vùng sản xuất cây, con tập trung và làng
nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) được hình thành và phát triển. Một số mô hình sản xuất có hiệu quả đã
xuất hiện ở nông thôn như mô hình kinh tế trang trại trong trồng trọt và chăn nuôi, mô hình nông – lâm kết
hợp, mô hình kinh tế vườn rừng, vườn đồi. Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn được cải thiện đáng kể
trong những năm qua.
2.6. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn đối với việc xây dựng nhà ở:
Với sự phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nhà ở cho nhân
dân. Nguồn vốn đầu tư vào việc xây dựng nhà ở ngày càng được nâng cao, tạo ra môi trường sống, nghỉ
ngơi cho người dân ngày hiện đại. Thị trường bất động sản về nhà ở cũng từng bước phát triển. Tuy nhiên,
sự phân hoá giàu - nghèo do tốc độ đô thị hoá cũng là một cản trở lớn cho chương trình phát triển nhà ở.
Việc phát triển nhà ở chưa có định hướng nên tình trạng xây dựng nhà ở tự phát còn diễn ra phổ biến nhiều
nơi trên toàn tỉnh.
3. Đặc điểm kinh tế:
Cơ cấu ngành kinh tế của Nghệ An đã có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp với sự gia tăng nhanh tỷ
trọng ngành công nghiệp – xây dựng trong tổng sản phẩm tỉnh (từ 14,2% năm 1995 lên 18,6% năm 2000 và
30,4% năm 2005), hiện là ngành có mức đóng góp lớn nhất cho GDP tỉnh. Các phân ngành công nghiệp có
lợi thế của tỉnh (chế biến nông - lâm - thuỷ sản, khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng) được tập trung đầu
tư và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong GTTT của ngành công nghiệp tỉnh. Tỷ trọng ngành nông – lâm –
ngư giảm tương ứng từ 49,1% xuống 44,3% và 34,2% (mặc dù vẫn tăng lên về giá trị tuyệt đối), phù hợp
với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh. Tỷ trọng các
phân ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp hàng hoá mà tỉnh có lợi thế phát triển (công nghiệp chế
biến nông sản, sản xuất vật liệu xây dựng, thương mại, sản xuất sản phẩm cây công nghiệp) liên tục tăng
trong những năm qua.
Nhờ tăng trưởng kinh tế nhanh trong những năm qua nên đời sống của nhân dân trong tỉnh được cải thiện
đáng kể. Thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng qua các năm. Theo kết quả điều tra thu nhập hộ gia
đình năm 2004, tính bình quân trong toàn tỉnh, thu nhập của một người đạt 323,79 nghìn đồng/tháng, tăng
bình quân 12,57% trong giai đoạn 2001-2004, trong đó mức thu nhập bình quân của người dân ở khu vực
nông thôn tăng nhanh hơn so với ở khu vực thành thị.
Nhờ thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội, thực hiện hiệu quả các chương trình xoá đói giảm nghèo gắn
với các chương trình phát triển kinh tế và tạo việc làm cho người lao động nên tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh đã
giảm đi đáng kể. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí cũ đã giảm từ 19,75% năm 2000 xuống 7,68% năm 2005.
Theo tiêu chí nghèo mới, tỷ lệ này của Nghệ An là 27,14% (thấp hơn nhiều so với vùng Bắc Trung Bộ -
35,4% nhưng cao hơn mức bình quân trong cả nước - 21,8%).
Đời sống kinh tế và văn hoá của nhân dân ngày càng được cải thiện. Vùng miền núi, nhất là miền núi cao,
được chăm lo hơn trước về các mặt, điển hình là phát triển hạ tầng kỹ thuật, xoá đói giảm nghèo, định canh
định cư. Khoảng cách giữa miền núi, đồng bằng, nông thôn và đô thị dần dần được thu hẹp. Khó khăn hiện
nay trong vấn đề tăng mức sống dân cư, xoá đói giảm nghèo là vấn đề giải quyết việc làm cho nguồn lao
động chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.
4. Vị trí, vai trò của tỉnh đối với khu vực và đất nước:
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cả nước và vùng Bắc Trung bộ, Nghệ An (mà hạt nhân là thành
phố Vinh) được xác định có những vai trò sau:
Là địa phương đầu tàu về tăng trưởng và giải quyết các nhiệm vụ trọng yếu về phát triển kinh tế - xã hội
của vùng Bắc Trung bộ.
Là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực, trung tâm khoa học - công nghệ, văn hoá - thể thao và y tế lớn nhất
của vùng Bắc Trung bộ.
Là trung tâm công nghiệp lớn của vùng Bắc Trung bộ, có tầm quan trọng ngày càng lớn trong phát triển
công nghiệp cả nước.
Là địa phương có các ngành dịch vụ (thương mại, du lịch, ) phát triển, có vị thế ngày càng lớn trong vùng
Bắc Trung bộ.
Là một đầu mối giao thông, cửa vào – ra quan trọng của vùng Bắc Trung bộ, cả nước và quốc tế.
Cùng với việc thành phố Vinh đã được Nhà nước quyết định nâng cấp lên loại I trước năm 2020 và xây
dựng Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An, đặt ra yêu cầu cho tỉnh Nghệ An phải tiến hành đô thị hoá với tốc
độ nhanh hơn nhiều trong những năm tới. Hơn nữa, yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đi liền với nó là
chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp, hiện đại trong thời kỳ đến năm 2020 đòi hỏi tỉnh
phải tăng nhanh dân số phi nông nghiệp, phát triển các khu đô thị mới, các thị tứ, các trung tâm thương mại,
du lịch trong tỉnh. Dự kiến tỷ lệ đô thị hoá của tỉnh cần đạt khoảng 16-17% năm 2010 và 36-37% vào năm
2020.
