Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

nội dung và mối quan hệ giữa đầu tư vào tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong doanh nghiêp


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nội dung và mối quan hệ giữa đầu tư vào tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong doanh nghiêp": http://123doc.vn/document/1054005-noi-dung-va-moi-quan-he-giua-dau-tu-vao-tai-san-huu-hinh-va-tai-san-vo-hinh-trong-doanh-nghiep.htm


người sỡ hữu tài sản đó. Tài sản vô hình có thể phân loại dựa theo nhiều tiêu
thưc như: các quyền, các mối quan hệ, các nhóm tài sản vô hình, tài sản sỡ
hữu trí tuệ.
1.3.1. Đặc điểm của tài sản vô hình trong doanh nghiệp.
Tài sản vô hình là những tài sản có giá trị lớn, thời gian hữu ích lâu dài.
Có khái niệm biểu hiện rất đa dạng, nền kinh tế thị trường càng phát triển thì
chủng loại của tài sản vô hình càng phong phú. Tài sản vô hình có nhiều
điểm chủ yếu sau:
- Tài sản vô hình có hình thái vật chất không rõ ràng. Có loại được thể
hiện bằng hình thái cụ thể: nhãn hiệu, bằng sáng chế Có những loại tài sản
vô hình hoàn toàn vô hình như: uy tín, trên thị trường, mối quan hệ kinh
doanh
- Tài sản vô hình có tính mới: là một kỹ thuật mới, sáng chế mới, một
sáng tác mới hoặc một tác phẩm mới không sao chép lại. Tính mới là nét đặc
trưng của mặt hàng trí tuệ, buộc các tác giả mặt hàng trí tuệ mới phải động
não nhiều làm ra và phải làm được trước những người khác.
- Giá trị tài sản vô hình rất khó xác định, việc xác định rất phức tạp. Có
loại có thể định giá và mua bán được, ví dụ như: bản quyền, phát minh sáng
chế, chi phí thành lập, vị trí kinh doanh… Giá trị của những tài sản cố định
vô hình này được thể hiện bằng những khoản chi phí để mua tài sản đó thông
qua các văn bản sỡ hữu được luật pháp thừa nhận. Bên cạnh đó có những
loại tài sản không thể mua bán, được tạo ra bởi sự cố gắng của tập thể lãnh
đạo và công nhân toàn doanh nghiệp, ví dụ như: chữ tín trong kinh doanh.
- Tài sản vô hình tồn tại sự hao mòn vô hình của tài sản vô hình. Sự bùng
nổ kỹ thuật, sự cạnh tranh quyết liệt trên thương trường, và những yếu tố
khác đã dẫn đến sự mất giá nhanh chóng của một số tài sản vô hình nào đó.
- Thời gian sử dụng hữu ích của một tài sản vô hình thường là một đại
lượng biến đổi, không cố định, có thể dài ngắn khác nhau nhưng không phải
là vô hạn định. Sản phẩm trí tuệ, ngoài các tác phẩm văn chương hay nghệ
thuật, các sản phẩm khác có tính thời gian vì khoa học kỹ thuật có tính biến
chuyển rất nhanh.
1.3.2. Phân loại tài sản vô hình.
Tài sản vô hình có thể phân loại theo 2 cách: theo hình thức xuất hiện như
cách phân loại ủy ban Thẩm định giá quốc tế và theo các nguồn lực phụ
thuộc con người, các nguồn lực không phụ thuộc con người. Theo ủy ban
Thẩm định giá quốc tế tài sản vô hình đc phân loại dựa trên: các quyền, các
mối quan hệ, tài sản sỡ hữu trí tuệ hay các nhóm tài sản vô hình khác
(thường được gọi là uy tín):
- Các quyền: mọi doanh nghiệp đều có quyền của mình, những quyền này
có thề tồn tại theo những điều kiện của một hợp đồng dưới hình thức văn bản
hay không bằng văn bản. Giá trị của quyền phụ thuộc vào những lợi ích tài
chính mà quyền đó mang lại cho doanh nghiệp.
- Mối quan hệ giữa các bên: Mọi doanh nghiệp đều phải thiết lập mối
quan hệ với các đơn vị, các chủ thể và các cá nhân bên ngoài khác. Mối quan
hệ này có thể không thể hiện thành hợp đồng nhưng nó rất quan trọng đối
với doanh nghiệp.
