LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng và thách thức của việt nam trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế": http://123doc.vn/document/1051684-thuc-trang-va-thach-thuc-cua-viet-nam-trong-viec-chu-dong-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te.htm
kéo theo đó là sự gia tăng các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ở cấp độ
toàn cầu. Có ý kiến nhấn mạnh khía cạnh phát triển của lực lợng sản xuất,
xem toàn cầu hoá là giai đoạn cao của quá trình phát triển lực lợng sản xuất
thế giới. Toàn cầu hoá ngày nay về bản chất chính là sự tăng trởng của hoạt
động kinh tế nói chung đã vợt khỏi biên giới quốc gia. Nói cách khác toàn
cầu hoá mang nội dung chủ đạo là toàn cầu hoá kinh tế. Thực tế cha một
quốc gia nào thực sự tự do hoá nền kinh tế toàn cầu, bởi toàn cầu hoá là
hiện tợng cực kỳ phức tạp, đầy mâu thuẫn. Toàn cầu hoá là một trong
những biểu hiện, một bộ phận tổ thành của quá trình tự nhiên đi tới chủ
nghĩa cộng sản - cộng đồng toàn thế giới của những ngời lao động tự do và
phát triển toàn diện
(2)
.
Bản chất của toàn cầu hoá là hệ thống kinh tế thị trờng, không bị giới
hạn bởi các đờng biên giới, ranh giới dân tộc, tôn giáo Phải chăng toàn
cầu hoá chính là phơng cách, con đờng, một giai đoạn tất yếu phải qua để đi
lên CNXH. Điều này có liên quan mật thiết đối với Việt Nam mối quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau bởi : Toàn cầu hoá là sự gia tăng mạnh mẽ các mối quan
hệ gắn kết tác động phụ thuộc lẫn nhau, là quá trình mở rộng quy mô và c-
ờng độ hoạt động giữa các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên phạm vi
toàn cầu trong sự vận động phát triển. Quốc tế hoá, toàn cầu hoá là một quá
trình, vì vậy mà khác với các vấn đề toàn cầu. Sự tham gia vào quá trình
quốc tế hoá, toàn cầu hoá chính là thực hiện hội nhập quốc tế. Toàn cầu hoá
là một xu hớng bao gồm nhiều phơng diện : kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội. Quốc tế hoá, toàn cầu hoá đó phải là phản ánh quy mô các hoạt động
liên quốc gia, song toàn cầu hoá có thực sự theo một chiều hớng tốt ? có
đảm bảo một cuộc sống mới, tốt đẹp hơn cho cộng đồng thế giới ? bởi bản
chất của các hoạt động kinh tế này ra sao, chúng ta cha hiểu rõ ?
Toàn cầu hoá (về kinh tế) là tự do hoá kinh tế và hội nhập quốc tế : th-
ơng mại, dv, Vậy thì toàn cầu hoá kinh tế là gì ? Có ý kiến nêu toàn cầu
(2)
Tạp chí Kinh tế thế giới sô 2
hoá kinh tế là những mối quan hệ kinh tế vợt qua biên giới quốc gia, vơn tới
quy mô toàn thế giới, đạt trình độ và chất lợng mới. Các quốc gia dù muốn
hay không dần dần đều buộc phải hội nhập vào các tổ chức kinh tế khu vực
và toàn cầu, phải có chiến lợc và chính sách tích ứng với quá trình toàn cầu
hoá. Vấn đề đặt ra từ quan niệm này là tự do hoá kinh tế kiểu nào, trên cơ
sở nào ? Hội nhập và cam kết với ai, cam kết cái gì ? Phải chăng chúng ta
cứ chấp nhận, cam kết những điều kiện đang tồn tại, có bảo đảm hội nhập
mà không bị hoà tan, Có rất nhiều quan niệm về vấn đề này, nh OECD
cho rằng : Toàn cầu hoá kinh tế là sự vận động tự do của các yếu tố sản
xuất hay quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng : Toàn cầu hoá là sự gia tăng
không ngừng các luồng mậu dịch, vốn, kỹ thuật, Chúng ta có thể đúc kết
qua nhận định của một số chuyên gia kinh tế : Toàn cầu hoá kinh tế chính
là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vợt qua mọi biên giới
quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong
sự vận động phát triển hớng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất. Sự gia
tăng của xu thế này đợc thể hiện ở sự mở rộng mức độ và quy mô mậu dịch
thế giới, sự lu chuyển của các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu.