Chương 2:
THỰC TRẠNG NHÀ Ở ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TOÀN TỈNH
I. THỰC TRẠNG VỀ NHÀ Ở:
1. Thực trạng về diện tích nhà ở:
1. 1. Thực trạng về diện tích nhà ở đô thị:
Diện tích nhà ở khu vực đô thị trong tỉnh hiện nay đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây kể
cả nhà ở xây mới. Tuy nhiên, diện tích nhà ở chỉ được nâng cao với việc xây dựng nhà ở mới, cải tạo đối
với loại nhà ở riêng lẻ; biệt thự, chung cư trong các khu đô thị mới dành cho nhóm đối tượng có thu nhập
khá, giàu. Còn các loại đối tượng khác hiện nay đang ở trong các căn hộ, nhà ở có diện tích nhỏ hẹp (dưới
5m2 sàn/người) rất phổ biến trong các khu chung cư cũ, nhà tập thể, trong các khu ở cần phải di dời để giải
phóng mặt bằng thực hiện quy hoạch đô thị Đây cũng là nhóm đối tượng có thu nhập thấp nên rất khó
khăn trong việc cải thiện diện tích đất ở nếu không thực hiện các chương trình phát triển nhà ở.
Về thực trạng sử dụng đất ở đô thị:
Đất ở đô thị hiện nay được cấp sử dụng mới cho việc xây dựng nhà ở riêng lẻ theo quy định là 150,0m2/hộ.
Đất ở trong các khu đô thị mới được quy hoạch theo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn. Tuy nhiên, việc chuẩn bị
các quỹ đất phục vụ cho việc tái định cư, quỹ đất phục vụ việc xây dựng nhà ở cho các đối tượng xã hội
trong các khu quy hoạch đô thị mới chưa được quan tâm đúng mức.
Tổng diện tích đất ở đô thị toàn tỉnh: 1.268,9 ha.
1. 2. Thực trạng về diện tích nhà ở nông thôn:
Diện tích nhà ở nông thôn còn chật hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu diện tích nhà ở thực tế của nhân dân
(mặc dù diện tích đất ở tương đối rộng). Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện kinh tế của người dân chưa
cho phép cải tạo nhà ở hoặc tách hộ.
Tổng diện tích đất ở nông thôn toàn tỉnh: 15.231,5 ha.
Biểu 2: Thực trạng nhà ở, đất ở trên địa bàn tỉnh Nghệ An:
Khu vực
Nhà ở
Diện tích đất ở
(ha)
Tổng diện tích sàn
(m2)
Số căn nhà
(căn)
Diện tích bình
quân
(m2/người)
Toàn tỉnh 39.905.000 626.000 12,7 16.500,4
Khu vực đô thị 5.655.000 78.000 14,5 1.268,9
Khu vực nông thôn 34.250.000 548.000 12,5 15.231,5
2. Thực trạng về kiến trúc nhà ở:
2. 1. Thực trạng về kiến trúc nhà ở đô thị:
Thực trạng kiến trúc nhà ở khu vực đô thị là một vấn đề bức xúc trong xã hội. Tình trạng kiến trúc lai tạp
rất phổ biến, xu hướng này vẫn đang tiếp tục diễn ra ở tất cả các đô thị trong tỉnh, làm cho bộ mặt kiến trúc
tỉnh nhà hết sức manh mún, lộn xộn. Một số khu đô thị mới hiện đang xây dựng cũng chưa tuân thủ các quy
định về kiến trúc. Kiến trúc các công trình nhà ở do nhân dân tự xây gần như không thể kiểm soát.
2. 2. Thực trạng về kiến trúc nhà ở nông thôn:
Kiến trúc nhà ở nông thôn trừ một số vùng giữ được bản sắc nhà ở đặc trưng, còn lại hầu hết đã bị lai tạp
nhiều loại kiến trúc, nguyên nhân chủ yếu là do người dân xây nhà ở tự phát, không có thiết kế.
3. Thực trạng về chất lượng nhà ở:
3. 1. Thực trạng về chất lượng nhà ở đô thị:
Chất lượng xây dựng nhà ở đô thị ngày càng được nâng cao, nhiều khu nhà ở mới đã khang trang và đang
dần thay thế các khu nhà ở xuống cấp, hư hỏng. Nhiều khu đô thị mới, tuyến phố mới được hình thành
trong thời gian qua đã góp phần vào việc chỉnh trang đô thị và tạo ra nhiều chỗ ở có chất lượng cao.
Chất lượng nhà ở được nâng cao cả về kết cấu cũng như trang trí nội ngoại thất, chất lượng không gian kiến
trúc và công năng sử dụng của nhà ở ngày càng sinh động và hợp lý hơn. Việc áp dụng các công nghệ mới
vào việc xây dựng cũng góp phần nâng cao chất lượng nhà ở đô thị.
Tuy nhiên, ở một số khu vực có đối tượng người thu nhập thấp thì chất lượng nhà ở chưa được cải thiện
nhiều, nguyên nhân là do điều kiện kinh phí của đối tượng này chưa đủ khả năng để cải tạo, nâng cấp.