- Các tài sản vô hình lập thành nhóm: là giá trị vô hình thặng dư còn lại
sau khi tất cả tài sản vô hình có thể nhận biết được đã được đánh giá và trừ
khỏi tổng tài sản vô hình, thường được gọi là uy tín. Đặc biệt là đối với
những công ty đang làm ăn tốt và có lợi thế kinh doanh.
- Tài sản sở hữu trí tuệ: là những tài sản vô hình không nằm ở dạng vật
chất nhưng chúng có giá trị vì chúng có khả năng sinh ra dòng lợi nhuận
trong tương lai. Tài sản sỡ hữu trí tuệ là một loại đặc biệt của tài sản vô hình,
nó thường được luật pháp bảo vệ khỏi những sự sử dụng trái thẩm quyền của
những người khác. Ví dụ như: tên nhãn hiệu, bản quyền, bằng sáng chế,
1.3.3. Vai trò tài sản vô hình trong doanh nghiệp.
Tài sản vô hình đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh
nghiệp. Giá trị vô hình của các doanh nghiệp là một đại lượng có thật, có thể
tính toán được và trong nhiều trường hợp nó có giá trị rất lớn, thậm chí lớn
hơn rất nhiều giá trị hữu hình của doanh nghiệp. Theo số liệu của liên đoàn
quốc tế các nhà kế toán (IFAC), năm 1998 khoảng 50% - 90% giá trị do một
công ty tạo ra là nhỏ vào việc quản trị các tài sản vô hình. Sự chênh lệch này
sẽ tiếp tục tăng lên khi nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển hơn trong
tương lai.
Nhãn hiệu là một công cụ tuyệt vời để chiếm lĩnh các thị trường như vào
sự phát triển của các phương tiện quảng cáo, đó là một công cụ duy nhất cho
phép sản phẩm này với sản phẩm khác cùng loại. Ngoài ra, nhãn hiệu mạnh
có thể giúp doanh nghiệp đạt được các vị thế dẫn đầu trong ngành. Người
tiêu dùng bị thu hút mạnh mẽ chỉ vì danh tiếng của nhãn hiệu. Do vậy khi
doanh nghiệp có những sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng sẽ có thị phần
tăng nhanh, tạo cho doanh nghiệp sự bền vững về vị trí cạnh tranh cũng như
các nhãn hiệu khác xâm nhập vào thị trường mới, khả năng tiếp cận với
nhiều thị trường và luôn đảm bảo sự an toàn trong kênh phân phối sản phẩm.
Quyền sở hữu trí tuệ là tài sản kinh doanh thiết yếu, nó là một loại tài sản
vô hình gắn liền với uy tín của cơ sở sản xuất kinh doanh có chức năng nhận
dạng như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, các sáng chế, là một cách
dùng lợi nhuận để thúc đẩy người phát minh đi vào sản xuất, phục vụ phúc
lợi cộng đồng. Quyền sở hữu gắn liền với độc quyền khai thác thị trường và
một sản phẩm hay dịch vụ nhất định.
2. Hoạt động đầu tư vào tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong
doanh nghiệp.
Họat động đầu tư là những hoạt động bỏ ra hay hy sinh các nguồn lực ở
hiện tại để tiến hành hoạt động nào đó nhằm đạt được các kết quả, thực hiện
những mục đích nhất định trong tương lai. Thường thì mục đích của hoạt
động đầu tư đựơc chia làm hai loại: mục đích kinh tế(nhằm thu lại lợi nhuận)
và mục đích xã hội(nhằm cải tạo môi trường xã hội, môi trường tự nhiên hay
cải tạo nâng cao chất lượng y tế, giáo dục…).
2.1. Khái niệm, vai trò, nội dung và phân loại hoạt động đầu tư phát
triển trong doanh nghiệp.
2.1.1. Khái niệm.
Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là một bộ phận của đầu tư phát
triển, là hoạt động sử dụng vốn và các nguồn lực trong hiện tại nhằm duy trì
hoạt động và tăng thêm tài sản của doanh nghiệp, tạo thêm việc làm và nâng
cao đời sống của các thành viên trong đơn vị.
Đầu tư theo nghĩa rộng nói chung là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để
tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho chủ đầu tư các kết quả
nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra. Căn cứ vào tính
chất tác động của hoạt động đầu tư đối với nền kinh tế, đầu tư có thể được
phân thành: đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và đầu tư phát triển. Đầu tư
phát triển trong doanh nghiệp là một bộ phận của đầu tư phát triển, hay còn
gọi là đầu tư theo nghĩa hẹp, là một phương thức đầu tư trực tiếp nhằm duy
trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời
sống của xã hội, là động lực chính cho sự tăng trưởng và phát triển của nền
kinh tế.