Sự thực toàn cầu hoá là hiện tợng phức tạp, chứa đựng rất nhiều mâu thuẫn
trong nó.
2. Chúng ta thử đi sâu phân tích cơ sở khách quan của xu thế toàn
cầu hoá.
Trớc hết đó là sự phát triển cao của lực lợng sản xuất : thời phong kiến
lực lợng sản xuất và giao thông kém phát triển cho nên hoạt động trao đổi,
sản xuất chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp. Mác và Ăngghen viết Đại công
nghiệp đã tạo ra thị trờng thế giới
Trong thời kỳ đầu quá trình quốc tế hoá, các hoạt động kinh tế giữa
các quốc gia mang nặng tính chất phụ thuộc một chiều. Các quóc gia phát
triển hơn thờng đàn áp các nớc kém (Anh, Mỹ, Pháp ) và giành cho
mìnhmột khu vực và thị trờng kinh tế riêng. Tuy vậy sự phát triển mạnh mẽ
của lực lợng sản xuất cùng với ý thức độc lập đã đa lại sự phát triển mới của
phân công lao động. Các quốc gia trớc kia vốn phụ thuộc, là thuộc địa của
các đế quốc, nay giành đợc độc lập đã tham gia vào quá trình phân công lao
động quốc tế. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai gắn liền với sự phát triển
của phong trào giải phóng dân tộc là hiện tợng khoa học phát triển mạnh
mẽ và ngày càng trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Nó đã đợc nhanh
chóng áp dụng vào sản xuất, thúc đẩy phân công lao động phát triển lên
một bớc mới. Dới sự tác động của khoa học công nghệ các ngành kinh tế
truyền thống dần những bớc cho các ngành đại diện cho tiến bộ khoa học
kỹ thuật : mạng máy tính quốc tế Internet, truyền hình cáp, khám phá vũ
trụ, tóm lại chính sự phát triển nh vũ bão của khoa học kỹ thuật đã làm
phá vỡ hàng rào ngăn cản địa giới, thúc đẩy quốc tế hoá kinh tế lên một thời
kỳ mới. Thứ hai là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trờng : quá trình
quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến trình phát triển
kinh tế thị trờng. Kinh tế thị trờng càng phát triển thì phân công lao động
càng sâu sắc. Sự phát triển của kinh tế thị trờng đã mở ra điều kiện cho sự
phát triển mạnh mẽ của sức sản xuất, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá. Lợi ích đem lại của kinh tế thị trờng
: tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất và đa lại cơ chế thống
nhất cho xử lý các mối quan hệ kinh tế, đó là cơ chế thị trờng. Mô hình Đức
đợc gọi là mô hình kinh tế thị trờng xã hội, của Mỹ là nền kinh tế thị trờng
phân tán. Nhà nớc thông qua các công cụ phát triển bảo đảm cạnh tranh thị
trờng. Nhiều quốc gia vốn trớc đây từ chối nền kinh tế thị trờng đã thực
hiện mở cửa cải cách. Có thể nói ngày nay nền kinh tế thế giới thống nhất ở
cơ chế vận hành : cơ chế thị trờng. Đây chính là cơ sở cho sự gia tăng của
xu thế toàn cầu hoá kinh tế. Sự phát triển của nền kinh tế thị trờng không
chỉ ở sự mở rộng quy mô về không gian, về sự xâm nhập ràng buộc lẫn
nhau giữa các thị trờng mà còn thể hiện ở sự phát triển của thị trờng tài
chính gắn liền với sự xuất hiện của một loạt công cụ mới trong thanh toán
giao dịch. Nhìn chung các quốc gia trên toàn thế giới ngày nay đều dựa trên
cơ chế thị trờng, sử dụng các phơng tiện và công cụ của kinh tế thị trờng
trong hoạt động kinh doanh, đa lại một không gian rộng lớn, không gian
toàn cầu cho các hoạt động sản xuất và lu chuyển các yếu tố của chính quá
trình sản xuất ấy.