3. 2. Thực trạng về chất lượng nhà ở nông thôn:
Ngoài việc tự lực cánh sinh phát huy vai trò phát triển nhà ở tại khu vực nông thôn, các cấp chính quyền cơ
sở đã có nhiều cố gắng trong việc triển khai thực hiện các chính sách cải thiện về nhà ở như: xoá nhà tranh
tre nứa mét, xây nhà tình nghĩa, tình thương góp phần cải thiện chất lượng nhà ở cho khu vực nông thôn.
Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khu vực nông thôn còn nhiều khó khăn nên chất lượng nhà ở còn rất thấp so
với khu vực đô thị.
Biểu 3: Chất lượng nhà ở hiện tại:
T
T
Khu vực
Các loại nhà
Nhà ở kiên cố Nhà ở bán kiên cố, nhà khung gỗ Nhà ở đơn sơ, nhà tạm
1 Toàn tỉnh 10,0% 82,0% 8,0%
2 Khu vực đô thị 30,0% 65,0% 5,0%
3 Khu vực nông thôn 4,0% 86,0% 10,0%
4. Thực trạng về hệ thống hạ tầng kỹ thuật:
4. 1. Thực trạng về hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong các khu nhà ở tại đô thị:
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật các khu nhà ở tại đô thị đã có sự cải thiện đáng kể, các hệ thống cấp thoát nước
đã được xây dựng khá động bộ; đường điện, giao thông đường bộ đã đi tận đến các khu nhà với chất lượng
khá tốt. Vệ sinh môi trường cũng đã được quan tâm với các điểm tập trung và xử lý rác thải được đầu tư
nhiều trong những năm qua.
4. 2. Thực trạng về hạ tầng kỹ thuật các điểm dân cư nông thôn:
Thực trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật các điểm dân cư nông thôn hiện nay còn rất nhiều bất cập. Hệ thống
cấp nước, thoát nước hầu như chưa được xây dựng, nhân dân khu vực nông thôn chủ yếu vẫn đang dùng
nước giếng đào, giếng khoan, nước sông, suối, chưa có nhiều hệ thống nước sạch được cấp trong khu vực
này; Hệ thống thoát nước chưa được đầu tư đồng bộ, chủ yếu vẫn để tình trạng nước thải tự thoát qua các
kênh rạch, mương đất.
5. Thực trạng về hệ thống hạ tầng xã hội:
Thực trạng về hệ thống hạ tầng xã hội trong các khu nhà ở tại đô thị và các điểm dân cư nông thôn:
Với sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà, được sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều cấp chính quyền nên
hệ thống hạ tầng xã hội trong tỉnh đã được đầu tư xây dựng và phát huy khá tốt vai trò của nó trong đời
sống của nhân dân trong các khu ở. Các hệ thống y tế, giáo dục, thông tin, trung tâm văn hoá đã hình
thành ở hầu hết các khu ở đô thị và nông thôn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
6. Thực trạng về phân bố dân cư và nhà ở tại đô thị và nông thôn:
Thực trạng phân bố dân cư ở khu vực đô thị và khu vực nông thôn có nhiều khác biệt. Dân cư khu vực đô
thị tập trung với mật độ cao ở gần các khu vực trung tâm buôn bán, thương mại, các tuyến phố chính trong
đô thị, số hộ dân cư dãn dần ra khu vực các khu vực ngoại thị.
Dân cư nông thôn khu vực đồng bằng, ven biển được tập trung vào các làng, xóm, thôn gắn kết với hệ
thống hạ tầng xã hội. Còn khu vực miền núi rẻo cao hiện nay đang nằm rải rác theo phong tục tập quán của
người dân.
7. Thực trạng nhà ở của các nhóm đối tượng xã hội:
Nhóm đối tượng nhà ở xã hội là nhóm đối tượng có thực trạng nhà ở có nhiều bất cập nhất so với các nhóm
đối tượng khác. Việc cải thiện nhà ở cho nhóm đối tượng này chưa có biến chuyển nhiều ở cả khu vực đô
thị và nông thôn. Tình trạng thiếu nhà ở do không đủ khả năng tự tạo lập nhà ở của nhóm đối tượng này đã
dẫn đến các hiện tượng vi phạm pháp luật như cơi nới, xây dựng, cải tạo nhà ở trái phép, lấn chiếm đất
xảy ra ở nhiều nơi. Việc cải thiện, phát triển nhà ở cho nhóm đối tượng này là việc làm cấp thiết trong
tương lai gần đồng thời phải có hoạch định dài hạn.
8. Thực trạng nhà ở kinh doanh:
Nhà ở kinh doanh hiện nay đã được phát triển mạnh mẽ ở nhiều cấp độ. Với việc các cấp chính quyền,
nhiều nhà đầu tư trong và ngoại tỉnh đầu tư vào lĩnh vực này đã góp phần tăng trưởng số lượng nhà ở, chất
lượng nhà ở.
Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra là nếu phát triển nhà ở kinh doanh mà chưa quan tâm đúng mức đến việc
phát triển nhà ở cho các đối tượng có thu nhập thấp thì vẫn chưa giải quyết được vấn đề nhà ở cho các tầng
lớp nhân dân.
9. Thực trạng công tác quy hoạch xây dựng chi tiết:
Thực trạng công tác quy hoạch xây dựng chi tiết là một vấn đề bức xúc trong xã hội. Đến nay mới chỉ có
một số đô thị ở các huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò có quy hoạch chi tiết còn lại hầu hết các địa
phương chưa có quy hoạch chi tiết đặc biệt là các khu vực nông thôn. Việc công bố công khai quy hoạch,
quản lý xây dựng theo quy hoạch được duyệt chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến việc xây dựng không
có quy hoạch hoặc xây dựng không đúng quy hoạch.