2.1.2. Vai trò.
Đầu tư trong doanh nghiệp quyết định đến sự ra đời, tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp. Vai trò của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp thường
được thể hiện thông qua sự tác động của việc đầu tư vào tài sản doanh
nghiệp đến hoạt động sản xuất kinh doanh:
- Đầu tư giữ vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng hoạt động
sản xuất kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp.
- Đầu tư giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ khoa
học kĩ thuật, năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
- Tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
- Đầu tư giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo lập một vị
trí vững chắc trên thị trường.
- Đầu tư phát triển tạo điều kiện để hạ giá thành, tăng lợi nhuận và nâng
cao đời sống của thành viên trong đơn vị.
2.1.3. Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp quyết định sự tồn ra đời hay tồn tại
của mỗi doanh nghiệp. Để có thế xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra
đời của bất kỳ cơ sở hạ tầng nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cẩu trúc
hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành các công
tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động
trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất vừa được tạo ra. Đối với các cơ sở
đang tồn tại sau một thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh, các cơ sở vật
chất kĩ thuật của các cơ sở bị hao mòn, hư hỏng. Để có thể duy trì và phát
triển cần phải đầu tư sữa chữa, thay thế các cơ sở vật chất, máy móc thiết bị
đã bị hư hỏng, hao mòn hoặc để phù hợp với điều kiện hoạt động mới của sự
phát triển khoa học - kĩ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội
như: đầu tư vào nhà xưởng, đầu tư vào máy móc thiết bị, đầu tư cho cở sở
vật chất cần thiết khác…
Ngoài ra hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp còn phải đầu tư
vào những tài sản phi vật chất(tài sản vô hình) như: vào các hoạt động
nghiên cứu, triển khai về khoa học công nghệ, đầu tư phát triển nguồn nhân
lực trong doanh nghiệp, đầu tư vào phát triển thương hiêu như: maketing,
quảng cáo… Sau đây là một số nội dung cơ bản khi đầu tư vào một doanh
nghiệp mới thành lập:
- Đầu tư vào chi phí thành lập doanh nghiệp. Chi phí thành lập doanh
nghiệp được coi là một loại tài sản vô hình cần được đầu tư ngay từ giai
đoạn đầu và được tính khấu hao vào giá thành sản phẩm sau này. Đầu tư vào
chi phí thành lập doanh nghiệp là phải chi tiền cho các chứng từ, giấy phép
kinh doanh, giấy phép thành lập doanh nghiệp chi cho việc thuê luật sư tư
vấn trong lĩnh vực thành lập doanh nghiệp nếu như chủ đầu tư chưa am hiểu
về các bước để thành lập một doanh nghiệp… Các khoản chi phí phải trả cho
quá trình đi lại, xin chứng nhận chờ quyết định của cơ quan có thẩm quyền,
chi phí cơ hội trong thời gian chờ đợi, chi phí tuyển nhân sự đầu tiên khi
doanh nghiệp chưa đi vào hoạt động, chi phí phải bỏ ra để tổ chức các cuộc
họp, đàm phán để đi đến quyết định thành lập doanh nghiệp.
- Đầu tư vào cơ sở hạ tầng là đầu tư xây dựng nhà xưởng, kho bãi, giao
thông, các công trình cung cấp điện, nước phục vụ cho các hoạt động sản
xuất của doanh nghiệp. Cơ sở hạ tầng là điều kiện thiết yếu đầu tiên cho việc
xây dựng một doanh nghiệp và là điều kiện cần để doanh nghiệp có thể đi
vào hoạt động. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường có lượng vốn lớn, thời gian
thu hồi vốn lâu dài. Sản phẩm được làm ra được sử dụng trong một thời gian
dài, tham gia vào nhiều chu kì kinh doanh của doanh nghiệp nên có tác động
lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đầu tư vào máy móc thiết bị: là đầu tư vào việc lựa chọn mua sắm các
loại máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Máy móc thiết bị được coi là xương sống của một doanh nghiệp nên
việc đầu tư vào nó phải được chọn lựa kĩ càng. Nguồn vốn đầu tư vào máy
móc thiết bị chiếm một tỉ trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư của doanh
nghiệp.