Thứ ba là sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh thế giới
kết thúc chiến tranh lạnh, bớc vào thời kỳ hoà bình, hợp tác và phát triển.
Tình hình chạy đua vũ trang khốc liệt điển hình là các quốc gia với tiềm lực
kinh tế mạnh : Mỹ, Nga, Pháp, Đức,
Trong suốt mấy thập kỷ chạy đua vũ trang, nhất là vũ khí hạt nhân.
Các bên đều nhận thấy một cuộc chiến tranh hiện đại nổ ra sẽ không có ng-
ời chiến thắng. Nhìn chung các vấn đề toàn cầu đều có quan hệ nhân quả
với nhau cho nên phải có quan hệ tổng thể khi giải quyết và đòi hỏi phải có
sự nỗ lực của mọi quốc gia. Các vấn đề toàn cầu là liên quan mọi quốc gia,
tác động trên phạm vi thế giới. Trong bối cảnh chiến tranh lạnh thị trờng thế
giới bị chia cắt không cho phép các quốc gia thống nhất hành động, liên kết
sức mạnh. Sự kết thúc chiến tranh lạnh, sự phân chia thế giới thành hai cực
đối lập đã và đang chuyển sang trật tự theo hớng đa cực, thế giới vận động
trong xu thế hoà dịu hợp tác và phát triển. Đây cũng xem là cơ sở quan
trọng cho sự gia tăng mạnh mẽ xu thế quốc tế hoá lên một trình độ mới, đó
là toàn cầu hoá.
3. Xét vai trò của các chủ thể trong xu hớng toàn cầu hoá, ta thấy
có hai vai trò chính.
Thứ nhất : là sự bành trớng của các công ty xuyên quốc gia (TNC). Sự
phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia trong những thập niên
qua vừa phản ánh đặc điểm của quá trình toàn cầu hoá, vừa là nhân tố thúc
đẩy quá trình quốc tế hoá gia tăng mạnh mẽ lên một bớc mới toàn cầu hoá.
Quá trình phát triển mạnh mẽ của sản xuất trong CNTB tất yếu dẫn đến sự
tập trung sản xuất và dẫn đến độc quyền. Nếu vào cuối những năm 60 có
khoảng 7000 Công ty xuyên quốc gia, thì đến những năm 80 có khoảng 20
nghìn. Với một mạng lới rộng khắp đối với Việt Nam ngày 27/11/2001, Bộ
Chính trị đã ban hành nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế. Mục tiêu của
hội nhập là mở rộng thị trờng, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, để đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng XHCN. Quán triệt chủ
trơng đợc xác định tại Đại hội IX, hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của
toàn dân, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh,
đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý và kết hợp chặt chẽ quá trình họi nhập
kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh quốc phòng. Có nh vậy chính
phủ và toàn dân ta mới có điều kiện tiếp cận với hình thức độc quyền, đối
phó với sự bành trớng của nó. Việc gia tăng các hoạt động TNC ở các quốc
gia đang phát triển còn đóng góp quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân
lực, nâng cao trình độ quản lý và chuyển giao các công nghệ hiện đại. Đây
là những mặt rấ quan trọng để các quốc gia đang phát triển nâng cao trình
độ phát triển của mình từng bớc rút ngắn khoảng cách phát triển. Các TNC
đã dựa vào vốn, kỹ thuật, nguồn thông tin để thiết lập các chi nhánh khác
nhau ở các nơi có điều kiện thuận lợi nhất cho việc sản xuất gia công, lắp
ráp. Sự phát triển và xâm nhập ngày càngmạnh mẽ của các Công ty xuyên
quốc gia vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phàan xoá bỏ sự ngăn cách,
biệt lập trong phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Các quốc gia dân
tộc từng bớc tham gia, thích ứng với các chuẩn mực của nền kinh tế quốc tế,
đồng thời nó cũng đem lại nét mới từ những bản sắc riêng của các quốc gia
bổ sung vào nền kinh tế toàn cầu, làm gia tăng tính đa dạng của nó.