10. Thực trạng thị trường bất động sản nhà ở:
Thị trường bất động sản hiện nay vẫn đang hướng đến nhóm đối tượng có thu nhập khá giả (số lượng nhóm
đối tượng này không nhiều) với các loại nhà ở cao cấp, đắt tiền, nhà ở thương mại. Còn thị trường bất động
sản chưa có tác động nhiều đến nhóm đối tượng có thu nhập thấp trong khi đây là nhóm đối tượng với số
lượng khá lớn. Điều này dẫn đến tình trạng thị trường bất động sản chưa phát triển, lượng giao dịch hằng
năm còn thấp, thị trường bất động sản chưa thật minh bạch. Toàn tỉnh chưa có sàn giao dịch bất động sản
theo quy định tại Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản.
II. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHÀ Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH:
1. Những kết quả đạt được:
- Diện tích nhà ở bình quân trên địa bàn tỉnh Nghệ An đạt được tương đối cao (13,5m2/người) so với chỉ
tiêu bình quân nhà ở đô thị của cả nước (9,5m2/người) và cao hơn bình quân nhà ở một số đô thị lớn như
Hà Nội (9,2m2/người); TP Hồ Chí Minh (10,3m2/người); Hải Phòng (7,8m2/người); Hải Dương
(11,4m2/người). Tổng diện tích sàn nhà ở trên địa bàn tỉnh là: 39.909.000 m2.
- Các chính sách về cải thiện nhà ở đã được các ngành quan tâm nên đã đạt được một số thành công nhất
định. Việc phát triển các khu đô thị mới, các dự án phát triển nhà ở đồng bộ đã và đang bắt đầu được triển
khai.
- Các khu vực dân cư đô thị, điểm dân cư nông thôn đã và đang được quan tâm nhằm củng cố và phát triển
việc quản lý xây dựng nhà ở theo đúng quy hoạch. Đồng thời xây dựng các chính sách phù hợp với tình
hình cụ thể nhằm tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh tham gia phát triển nhà ở.

2. Những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại:
- Chất lượng nhà ở chưa cao và chưa đồng đều tại các khu vực đô thị và nông thôn. Theo số liệu thống kê
trong tổng số 39.909.000 m2 sàn với khoảng 620.000 căn thì nhà ở kiên cố chỉ chiếm 10,0% (ở khu vực đô
thị là 30%, khu vực nông thôn là 4,0%); nhà ở bán kiến cố và nhà ở khung gỗ lâu bền chiếm 82,0%; nhà
đơn sơ, nhà tạm chiếm 8,0%.
Qua số liệu trên cho thấy, số lượng nhà kiên cố chỉ tập trung ở khu vực đô thị, chủ yếu ở khu vực thành phố
Vinh, thị xã Cửa Lò và một số thị trấn của các huyện, còn lại hầu hết là nhà bán kiên cố.
- Quy hoạch xây dựng còn rất thiếu, nhất là quy hoạch chi tiết. Hiện nay, ngoài thành phố Vinh và thị xã
Cửa Lò mới chỉ có 1/17 huyện được lập quy hoạch chung còn quy hoạch chi tiết mới chỉ được lập ở một
vài thị trấn của các huyện vì vậy công tác quản lý xây dựng nhà ở cả khu vực đô thị và nông thôn đều gặp
rất nhiều khó khăn.
- Hệ thống hạ tầng kỹ thuật trên toàn tỉnh chưa được đầu tư hoàn chỉnh, đồng bộ, chưa đi trước một bước,
đặc biệt là hệ thống cấp nước, thoát nước. Nhiều nơi chưa có hệ thống cấp nước sạch, hệ thống thoát nước
chủ yếu thoát nước theo tự nhiên nhất là ở khu vực dân cư nông thôn.
- Nhà ở do nhân dân tự xây dựng là chủ yếu, trong khi phát triển nhà ở theo dự án (được xây dựng đồng bộ
cùng với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội) chỉ mới bắt đầu triển khai ở một số khu đô thị lớn
như TP Vinh, thị xã Cửa Lò. Kiến trúc nhà ở manh mún, lai tạp, chưa thể hiện được bản sắc của vùng có
điều kiện tự nhiên đặc thù. Hình thức phát triển nhà ở tự phát còn khá phổ biến.
- Chất lượng xây dựng nhà ở nhân dân tự xây gần như chưa được kiểm soát. Lý do chủ yếu là do người dân
khi xây nhà không có thiết kế kiến trúc, kết cấu; các đơn vị thi công xây dựng nhà ở chủ yếu dựa vào kinh
nghiệm của một số chủ thầu xây dựng lao động tự do trong và ngoại tỉnh không qua các trường lớp đào tạo
về xây dựng dẫn đến xảy ra rất nhiều vấn đề bất cập trong việc xây dựng nhà ở. Đây là trách nhiệm chủ
quan của người dân cũng như sự buông lỏng trong quản lý xây dựng của các cấp chính quyền, đòi hỏi cần
sớm có chính sách, biện pháp khắc phục.
- Quỹ nhà ở đô thị trong thời gian vừa qua tuy có tăng nhưng hầu như chỉ các đối tượng có thu nhập cao,
các hộ gia đình khá giả là được cải thiện đáng kể. Việc cải thiện nhà ở cho các đối tượng thuộc diện nghèo,
có thu nhập thấp, đặc biệt là công nhân lao động tại các nhà máy, các khu công nghiệp; cán bộ công nhân
viên chức, lực lượng vũ trang, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp chưa có
chuyển biến tích cực.