- Đầu tư vào thương hiệu là đầu tư uy tín, sự biết đến rộng rãi về doanh
nghiệp ở trong nước cũng như trên thị trường quốc tế. Để tạo dựng một
thương hiệu mạnh là kết quả cuối cùng của mọi nỗ lực về đầu tư vào các
khoản chi phí, đầu tư vào nhãn hiệu, đầu tư vào công nghệ kĩ thuật, vào kiểu
dáng công nghiêp. Tất cả những cái đó kết hợp lại thành một thương hiệu
mạnh có sức cạnh tranh lớn trên thị trường.
- Đầu tư vào nghiên cứu sáng chế, phát minh, các giải pháp hữu hiệu. Để
tạo ra được một giải pháp kĩ thuật mới so với trình độ kĩ thuật trên thế giới
mang tính sáng tạo, có khả năng áp dụng vào sản xuất kinh doanh thì doanh
nghiệp cần phải bỏ vốn ra để thuê các nhà nghiên cứu khoa học tìm ra một
cách có hiệu quả nhất trong quá trình tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp cũng có
thể mua bằng sáng chế phát minh… Lượng vốn phải bỏ ra cho cho loại tài
sản vô hình này là tương đối lớn và ngày càng quan trọng trong doanh
nghiệp bởi nó quyết định nhiều đến quá trình sản xuất, năng suất lao động
cũng như chất lượng sản phẩm và từ đó quyết định đến giá bán của sản
phẩm. Một phát minh sáng chế mới thì làm tăng năng suất lao động, sản
phẩm có tính mới trên thị trường, thu hút được nhiều khách hàng, “hớt phần
ngọn của thị trường” thu được lợi nhuận cao và tiếp tục đẩy mạnh sản xuất
kinh doanh.
- Đầu tư vào khoa học công nghệ là đầu tư nghiên cứu công nghệ mới
hoặc đầu tư mua sắm công nghệ từ nước ngoài. Trong sản xuất kinh doanh bí
quyết công nghệ luôn luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu, vì vậy cần phải
đầu tư vào công nghệ để tìm ra những công nghệ phù hợp với điều kiện sản
xuất của doanh nghiệp. Muốn vậy doanh nghiệp cần phải bỏ ra một lượng
vốn tương đối lớn để đầu tư nhằm tiếp cận, cập nhật những thông tin về thị
trường công nghệ. Thêm vào đó cũng cần phải đầu tư vốn để tiếp cận được
với những dịch vụ tư vấn có tính chất hỗ trợ trong việc xác định công nghệ
thích hợp và hiệu quả giúp họ cải tiến sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh.
Như vậy, công nghệ mới cho doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết giúp họ
có chỗ đứng vững chắc trên thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh với
các đối thủ khác.
- Đầu tư vào nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng
cần được đầu tư thường xuyên cả về số lượng và chất lượng. Doanh nghiệp
không chỉ đầu tư vốn để trả cho việc tuyển dụng công nhân viên mà còn phải
đầu tư chi phí để đào tạo nâng cao tay nghê, trình độ quản lý. Nguồn nhân
lực có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mọi hoạt
động của doanh nghiệp đều có sự đóng góp, điều hành của các nhân viên,
người quản lý.
2.1.4. phân loại đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
Căn cứ vào hình thái vật chất của từng loại tài sản, trạng thái luân chuyển
của các loại tài sản, tính chất của hoạt đầu tư trong doanh nghiệp chúng ta có
thể phân loại đầu tư phát triển doanh nghiệp như sau: Đầu tư vào tài sản hữu
hình và đầu tư vào tài sản vô hình, đầu tư vào tài sản cố định và đầu tư vào
tài sản lưu động, đầu tư phát triển theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
Chúng ta xem xét hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp theo hình
thái vật chất của tài sản:
- Đầu tư vào tài sản hữu hình: là hoạt động đầu tư vào các loại tài sản có
hình thái vật chất cụ thể, có thể cân đong đo đêm được như: cơ sở hạ tầng,
máy móc thiết bị, đầu tư vào hàng hóa… Có thể đầu tư xây mới, mua sắm và
lắp đặt thiết bị máy móc hoặc đầu tư sữa chữa, thay thế, nâng cấp cơ sở hạ
tầng, máy móc thiết bị bị hao mòn hay hư hỏng. Chủ yếu đầu tư vào tài sản
cố định hữu hình.