Thứ hai, là vai trò cua các định chế kinh tế toàn cầu và khu vực. Các
định chế kinh tế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc tế
hoá, toàn cầu hoá kinh tế. Trong các tổ chức kinh tế - thơng mại - tài chính
toàn cầu và khu vực có ảnh hởng lớn tới quá trình toàn cầu hoá và khu vực
hoá về kinh tế : WTO, IMF, WB, liên hợp quốc, các tổ chức khu vực : EU,
ASEAN
Ngoài những lý do chủ yếu đã nêu thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn
cầu hoá trong những thập kỷ gần đây, chúng ta có thể kể một số lý do
khác : sự phát triển về dân chủ, về văn hoá
4. Bây giờ ta xét các tác động của toàn cầu hoá đối với kinh tế -
chính trị.
Trên phơng diện kinh tế nó đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế
thế giới. Thực chất của những tác động đợc biểu hiện trên một số điểm :
Thứ nhất toàn cầu hoá kinh tế thúc đẩy rất nhanh, mạnh sự phát triển và xã
hội hoá lực lợng sản xuất, đa tốc độ tăng trởng của thế giới lên mức cao.
Toàn cầu hoá kinh tế góp phần làm chuyển biến cơ cấu kinh tế thế giới, đặc
biệt làm tăng mạnh tỷ trọng hàng chế tạo, dịch vụ. Thứ hai dới tác động của
toàn cầu hoá, các thị trờng thế giới từng bớc đợc thống nhất và ngày càng
phát triển. Với xu thế đó nó sẽ tạo nên một sự loại bỏ các rào cản và có sự
điều chỉnh trong sự vận hành. Khi thị trờng thế giới thống nhất và phát triển
thì các rào cản thơng mại sẽ từng bớc bị loại bỏ, một trong những thành
công của phơng diện này là sự ra đời của các hiệp định buôn bán thông th-
ờng (hiệp định thơng mại ký kết giữa Việt Nam - Mỹ là một điển hình trong
quan hệ buôn bán song phơng). Trong Hội nghị tổ chức thơng mại thế giới,
thơng mại, dịch vụ là một trong ba đề tài lớn. Trên phơng diện chính trị,
nguy cơ can thiệp nội bộ, trong đó can thiệp chính trị đợc thấy rất rõ (Mỹ
can thiệp vào Nam T là một ví dụ điển hình trong thập kỷ 90 vừa qua). Sự
can thiệp này đợc tổ chức rất quy củ theo những điều kiện ràng buộc, đặc
biệt của các nớc có tiềm lực kinh tế lớn (Mỹ, Pháp, ) và các tập đoàn
xuyên quốc gia. Về cơ bản có hai hình thức can thiệp chính trị thờng thấy
trong quá trình toàn cầu hoá : Thứ nhất, mợn chiêu bài duy trì chuẩn mực
và quy tắc quốc tế để can thiệp vào công việc nội chính và ngoaị giao của n-
ớc khác. Thứ hai, lấy lý do bảo vệ an ninh quốc tế và thực thi chủ nghĩa
nhân đạo để thực hiện can thiệp xuyên quốc gia đối với các nớc khác, bất
chấp cả việc có vi phạm chuẩn mực và nguyên tắc quốc tế hiện hành hay
không ?