- Một số chung cư xây dựng trong giai đoạn trước những năm 1980 đã xuống cấp nghiêm trọng nhưng chưa
được cải tạo, sửa chữa hoặc tái định cư. Các đối tượng thu nhập thấp đang sống trong các khu tập thể đã cũ
nát nhưng cũng chưa có biện pháp giải quyết cho nhân dân.
- Mô hình phát triển theo dự án đồng bộ cùng với hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội là xu hướng hoàn toàn
đúng đắn nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhiều huyện, thành thị trên toàn tỉnh chưa
phát huy được chủ trương này mà chủ yếu là nhà ở do nhân dân tự xây dựng. Hậu quả của việc xây dựng
nhà ở tự phát này sẽ để lại nhiều vấn đề phức tạp, trong tương lai sẽ phải chi phí rất tốn kém mới có thể
khắc phục được.
- Thị trường nhà ở nhìn chung chưa phát triển, do đó việc phát huy vai trò khai thác tiềm năng từ đất đai, tài
chính cho việc phát triển kinh tế còn nhiều hạn chế, vai trò kích cầu kinh tế kết hợp với chỉnh trang đô thị
thông qua phát triển nhà ở chưa phát huy được tác dụng.
Chương 3:
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÀ Ở TỈNH NGHỆ AN ĐẾN 2010, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2020
1. Quan điểm:
- Xoá bao cấp về nhà ở nhưng thực thi chính sách tạo điều kiện để hỗ trợ người dân cải thiện nhà ở;
- Kiên trì chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế đồng thời với thực hiện các chính sách xã hội;
- Đa dạng hoá phẩm nhà ở để phù hợp với nhu cầu của mọi đối tượng trong xã hội;
- Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, chủ đầu tư và người dân;
- Quản lý thị trường nhà ở tuân thủ các quy luật của nền kinh tế thị trường, hạn chế các mệnh lệnh hành
chính;
- Phát triển nhà ở kết hợp với chỉnh trang hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội từng bước nâng cao điều
kiện sống của nhân dân tỉnh nhà;
- Phát huy tổng hợp các nguồn lực của Nhà nước, cộng đồng, các đơn vị sử dụng lao động trong việc chăm
lo nhà ở cho nhân dân;
- Huy động nguồn lực của xã hội kể cả nguồn lực các nhà đầu tư ngoại tỉnh, nước ngoài tham gia phát triển
nhà ở;
- Khuyến khích xây dựng nhà ở cho thuê, nhà bán trả góp
2. Các nguyên tắc:
- Xây dựng nhà ở phải tuân thủ quy hoạch, hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng xây nhà ở tự phát;
- Khuyến khích phát triển nhà ở theo dự án đồng bộ với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội;
- Tiết kiệm tài nguyên đất đai trong việc xây dựng nhà ở;
- Kiến trúc nhà ở hài hoà với cảnh quan môi trường, có hình thức và công năng sử dụng phù hợp với từng
đối tượng, có bản sắc văn hoá đối với từng vùng, miền trong tỉnh. Kết hợp giữa xây mới và cải tạo, giữa
hiện đại và dân tộc;
- Đảm bảo môi trường sống an toàn, giữ gìn sự cân bằng sinh thái, bảo vệ cảnh quan môi trường.
3. Mục tiêu phát triển nhà ở đô thị đến 2010 và 2020:
- Phát triển nhà ở nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu cải thiện và nâng cao
chất lượng chỗ ở của nhân dân; tạo động lực phát triển đô thị - nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá; thực hiện có hiệu quả mục tiêu cơ bản của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI.
- Mở rộng và phát huy tổng hợp các nguồn vốn của các thành phần kinh tế và của xã hội tham gia phát triển
nhà ở; thúc đẩy hình thành thị trường bất động sản nhà ở và thực hiện có hiệu quả chủ trương kích cầu trên
địa bàn.
- Hình thành quỹ phát triển nhà ở đô thị - nông thôn; thực hiện chính sách nhà ở xã hội cho các đối tượng
thu nhập thấp (bao gồm cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại các KCN, sinh viên các trường
Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và các đối tượng chính sách khác); nhà ở công vụ cho các đối
tượng phải thay đổi vị trí công tác; hỗ trợ cải thiện nhà ở đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, các hộ
gia đình sinh sống tại các khu vực vùng sâu, vùng xa.
- Đáp ứng nhu cầu cải thiện chỗ ở của nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân đô
thị và nông thôn.
- Đầu tư xây dựng mới, xây dựng lại hoặc cải tạo để tăng diện tích nhà ở, đảm bảo cho nhân dân có nhà ở
phù hợp với khả năng thu nhập của mình. Kết hợp với phát triển bền vững đô thị và nông thôn theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Đẩy mạnh công tác quy hoạch xây dựng, đảm bảo quy hoạch đi trước một bước, ưu tiên phát triển hạ tầng
theo quy hoạch để tạo quỹ đất phát triển các loại nhà ở.
- Chú trọng giải quyết nhu cầu nhà ở cho các đối tượng có thu nhập thấp, nhà ở cho công nhân, cán bộ công
chức, nhà ở cho sinh viên, nhà ở tái định cư và các đối tượng chính sách xã hội khác;
- Kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực nhà ở phù hợp với yêu
cầu quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
4. Các chỉ tiêu về nhà ở cần đạt đến 2010 và định hướng đến 2020:
4.1. Chỉ tiêu về diện tích nhà ở bình quân đầu người đến 2010 và 2020:
Phấn đấu đạt chỉ tiêu bình quân diện tích nhà ở đô thị và nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến 2010 là
15,4 m2/người, đến 2020 là 20,6 m2/người.
Biểu 4: Chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân đầu người đến 2010; 2020:
(Đơn vị tính: m2/người)
Khu vực Hiện nay
Chỉ tiêu đến năm 2010 Chỉ tiêu đến năm 2020
Chỉ tiêu của
tỉnh
Chỉ tiêu quốcgia Chỉ tiêu của
tỉnh
Chỉ tiêu
quốcgia
Toàn tỉnh 12,7 15,4 - 20,6 -
Khu vực đô thị 14,5 17,5 15,0 22,5 20
Khu vực nông thôn 12,5 15,0 14,0 19,5 18
4.2. Chỉ tiêu về diện tích nhà ở bình quân đối với các đối tượng xã hội:
Biểu 5: Chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân đối với các đối tượng xã hội:
(Đơn vị tính: m2/người)
TT Đối tượng Chỉ tiêu diện tích đến năm 2010 Chỉ tiêu diện tích đến năm 2020
1 Hộ chính sách, có công 12 18
2 Cán bộ CNVC, LLVT 15 20
3 Người nghèo 9 12
4 Công nhân, sinh viên 6 10
4.3. Chỉ tiêu về chất lượng nhà ở đến 2010 và 2020:
Nâng cao tỷ lệ nhà kiên cố ở cả khu vực đô thị và nông thôn, giảm tỷ lệ nhà ở bán kiên cố và dần xoá bỏ
nhà tạm, nhà đơn sơ vào năm 2020. Phấn đấu đến năm 2010 đạt tỷ lệ 25% nhà ở kiên cố (khu vực đô thị là
50%, khu vực nông thôn là 20%) và đến năm 2020 đạt tỷ lệ 75% nhà ở kiên cố (khu vực đô thị là 85%, khu
vực nông thôn là 60%).
Biểu 6: Chỉ tiêu chất lượng nhà ở đến 2010; 2020:
(Đơn vị tính: %)
T
T
Khu vực
Chỉ tiêu đến 2010 Chỉ tiêu đến 2020
Nhà ở
kiên cố
Nhà ở bán kiên
cố, nhà khung
gỗ
Nhà ở
đơn sơ,
nhà tạm
Nhà ở
kiên cố
Nhà ở bán kiên
cố, nhà khung
gỗ
Nhà ở
đơn sơ,
nhà tạm
1 Toàn tỉnh 25% 70% 5% 75% 25% 0%
2 Khu vực đô thị 50% 48% 2% 85% 15% 0%
3 Khu vực NT 20% 73% 7% 60% 40% 0%
4.4. Chỉ tiêu về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đến 2010 và 2020:
Từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đến năm 2010, đảm bảo đến năm 2020
đảm bảo hoàn thành hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hệ thống hạ tầng xã hội đạt tiêu chuẩn quy định.
Biểu 7: Chỉ tiêu về hạ tầng kỹ thuật đến 2010; 2020:
(Đơn vị tính: %)
TT Hạng mục
Chỉ tiêu đến 2010 Chỉ tiêu đến 2020
Toàn
tỉnh
Khu vực
đô thị
Khu vực
nông thôn
Toàn
tỉnh
Khu vực
đô thị
Khu vực
nông thôn
1 Cấp nước sạch 90% 95% 75% 100% 100% 100%
2 Hệ thống thoát nước kín 45% 80% 50% 100% 100% 100%
3 BT, nhựa hoá giao thông 70% 90% 60% 100% 100% 100%
4 Cấp điện 95% 99% 95% 100% 100% 100%
5 Thu gom và xử lý rác thải 90% 100% 70% 100% 100% 100%
Biểu 8: Chỉ tiêu về hạ tầng xã hội đến 2010; 2020:
(Đơn vị tính: %)
T
T
Hạng mục Chỉ tiêu đến 2010 Chỉ tiêu đến 2020
1 Y tế 75% 85%
2 Giáo dục 65% 80%
3 Văn hoá 50% 100%
4 Thương mại 35% 80%
4.5. Mục tiêu phát triển nhà ở chung cư:
Từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đến năm 2010, đảm bảo đến năm 2020
đảm bảo hoàn thành hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hệ thống hạ tầng xã hội đạt tiêu chuẩn quy định.
5. Định hướng phát triển nhà ở đến năm 2010 và đến năm 2020.
a) Đối với đô thị:
Đẩy mạnh đầu tư phát triển kinh tế – xã hội đồng thời thực hiện các chính sách xã hội, quan tâm hơn nữa
việc phát triển nhà ở của nhân dân, trước hết tập trung cho các đô thị trọng điểm như: thành phố Vinh, thị
xã Cửa Lò, các đô thị Thái Hoà, Hoàng Mai, giải quyết nhu cầu bức xúc về nhà ở. Trên cơ sở quy hoạch
các khu dân cư, khu đô thị, có chính sách huy động nhiều nguồn vốn để xây dựng nhà ở đồng bộ với kết
cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng nhà ở của nhân dân. Đẩy mạnh
phát triển nhà ở theo dự án và quản lý chặt chẽ theo quy chế kiến trúc, quy hoạch được duyệt; chú trọng bảo
vệ môi trường và tỷ lệ cây xanh, mặt nước; Khuyến khích phát triển nhà chung cư cao tầng để tiết kiệm đất
đai; giảm dần và tiến tới chấm dứt việc giao đất nhỏ lẻ cho các hộ gia đình, cá nhân tự xây dựng.
* Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật: Phấn đấu chỉ tiêu bình quân về diện tích nhà ở đạt ở mức trung bình khá của
cả nước, cụ thể như sau:
- Diện tích sàn bình quân đầu người đến năm 2010 là: 17,5 m
2
/người;
- Diện tích sàn bình quân đầu người đến năm 2020 là: 22,5 m
2
/người;
b) Đối với điểm dân cư nông thôn:
Tập trung ưu tiên cải thiện và nâng cấp chất lượng nhà ở cho các hộ dân cư nông thôn (sửa chữa, cải tạo,
nâng cấp chỗ ở hiện có). Phát triển nhà ở nông thôn gắn với việc đẩy mạnh công tác quy hoạch và quản lý
quy hoạch xây dựng nông thôn mới; phát triển và nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội,
đảm bảo phù hợp với xu hướng văn minh hiện đại và phát huy truyền thống dân tộc, đặc điểm tự nhiên và
tập quán sinh hoạt của từng địa phương; sử dụng hiệu quả quỹ đất sẵn có để tiết kiệm đất đai.
Chú trọng triển khai công tác lập quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn để làm cơ sở cho việc thực
hiện xây dựng nhà ở và hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội theo quy hoạch; khuyến khích phát triển
nhà cao tầng, phát triển nhà ở theo dự án đối với những khu vực đã có quy hoạch được duyệt. Thực hiện
việc quy hoạch, thiết kế và xây dựng thí điểm một số làng nông thôn mới thuộc các vùng cao, trung du và
ven biển đó rút kinh nghiệm, nhân ra diện rộng.
Phát huy khả năng của từng hộ gia đình, cá nhân kết hợp với sự giúp đỡ hỗ trợ cộng đồng, các thành phần
kinh tế để thực hiện mục đích cải thiện chỗ ở tại khu vực nông thôn.
Thực hiện chính sách tạo điều kiện cải thiện nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số, các hộ gia đình nghèo tại
các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, khu vực thường xuyên bị thiên tai, thông qua việc hỗ trợ kinh phí
làm nhà, cho vay vốn ưu đãi, trợ giúp kỹ thuật và vật liệu xây dựng.
* Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật: Phấn đấu chỉ tiêu bình quân về diện tích nhà ở đạt ở mức trung bình khá của
cả nước, cụ thể như sau:
- Diện tích sàn bình quân đầu người đến năm 2010 là: 15,0 m
2
/người;
- Diện tích sàn bình quân đầu người đến năm 2020 là: 19,5 m
2
/người;
Chương 4:
NHU CẦU VỀ NHÀ Ở, ĐẤT CỦA TỈNH ĐẾN 2010, DỰ BÁO ĐẾN 2020
Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến 2020, quy hoạch định hướng phát triển
các hệ thống đô thị trên địa bàn toàn tỉnh; dự báo nhu cầu phát triển nhà ở theo các thông số chủ yếu sau
đây:
1. Nhu cầu chung đô thị và nông thôn:
Từ thực tế hiện trạng dân số, số nhà ở hiện nay cùng với các số liệu dự báo cho việc tăng trưởng dân số đến
2010 và 2020 có thể cho chúng ta thấy nhu cầu về nhà ở trên địa bàn toàn tỉnh là rất lớn. Nhu cầu nhà ở
được dự báo trên cơ sở sự tăng trưởng dân số, chỉ tiêu nhà ở bình quân từng thời kỳ, nhu cầu nhà ở bố trí tái
định cư, tách hộ và quy mô phát triển đô thị và điểm dân cư nông thôn theo quy hoạch. Cụ thể là:
- Sự tăng trưởng dân số dựa trên các yếu tố tác động gồm tăng dân số tự nhiên và di dân cơ học.
- Nhu cầu tách hộ: trên cơ sở việc tăng dân số tự nhiên và nhu cầu cải thiện nhà ở, lối sống gắn liền với sự
phát triển kinh tế sẽ kéo theo nhu cầu tách hộ tìm nơi ở mới đảm bảo các nhu cầu về ở và sinh hoạt của
người dân.
- Nhu cầu bố trí tái định cư: việc cải tạo và phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội kéo theo việc đền
bù, giải phóng mặt bằng dân đến việc phải bố trí tái định cư cho các hộ dân đến nơi ở mới theo nguyên tắc
nơi ở mới phải tốt hơn nơi ở cũ.
- Sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao cũng thúc đẩy việc cải tạo và xây dựng mới nhà ở có sự tăng trưởng
tương ứng.
- Xu hướng phát triển và lành mạnh hoá thị trường bất động sản về nhà ở cũng là một xu hướng tất yếu đáp
ứng yêu cầu về nhà ở và phát triển kinh tế của người dân.
Biểu 9: Dự báo nhu cầu tăng diện tích nhà ở đến 2010, 2020:
Các chỉ tiêu
Đến năm 2010 Đến năm 2020
Diện tích
(m2)
Tương đương
số căn
Diện tích
(m2)
Tương đương
số căn
Dự báo nhu cầu tính theo diện tích 9.236.400 10.200 23.112.600 79.750
+ Do tăng dân số 785.400 10.200 6.571.400 79.750
+ Do tăng diện tích bình quân 8.451.000 16.541.200
2. Nhu cầu các loại nhà ở:
Nhu cầu nhà ở được dự báo theo loại nhà, bao gồm: nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà ở thương mại và nhà
ở riêng lẻ do dân tự xây.
- Nhu cầu xây dựng nhà ở xã hội do nhu cầu cải thiện về nhà ở cho các đối tượng chính sách, người có
công; nhu cầu thuê, thuê mua nhà ở của cán bộ công chức, lực lượng vũ trang, công nhân trong các khu
công nghiệp, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Tính toán nhu cầu nhà
ở cho nhóm đối tượng này dựa trên cơ sở số hộ chưa có nhà ở, chiến lược phát triển các khu công nghiệp,
khu kinh tế, số lượng sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp.
- Nhu cầu xây dựng nhà ở công vụ cho các cán bộ thuộc diện luân chuyển, điều động trên địa bàn tỉnh,
được tính toán theo quy định của Chính phủ về các vị trí cần luân chuyển và thực tế khảo sát tại các khu
vực luân chuyển cán bộ.
- Nhu cầu về nhà ở thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cư dân kết hợp với chỉnh trang đô
thị, hướng thị hiếu của người dân vào một môi trường sống ngày càng hiện đại và phát triển. Nhu cầu này
trước mắt hướng tới nhóm đối tượng có thu nhập cao.
- Nhu cầu xây dựng mới nhà ở riêng lẻ do nhân dân tự xây do nhu cầu tách hộ, nhu cầu tạo lập nơi ở mới
của nhân dân phải được quản lý chặt chẽ về quy hoạch, tổ chức giới thiệu các mẫu nhà phù hợp với điều
kiện khí hậu, phong tục tập quán, nếp sống để người dân tham khảo và làm theo.
Biểu 10: Dự báo nhu cầu nhà ở phân theo đối tượng đến 2010, 2020:
Các chỉ tiêu
Đến năm 2010 Đến năm 2020
Diện tích
Tương
đương
số căn
Chiếm tỷ
lệ % so
với cả
tỉnh
Diện tích
Tương
đương số
căn
Chiếm tỷ
lệ % so
với cả tỉnh
Nhà ở thương mại 235.620 3.060 30% 2.628.560 31.900 40%
Nhà ở riêng lẻ 392.700 5.100 50% 1.642.850 19.938 25%
Nhà ở xã hội 157.080 2.040 20% 2.299.990 27.912 35%
+Trongđó:
- Người có công

47.124

642

6,0%

689.997

8.374

10,5%
- Người nghèo 70.686 918 9,0% 459.998 5.582 7,0%
- Công nhân, sinh viên 37.700 490 4,8% 1.031.710 12.521 15,7%
- Nhà công vụ 1.570 20 0,2% 118.285 1.435 1,8%
Tổng 785.400 10.200 6.571.400 79.750
3. Dự báo nhu cầu quỹ đất xây dựng ở đến năm 2010; 2020:
(Đơn vị tính: ha)
Chỉ tiêu Đến năm 2010 Đến năm 2020
Diện tích quỹ đất tăng thêm 250 1.993,7
4. Dự báo nhu cầu vốn đầu tư xây dựng nhà ở đến năm 2010; 2020:
(Đơn vị tính: tỷ đồng)
Chỉ tiêu Đến năm 2010 Đến năm 2020 Tỷ lệ
Tổng số vốn đầu tư: 2.356,2 19.714,2 100%
+ Vốn xây lắp 1.814,3 15.180 77%
+ Vốn xây dựng hạ tầng kỹ thuật 223,8 1.872,8 9,5%
+ Vốn xây dựng hạ tầng xã hội 247,4 2.070 10,5%
+ Vốn giải phóng mặt bằng 70,7 591,4 3,0%
5. Dự báo nhu cầu theo nguồn vốn đầu tư xây dựng nhà ở đến năm 2010; 2020:
(Đơn vị tính: tỷ đồng)
Chỉ tiêu Đến năm 2010 Đến năm 2020 Tỷ lệ
Tổng số vốn đầu tư: 2.356,2 19.714,2 100%
+ Vốn ngân sách trung ương 117,8 985,7 5%
+ Vốn ngân sách địa phương 117,8 985,7 5%
+ Vốn các doanh nghiệp và dân tự xây dựng 1.649,3 13.799,9 70%
+ Vốn huy động cộng đồng 23,6 197,2 1%
+ Vốn tín dụng trong nước 447,7 3.745,7 19%
Chương 5:
NỘI DUNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN
NHÀ Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẾN 2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2020.
1. Nội dung chương trình phát triển nhà ở đô thị và nông thôn đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020.
a) Đối với đô thị:
Đến năm 2010, hoàn thành quy hoạch chi tiết các khu đô thị trên địa bàn, chú trọng bảo vệ môi trường, tăng
cường tỷ lệ cây xanh mặt nước nhằm đạt tỷ lệ cây xanh bình quân 20m
2
/người. Xây dựng và quản lý chặt
chẽ quy chế kiến trúc đô thị và văn minh đô thị.
- Ưu tiên quy hoạch xây dựng các khu đô thị mới, các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ với hạ tầng kỹ
thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với việc phát triển nhà ở xã hội trong các khu quy hoạch này; đẩy mạnh việc
xây dựng các nhà chung cư cao tầng nhằm tiết kiệm đất đai; hạn chế, giảm dần và tiến tới chấm dứt việc
giao đất nhỏ lẻ cho dân tự xây.
- Đến năm 2010, cải tạo nâng cấp quỹ đất nhà ở đã xuống cấp, hư hỏng nặng; tất cả các hộ đều có nước