- Đầu tư vào tài sản vô hình: là hoạt động đầu tư vào các loại tài sản
không có hình thái vật chất cụ thể, không có thuộc tính của vật chất nhưng
có giá trị đối với doanh nghiệp như: nhãn mác hàng hóa, khoa học công
nghệ, chất lượng nguồn nhân lưc…
2.2. Đầu tư vào tài sản hữu hình và tác động của nó đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài sản hữu hình có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay khi mà
như cầu thị trường luôn luôn thay đổi vể mẫu mã và chất lương. Mà tài sản
hữu hình là công cụ trực tiếp sản xuất ra sản phẩm của doanh nghiệp nên đòi
hỏi các nhà quản lý phải thường xuyên đầu tư vào nâng cấp, đổi mới tài sản
hữu hình để có thể phục vụ tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.2.1. Nội dung đầu tư vào tài sản hữu hình trong doanh nghiệp:
Đầu tư vào tài sản hữu hình là sự hy sinh nguồn lực hiện tại để thu về kết
quả lơn hơn trong tương lai, hoạt động đầu tư bao gồm:
- Đầu tư vào cơ sở hạ tầng (nhà xưởng, văn phòng làm việc và nghỉ ngơi,
hệ thống giao thông…). Đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường là những hạng mục
công trình lớn cần nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài. Cơ sở hạ tầng
được xếp vào danh mục công trình xây dựng và hoàn thành sớm nhất trong
dự án, là nhân tố đi đầu trong quá trình thực hiện dự án. Cơ sở hạ tầng là
hạng mục công trình chiếm lượng vốn lớn trong tổng nguồn vốn, có thời
gian sử dụng lâu dài nên quá trình thi công xây dựng cần được bảo đảm chất
lượng tốt và đáp ứng mọi yêu cầu kĩ thuật.
- Đầu tư vào máy móc thiết bị là một phần quan trọng của hoạt động đầu
tư phát triển trong doanh nghiệp, luôn thu hút sự quan tâm hàng đầu của chủ
đầu tư. Máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất kinh doanh thường được mua
sắm, trao đổi hoặc nghiên cứu chế tạo. Với trình độ khoa học kĩ thuật của
Việt Nam hiện nay thì máy móc thiết bị hầu hết là nhập khẩu từ nước ngoài
hoặc mua lại từ các doanh nghiệp khác. Máy móc thiết bị trực tiếp quyết
định đến chất lượng, mẫu mã của sản phẩm, tức là trực tiếp quyết định đến
sự thành công của dự án đầu tư. Còn đối với các doanh nghiệp vừa mới xây
dựng và còn đang hoạt động. Mọi yếu tố cấu thành doanh nghiệp bao gồm
mặt bằng, nhà xưởng, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, hệ
thống xử lý chất thải… cần được bảo dưỡng và sửa chữa. Doanh nghiệp cần
xác định chính xác số lượng lao động và thời gian ngừng sản xuất để sửa
chữa theo từng đối tượng sửa chữa. Các phương pháp là phương pháp thông
kê kinh nghiệm hoặc định mức thời gian sửa chữa chia thành 2 loại: công
việc nguội và công việc máy.
Các công việc nguội phải thực hiện trực tiếp tại đối tượng cần sửa chữa
như tháo lắp, gia công nguội… nên cần có điều kiện là đối tượng sửa chữa
ngừng hoạt động công việc máy không thao tác tại đối tượng sửa chữa được
xác định trên cơ sở thời gian cần thiết để thực hiện nguội, mức huy động lực
lượng lao động sửa chữa hiện có và thời gian làm việc của bộ phận sửa chữa.
Có thể xác định thời gian ngừng hoạt động để sửa chữa cho mỗi đối tượng
theo công thức:
N‘ngừng’ =T‘nguội’ /(Cn*Ca*Gi*Hđm)
Trong đó :
N‘ngừng’: số ngày đối tượng ngừng hoạt động để sửa chữa
T‘nguội’: thời gian cần thiết để hoàn thành công việc nguội
L‘nguội’: số lao động cùng làm việc trong ca
Ca: số ca làm việc trong ngày
Gi: số giờ làm việc trong ca
Hđm : hệ số hoàn thành định mức thời gian
Máy móc thiết bị được coi như là xương sống của một dự án đầu tư phát
triển của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, lượng vốn bỏ ra để mua
máy móc thiết bị rất lớn và chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư của
dự án. Mặt khác việc mua sắm máy móc thiết bị có rất nhiều vấn đề liên
quan. Ví dụ như vấn đề đào tạo cán bộ kĩ thuật, sử dụng máy móc thành
thạo, đồng thời phải có những cán bộ kĩ thuật xử lý kịp thời khi có sự cố xảy
ra… Vì vậy quá trình đầu tư mua sắm máy móc thiết bị không chỉ là việc
mua sắm máy móc, trang thiết bị mà còn là hoạt động đầu tư vào nguồn nhân
lực, đào tạo công nhân để sử dụng và vận hành tốt đạt hiệu quả cao trong quá
trình tạo ra sản phẩm.