Thực chất, can thiệp chính trị trong quá trình toàn cầu hoá là hành vi
phản ánh rõ nét đặc trng của lợi ích nớc lớn (tính cờng quốc, bá chủ). Mợn
danh nghĩa là ngời nắm vai trò chủ đạo trong tiến trình phát triển toàn cầu
hoá, các nớc lớn, tập đoàn kinh tế mạnh đã dựa vào u thế kinh tế, chính trị
va sức mạnh quân sự của mình để thực hiện lợi ích bản thân. Biểu hiện cụ
thể của toàn cầu hoá kinh tế đối với chính trị gồm nhiều mặt : cán cân sức
mạnh của các nớc lớn, các tập đoàn kinh tế mạnh sẽ quyết định cục diện
chính trị toàn cầu hoá. Bởi họ dựa vào sức mạnh của họ mà chi phối phần
lớn thị trờng thế giới, nắm vị trí chủ chốt trong sản xuất kinh doanh (phân
phối, giao lu, ). Hai đại diện lớn Mỹ và ph ơng Tây luôn hô hào toàn cầu
hoá, thông thoáng thị trờng thế giới song Mỹ và một số nớc khác lại lôi kéo,
đồng loã các nớc khác rong việc sử dụng các chính sách và vũ khí kinh tế
(cấm vận, ). Ví dụ, có 75 n ớc dân số chiếm 52% dân số thế giới chịu sự
cấm vận của Mỹ. Do đó nhiều nhà nghiên cứu về vũ khí kinh tế rút ra kết
luận Kinh tế là một công cụ bạo lực
Quá trình quốc tế hoá mà đỉnh cao là TCH kinh tế, vậy thì các đặc trng
cơ bản của nó là gì ?
Có 6 đặc trng cơ bản, đặc trng thứ nhất là giai đoạn phát triển cao của
quốc tế hoá kinh tế. Hiện nay ta thấy CNTB đã tạo ra sự phát triển sản xuất
mà cha nền văn minh nào trớc đó đạt đợc. Các cuộc chiến tranh giành giật
thị trờng không ngừng bùng nổ : Anh mạnh trong kinh tế hàng hải,
Vào thế kỷ XIX đế quốc Anh có sự phát triển mạnh, khống chế gần
nh toàn bộ thế giới. Vào nửa sau thế kỷ XIX, mậu dịch giữa các nớc trở
thành một hệ thống nhất. Từ nửa sau thế kỷ XIX cho đến nay quá trình
quốc tế hoá đã trải qua ba thời kỳ : Làn sóng đầu tiên diễn ra trong khoảng
50 năm trớc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong thời kỳ này, những sự
trao đổi quốc tế và liên lục địa đã phát triển nhanh hơn cả sự sản xuất trên
toàn thế giới, những dòng tài chính tăng lên nhanh hơn nhiều trên quy mô
thế giới so với sự tăng trởng của việc trao đổi và sự sản xuất trên toàn thế
giới. Làn sóng thứ hai của quốc tế hoá diễn ra vào những năm 50,60 và 70
của thế kỷ XX. ở giai đoạn này đã có một sự tăng trởng về trao đổi quốc tế
lớn hơn nhiều so với sản xuất trên thế giới, đã có sự bùng nổ thực sự những
dòng tài chính trên phạm vi toàn cầu, đã có sự bùng nổ hoạt động của các
Công ty quốc gia. Làn sóng thứ ba bắt đầu từ cuối những năm 80 trở đi và
lúc này thuật ngữ TCH đợc sử dụng phổ biến.