- Đầu tư vào phương tiện vận tải là việc đầu tư vào thuê, mua sắm các
phương tiện vận tải phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Đối với những hoạt động thi công công trình thì phương tiện vận tải
cần sử dụng như: xe chuyên chở nguyên vật liệu, xe chuyên dụng, máy xúc
đất… chủ yếu là đi thuê từ các doanh nghiệp cung cấp. Còn đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh như: phân phối sản phẩm từ xưởng sản xuất đến
đại lý, phương tiện chuyên chở cán bộ công nhân viên… thường được chủ
doanh nghiệp mua sắm trang bị. Đầu tư vào phương tiện vận tải thường
chiếm tỷ trọng không lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tuy nhiên
chúng ta cũng cần phải mua sắm đúng mức, hợp lý để đem lại hiệu quả kinh
tế cao không gây lãng phí. Đồng thời cần phải có chuyên gia trong lĩnh vực
thẩm định, kiểm tra về mặt chất lượng cũng như vấn đề về giá để đề phòng
thất thoát nguồn vốn của chủ đầu tư.
- Đầu tư vào phương tiện truyền dẫn là hoạt động đầu tư vào các hệ thống
mạng tải điện, thông tin liên lạc phục vụ cho sản xuất. Hệ thống mạng điện
phục vụ cho sản xuất kinh doanh bao gồm hệ thống đường dây dẫn điện,
biến thế, các hệ thống dẫn truyền, đóng ngắt điện, công tơ điện, máy phát
điện và các bộ phận khác có liên quan. Hệ thống thông tin liên lạc là các
dụng cụ bưu chính viễn thông, mạng internet giúp cho việc liên lạc của
doanh nghiệp trong công tác kinh doanh và thu thập thông tin thị trường.
Bao gồm dây dẫn, các máy điện thoại cố định và di động, mạng internet,
máy vi tính… các công cụ hỗ trợ thông tin liên lạc cho doanh nghiệp môi
trường bên ngoài. Ngoài ra phương tiện truyền dẫn bao gồm hệ thống dẫn
nước và xử lý chất thải cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoạt động đầu tư vào phương tiện truyền dẫn bao gồm nhiều hoạt động mua
sắm các hạng mục, lắp đặt và sử dụng khác nhau.
Doanh nghiệp còn đầu tư vào các loại tài sản hữu hình khác ngoài các
loại kể trên. Ví dụ như: đầu tư giải quyết hàng hóa tồn kho, đầu tư vào thiết
bị phục vụ văn phòng như bàn ghế… Những hoạt động đầu tư này thường có
quy mô nhỏ, lượng vốn đầu tư chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng vốn đầu tư.
Hầu hết các hoạt động này nằm trong danh mục mua sắm hàng hóa.
2.2.2. Tác động của việc đầu tư vào tài sản hữu hình đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc đầu tư vào tài sản hữu hình có tác động rất lớn đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Tài sản hữu hình là các công cụ được sử dụng trực
tiếp trong việc sản xuất hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp. Tài sản hữu
hình quyết định đến chất lượng hàng hóa, mẫu mã sản phẩm, tức là quyết
định đến sản lượng, lợi nhuân và sự thành công của doanh nghiệp trong việc
sản xuất kinh doanh. Vì vậy việc đầu tư vào tài sản hữu hình sẽ trực tiếp
quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Đầu tư vào máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định trong
việc nâng cao chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ của doanh
nghiệp. Nhà xưởng và máy móc thiết bị có thể đáp ứng cho việc sản xuất ra
hàng hóa có chất tốt, mẫu mã đẹp đáp ứng được yêu cầu của thị trương. Đầu
tư máy móc thiết bị tạo điều kiện để hạ giá thành, tăng lợi nhuận và nâng cao
đời sống của thành viên trong đơn vị.