Đặc trng thứ hai là trong thời kỳ TCH kinh tế hiện nay hội nhập kinh
tế quốc tế gắn liền với tự do hoá các hoạt động kinh tế. Trớc đây giai đoạn
quốc tế hoá chỉ là sự bành trớng kinh tế ra khỏi khuôn khổ biên giới, không
gắn với việc tự do hoá. Ví nh Nhật Bản mãi tới nửa sau của thập kỷ 70 Nhật
mới hoàn thành quá trình tự do hoá thị trờng vốn và thị trờng gạo (vì sau
chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật mới khôi phcụ kinh tế và tiến tới bành tr-
ớng). Sự tách rời giữa tự do hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là đặc điểm của
giai đoạn quốc tế hoá trớc đây. Trong giai đoạn mới, TCH, việc hội nhập
quốc tế gắn liền với quá trình tự do hoá. Không hể hội nhập quốc tế mà
không có tự do hoá nền kinh tế dân tộc. Đây là điểm mới của quá trình
TCH. Quá trình TCH gắn với phân công lao động quốc tế làm cho quá trình
TCH gắn bó chặt chẽ với nhau. Điều này cho thấy không thể có hội nhập
mà lại không có tự do hoá và ngợc lại, hai mặt này của quá trình TCH thống
nhất gắn bó chặt chẽ với nhau. Thử tìm hiểu Hàn Quốc, Quốc gia này chính
thức bắt đầu hội nhập vào nền kinh tế quốc tế từ đầu thập kỷ 60. Vào cuối
thế kỷ XIX, Hàn Quốc đứng trớc yêu cầu phải cải cách, chấm dứt sự cô
lập Trong lĩnh vực thơng mại, đầu những năm 60 Chính phủ Hàn Quốc đã
có cải cách theo hớng hoà nhập vào nền thơng mại quốc tée. Nhìn chung
cho đến nay Hàn Quốc đã đạt tỷ lệ tự do hoá nhập khẩu 99,9% theo kế
hoạch đến 1/2001, Hàn Quốc sẽ tự do hoá 100%. Văn hoá và t cách t duy
phải đợc TCH. Ngời Hàn Quốc phải phát huy sự phong phú vốn có của nền
văn hoá truyền thống của mình. Ngoài ra chúng ta có thể tham khảo thêm
nền kinh tế Trung Quốc. Đối với các quốc gia này thay vì hội nhập một
cách triệt để và toàn diện với nền kinh tế thế giơí, họ chỉ hội nhập có mức
độ và theo những hớng nhất định có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế
trong suốt tiến trình công nghiệp hoá. Đó chính là kiểu hội nhập có tính
chiến lợc và trong quá trình này vai trò của nhà nớc đợc chú trọng với t cách
là ngời điều tiết nhịp độ hội nhập. Đặc trng thứ ba là TCH kinh tế là xu thế
khách quan nhng đang chịu tác động lớn từ Mỹ và một số nớc t bản phát
triển. Quá trình TCH gắn liền với sự phát triển của CNTB. Họ lợi dụng
những thành tựu của khoa học kỹ thuật tạo ra sự phát triển sản xuất
mạnh mẽ. Với mục tiêu lợi nhuận các tổ chức độc quyền cạnh tranh với
nhau gay gắt. Kết quả là hình thành những liên minh độc quyền không chỉ
trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi quốc tế (Sự hình thành các tập
đoàn độc quyền, bọn đầu sỏ tài chính). Với sự thắng lợi của cách mạng
tháng Mời Nga và tiếp sau đó là sự ra đời của các quốc gia XHCN đã thu
hẹp phạm vi thống trị và chi phối của CNTB. Vì lý do chính trị, nhiều nớc
TBCN đã sử dụng các biện pháp hạn chế quan hệ với các nớc XHCN (nh ở
Việt Nam ta trớc đây đã từng bị cấm vận bởi Mỹ gây thiệt hại về kinh tế rất
nhiều ). Cấu trúc mô hình XHCN bị sụp đổ (điển hình là sự tan rã của Liên