Đầu tư giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ khoa học
kĩ thuât, năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Đầu tư vào tài sản hữu hình
giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo lập một vị trí vững
chắc trên thị trường. Ví dụ như việc đầu tư vào phương tiện truyền dẫn,
phương tiện thông tin… giúp cho viêc sản xuất thuận lợi hơn. Việc đầu tư
vào phương tiện thông tin tạo điều kiện cho doanh nghiệp nắm bắt được
thông tin của thị trường, phản ứng nhanh nhạy với những biến đổi về nhu
cầu, thị hiếu của người tiêu dùng.
2.3. Nội dung đầu tư vào tài sản vô hình và tác động của nó đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiện nay với nền kinh tế thị trường với đặc trưng tự do hoá cạnh tranh,
xu thế thương mại tự do, xu thế toàn cầu hoá… thì mỗi doanh nghiệp phải
chú trọng vào việc tự hoàn thiện mình để tồn tại và có vị trí vững chắc trên
thị trường. Một vấn đề đặt ra hiện nay là: liệu các doanh nghiệp đã thực sự
nhận ra được tầm quan trọng, sự đóng góp của các tài sản vô hình vào sự
thành công của doanh nghiệp và đầu tư đúng mức vào tài sản vô hình.
2.3.1. Nội dung:
Trên thực tế ta thấy rằng tài sản vô hình của doanh nghiệp rất phong phú
và đa dạng, chúng ta khó có thể nhận biết và đánh giá đươc. Việc đầu tư vào
tài sản vô hình của doanh nghiệp cũng khó đánh giá chính xác được:
- Đầu tư vào chi phí thành lập của doanh nghiệp. Chi phí thành lập doanh
nghiệp được coi là một loại tài sản vô hình cần được đầu tư ngay từ giai
đoạn đầu và được tính vào giá thành sản phẩm sau này. Đầu tư vào chi phí
thành lập doanh nghiệp là khoản tiền phải chi cho các chứng từ, giấy phép
kinh doanh, giấy phép thành lập doanh nghiệp, chi phí cho việc thuê luật sư
tư vấn trong lĩnh vực thành lập doanh nghiệp, các khoản chi phí cho quá
trình đi lại, chi phí cơ hội trong thời gian chờ đợi… Tất cả những khoản chi
đó được tính vào tồng vốn đầu tư, vào chi phí thành lập doanh nghiệp(là tài
sản vô hình của dự án sản xuất kinh doanh).
- Đầu tư vào nghiên cứu sáng chế, phát minh, giải pháp hữu ích là hoạt
động đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu, sáng chế ra các giải pháp kĩ thuật
mới phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp. Để có một giải pháp kĩ thuật
mới so với trình độ kĩ thuật trên thế giới mang tính sáng tạo, có khả năng áp
dụng vào sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải bỏ vốn ra để thuê
các nhà nghiên cứu khoa học tìm ra một cách có hiệu quả nhất trong quá
trình tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp cũng có thể mua bằng sáng chế phát
minh… Lượng vốn phải bỏ ra cho cho loại tài sản vô hình này là tương đối
lớn và nó ngày càng quan trọng trong doanh nghiệp bởi vì: nó quyết định
nhiều đến quá trình sản xuất, năng suất lao động, công suất làm việc cũng
như chất lượng sản phẩm và từ đó quyết định đến giá bán của sản phẩm. Nếu
có được một phát minh sáng chế mới thì nó sẽ mang lại một khoản lợi nhuận
cho doanh nghiệp vì giảm được năng suất lao động, sản phẩm có tính mới
trên thị trường, thu hút được nhiều khách hàng có tiềm năng,thu được lợi
nhuận cao và tiếp tục đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.
- Đầu tư vào nhãn hiệu thương mại, phát triển thương hiệu. Việc tạo lập,
duy trì và phát triển tên một nhãn hiệu trên thị trường là việc không đơn
giản, để thành công nó cần phải có một quá trình liên tục mà chủ đầu tư hoặc
doanh nghiệp cần phải biết đến để tiến hành đầu tư sao cho có hiệu quả nhất.
Chúng ta cần phải đầu tư cho nghiên cứu thị trường, cần bỏ chi phí ra tìm
hiểu xu hướng phát triển của ngành, nhu cầu hành vi khách hàng, cần tìm
hiểu thị hiếu và nhu cầu của khách hàng, đồng thời xem xét vị trí và nhãn
hiệu của đối thủ cạnh tranh. Việc ra đời một nhãn hiệu có uy tín trên thị
trường không phải là đơn giản. Nhưng khi doanh nghiệp đã tạo ra cho mình
một nhãn hiệu vững mạnh thì việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp đó dễ
dàng hơn, có khả năng thu hút những khách hàng mới, duy trì khách hàng
trung thành, mở rộng thị trường trong nước và quốc tế. Do đó hoạt động đầu
tư nhãn hiệu luôn luôn cần thiết trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Đầu tư vào đổi mới khoa học công nghệ. Đầu tư vào khoa học công
nghệ cho doanh nghiệp có thể là đầu tư nghiên cứu công nghệ mới hoặc đầu
tư mua sắm công nghệ từ nước ngoài. Trong sản xuất kinh doanh bí quyết
công nghệ luôn luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu, vì vậy cần phải đầu tư
vào công nghệ để tìm ra những công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất
của doanh nghiệp. Muốn vậy doanh nghiệp cần phải bỏ ra một lượng vốn
tương đối lớn để đầu tư nhằm tiếp cận, cập nhật những thông tin về thị
trường công nghệ. Công nghệ mới cho doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết
giúp họ có chỗ đứng vững chắc trên thị trường và nâng cao khả năng cạnh
tranh với các đối thủ khác.
- Đầu tư vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực cần
phải được đầu tư thường xuyên cả về số lượng vật chất lượng. Doanh nghiệp
không chỉ đầu tư vốn để trả cho việc tuyển dụng công nhân viên mà còn phải
đầu tư chi phí để đào tạo nâng cao tay nghê, trình độ quản lý cho cán bộ
công nhân viên trong các lĩnh vực mà họ đảm nhiệm. Một doanh nghiệp có
nguồn nhân lực ổn định và chất lượng thì họ sẽ tận dụng được hết công suất
sản xuất của máy móc thiết bị khai thác hết mọi nguồn lực bên trong và bên
ngoài doanh nghiệp. Giúp họ có một doanh thu tương đối lớn, ngày càng
vững mạnh và phát triển là cơ sở để mở rộng quy mô sản xuất của doanh
nghiệp.
- Đầu tư vào phát triển thương hiệu là hoạt động đầu tư vào uy tín, là sự
biết đến rộng rãi về doanh nghiệp, sự tin tưởng vào sản phẩm của doanh
nghiệp ở trong nước cũng như trên thị trường quốc tế. Để tạo dựng một
thương hiệu mạnh là kết quả cuối cùng của mọi nỗ lực về đầu tư vào các
khoản chi phí, đầu tư vào nhãn hiệu, đầu tư vào công nghệ kĩ thuật, vào kiểu
dáng công nghiêp. Tất kết hợp lại thành một thương hiệu mạnh có sức cạnh
tranh lớn trên thị trường.
Ngoài những tài sản vô hình được nhắc đến ở trên thì doanh nghiệp còn
đầu tư vào một số loại tài sản vô hình khác phục vụ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp được tốt hơn. Giúp cho doanh nghiệp tồn tại
và phát triển.
2.3.2. Tác động
Đầu tư vào tài sản vô hình là đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Tài sản vô hình là những tài sản chiếm giá trị
khá lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Giá trị vô hình của các doanh
nghiệp là một đại lượng có thật, có thể tính toán được và trong nhiều trường
hợp nó có giá trị rất lớn, thậm chí lớn hơn rất nhiều giá trị hữu hình của
doanh nghiệp. Theo số liệu của liên đoàn quốc tế các nhà kế toán(IFAC),
năm 1998 khoảng 50% - 90% giá trị do một công ty tạo ra là nhỏ vào việc
quản trị các tài sản vô hình. Sự chênh lệch này sẽ tiếp tục tăng lên khi nền
kinh tế tri thức ngày. Ví dụ nhãn hiệu là một công cụ tuyệt vời để chiếm lĩnh
các thị trường như vào sự phát triển của các phương tiện quảng cáo, đó là
một công cụ duy nhất cho phép sản phẩm này với sản phẩm khác cùng loại.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ của một doanh nghiệp
có thành công hay không được đánh giá qua việc người tiêu dùng sử dụng và

1 nhận xét:

  1. Free WNBA Picks & Betting Predictions - VieCasino 카지노 카지노 gioco digitale gioco digitale 878Poker Room near me - AogiLuck123

    Trả lờiXóa