Bang Nga, các quốc gia còn lại đang đẩy mạnh quá trình đổi mới, cải cách
nhằm tìm ra phơng thức mới xây dựng CNXH. Các nớc TBCN tìm mọi cách
trong quá trình TCH để loại bỏ các nớc XHCN. Rõ ràng là xét về lôgic và
lịch sử toàn cầu hoà là một xu thế tất yếu, là kết quả của sự phát triển lực l-
ợng sản xuất, của kinh tế thị trờng song cũng cần thấy toàn cầu hoá kinh tế
hiện nay không phải không có tính chất chính trị do việc tham gia vào toàn
cầu hoá xuất phát từ lợi ích khác nhau, đôi khi đối nghịch nhau giữa các
chủ thể của chính quá trình toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá chính là Mỹ hoá, bởi u thế của Mỹ thể hiện trên một số
nét : Mỹ là quốc gia có nền kinh tế thị trờng và khoa học phát triển cao, sức
mạnh kinh tế và quân sự thì Mỹ đóng vai trò lãnh đạo trong khối các nớc t
bản (cụ thể là NATO), các TNC của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu hoá đã
khống chế một tỷ phần lớn mậu dịch - đầu t và tài chính quốc tế, trong
nhiều năm qua Mỹ vẫn dẫn đầu về các phát minh và triển khai chúng (đặc
biệt là công nghệ thông tin), cuối cùng đó là sự chi phối về an ninh, quân sự
đối với các cờng quốc. Tuy nhiên sự ảnh hởng và thống trị này chủ tạm thời
bởi nhân loại đang trên con đờng phát triển vũ bão của khoa học không chỉ
riêng ở Mỹ và đặc biệt là sự đoàn kết dân tộc ngày càng cao. Chính trong
TCH chủ nghĩa t bản (CNTB) sẽ phải biến đổi. Tham gia vào quá trình TCH
không chỉ có Mỹ và các nớc t bản phát triển mà còn có hàng loạt các quốc
gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Do vậy quá trình TCH không phải
đơn giản là sự phổ biến các giá trị, luật chơi của CNTB, mà là quá trình đấu
tranh thoả thuận, sàng lọc, trong đó các giá trị văn minh nhân đạo của
loài ngời sẽ đợc chấp nhận. Cũng không thể xem quá trình TCH hiện nay
thuần tuý mang tính chất TBCN. Sự đan xen các lợi ích trong quá trình
tham gia hội nhập của các chủ thể phản ánh tính phức tạp và đầy mâu thuẫn
của chính quá trình này. Đặc trng thứ t : TCH kinh tế là quá trình mang tính
hai mặt, nó cũng đặt ra những thách thức đối với các quốc gia. Toàn cầu
hoá là quá trình tất yếu. Việc hội nhập tham gia vào toàn cầu hoá kinh tế sẽ
tạo cho các bên tham gia những cơ hội, đồng thời nó cũng đặt ra những
thách thức. Có ý kiến cho rằng :
TCH là thanh gơm hai lỡi, có thể tạo ra những đòn bẩy làm tăng tốc
độ phát triển kinh tế, đa lại kỹ thuật mới làm nâng cao mức sống của ngời
dân hoặc có thể làm xói mòn văn hoá dân tộc. Có thể đa ra những tác động
của TCH nh sau : Thứ nhất sự phát triển của toàn cầu hoá kinh tế phá bỏ
những cản trở, hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia, mở ra những điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển quan hệ kinh tế quốc tế, từ đó có thể tận
dụng từ thị trờng bên ngoài.
Thứ hai : Toàn cầu hoá kinh tế mở ra cơ hội cho các quốc gia chậm
phát triển nhanh chóng hội nhập vào phân công lao động quốc tế, từ đó hình
thành một cơ cấu kinh tế xã hội hiệu quả, rút ngắn quá trình hiện đại
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét