Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

toàn cầu hóa và vấn đề hội nhập cửa việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "toàn cầu hóa và vấn đề hội nhập cửa việt nam": http://123doc.vn/document/1052030-toan-cau-hoa-va-van-de-hoi-nhap-cua-viet-nam.htm


- Gia tăng số lượng các chuẩn áp dụng toàn cầu; v.d luật bản quyền
Các rào cản đối với thương mại quốc tế đã giảm bớt tương đối kể từ Chiến tranh
thế giới lần thứ hai thông qua các hiệp ước như hiệp ước chung về mậu dịch (GATT).
Các đề xuất của GATT cũng như WTO bao gồm:
- Thúc đẩy thương mại tự do
+ Về hàng hoá: giảm hoặc bỏ hẳn các loại thếu quan ; xây dựng các khu mậu
dịch tư do với thuế quan thấp hoặc không có
+ về tư bản: giảm hoặc bỏ hẳn các hình thức kiểm soat tư sản
+ Giảm, bỏ hẳn hay điều hoà việc trợ cấp cho các doanh nghiệp địa phương
- Thắt chặt vấn đề sở hữu trí tuệ
+ Hoà hợp luật sở hữu trí tuệ giữa các quốc gia (nói chung là thắt chặt hơn)
+ Công nhận sở hữu trí tuệ ở quy mô giữa các nước
Có khá nhiều thảo luận mang tính học thuật nghiêm túc quanh việc xem toàn cầu
hoá là một hiện tượng có thật hay chỉ là một sự đồn đại. Mặc dù thuật ngữ này đã trở
nên phổ biến, nhiều học giả lý luận rằng các tính chất của hiện tượng này đã từng được
thấy ở một thời điểm trước đó trong lịch sử. Tuy vậy, nhiều người cho rằng những dấu
hiệu làm người ta tin là đang có tiến trình toàn cầu hoá, bao gồm việc gia tăng thương
mại quốc tế và vai trò ngày càng lớn của các tập đoàn gia quốc gia, thực sự không rõ
ràng như ta tưởng. Do vậy, nhiều học giả thích dùng thuật ngữ "quốc tế hoá" hơn là
"toàn cầu hoá". Để cho đơn giản, vai trò của nhà nước và tầm quan trọng của các quốc
gia lớn hơn nhiều trong khái niệm quốc tế hoá, trong khi toàn cầu hoá lại loại trừ vai
trò các nhà nước quốc gia theo bản chất thực sự của nó. Chính vì vậy, các học giả này
xem biên giới quốc gia, trong một nghĩa rộng, còn lâu mới mất đi, do vậy tiến trình
toàn cầu hoá căn bản này vẫn chưa thể xảy ra, và có lẽ sẽ không bao giờ xảy ra vì dựa
trên lịch sử thế giới người ta thấy rằng quốc tế hoá sẽ không bao giờ biến thành toàn
cầuhoá — chẳng hạn như trường hợp liên hiệp châu âu và NAFTA hiện tại.
5
1.4:Tác động toàn cầu hóa:
1.4.1:khía cạnh kinh tế:
Các tổ chức quốc gia sẽ mất dần quyền lực (xem ảnh hưởng về khía cạnh chính
trị phía dưới), quyền lực này sẽ chuyển về tay các tổ chức đa phương như WTO. Các
tổ chức này sẽ mở rộng việc tự do đối với các giao dịch thương mại, và thông qua các
hiệp ước đa phương hạ thấp hoặc nâng cao hàng rào thuế quan để điều chỉnh thương
mại quốc tế.
Toàn cầu hóa cũng làm cho hiện tượng "chảy máu chất xám" diễn ra nhiều và dễ
dàng hơn, kéo theo biến tướng là nạn "săn đầu người". Hai hiện tượng này đã góp phần
gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, giữa
từng khu vực riêng biệt trong một đất nước.
1.4.2:khía cạnh văn,hóa xã hội và ngôn ngữ:
Toàn cầu hoá sẽ tạo ra những hiệu quả trái ngược ở mức độ cá nhân hay dân tộc,
mà kết cục thế nào đến nay cũng vẫn chưa ngã ngũ. Toàn cầu hoá sẽ tạo ra:
• Một sự đa dạng cho các cá nhân do họ được tiếp xúc với các nền văn hóa và
văn minh khác nhau. Toàn cầu hoá giúp con người hiểu hơn về thế giới và những
thách thức ở quy mô toàn cầu qua sự bùng nổ các nguồn thông tin, việc phổ thông hoá
hoạt động du lịch, việc tiếp cận dễ dàng hơn với giáo dục và văn hoá;
• Một sự đồng nhất đối với các dân tộc qua ảnh hưởng của các dòng chảy thương
mại và văn hoá mạnh. Trên thực tế, thông tin tạo ra chính kiến và vì thế một vài tập
đoàn truyền thông lớn, chủ yếu là phương Tây có thể tạo ra (và làm giả) thông tin đưa
đến dân chúng. Sự độc quyền trong lĩnh vực văn hoá và thông tin này được xem như
một sự " Mỹ hoá " thế giới.
Mỗi người nhìn toàn cầu hoá theo một kiểu khác nhau. Có hai xu hướng chính:
• nỗ lực che dấu những khác về bản sắc, thay vì để lộ ra.
6
• cảm giác toàn cầu hoá sẽ mang lại sự tự do cá nhân, ngay cả khi điều đó đi
cùng với một sự đồng nhất hoá toàn cầu một cách tương đối.
Ở góc độ ngôn ngữ, chúng ta thấy khuynh hướng rõ ràng hướng tới đồng nhất
hoá việc dùng "tiếng Anh toàn cầu" ("globish", viết tắt của global English), một tiếng
anh nghèo nàn do những người không phải là ngừoi Anglo-SaXon dùng khi họ ở
nước ngoài. (Lưu ý là "tiếng Anh toàn cầu" không phải là tiếng Anh cơ bản như trong
phiên bản Wikipedia bằng tiếng anh đơn giản Sự phổ cập của tiếng Anh toàn cầu gắn
với việc mất đi quyền lực chính trị ở cấp độ thế giới: thay vì một chính sách văn hoá
quốc tế có sự phối hợp để có thể dẫn đến việc chọn một thứ tiếng có quy luật rõ ràng
và ngữ âm học rõ ràng, phần lớn các nước đều chọn dạy tiếng Anh cho giới trẻ dựa trên
lựa chọn của các nước khác! Do sự bắt chước một cách máy móc và sự trơ ì chính trị,
tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ của thế giới và được gọi là "tiếng Anh toàn cầu"
("globish") vì các yếu tố cơ bản của tiếng Anh Oxford đã bị biến dạng về phát âm chưa
được viết, v.v.). Đối với một số những người nói tiếng Anh, "tiếng Anh toàn cầu" là
kết quả của chủ đề quốc về ngôn ngử của nước họ. Vấn đề là liệu có thể dễ dàng cho
rằng các nỗ lực hướng đến việc dạy tiếng Anh thay vì giảng dạy các thứ tiếng khác sẽ
làm giảm chất lượng của các ngôn ngữ khác hay không (tiếng Pháp lai Anh- franglais).
1.4.3:Khía cạnh chính trị:
Toàn cầu hoá sẽ làm tăng lên nhiều lần các mối quan hệ giữa các công dân trên
thế giới và cũng như các cơ hội cho từng người. Tuy nhiên nó đặt ra vấn đề là phải tìm
ra một giải pháp thay thế hệ thống chính trị và hiến pháp hiện tại dựa trên khái niệm
nhà nước-quốc gia. Các thực thể này đã từng gây ra những tác động tiêu cực trong
suốt lịch sử do tính chất can thiệp mạnh bạo của nó. Ảnh hưởng của chúng giảm dần
do sự toàn cầu hoá, và không còn đủ tầm xử lý nhiều thách thức mang tính toàn cầu
ngày nay.
Từ đó nảy sinh thách thức cần thiết lập một toàn cầu hóa về dân chủ thể chế
nào đó. Kiểu toàn cầu hoá này dựa trên khái niệm "công dân thế giới", bằng cách kêu
7
gọi mọi người sống hành tinh này tham gia vào quá trình quyết định những việc liên
quan đến họ, mà không thông qua một bức màn "quốc tế".
Các tổ chức phi chính phủ muốn thay vào khoảng trống này, tuy nhiên họ thiếu
tính hợp pháp và thường thể hiện các tư tưởng đảng phái quá nhiều để có thể đại diện
tất cả công dân trên thế giới.
1.5:vấn đề hội nhập của Việt Nam:
1.5.1:Chống toàn cầu hóa:
Các chủ nghĩa tích cực vì lợi ích công dồng coi một số khía cạnh của toàn cầu
hoá là nguy hại. Phong trào này không có tên gọi thống nhất. "Chống toàn cầu hoá" là
thuật ngữ báo chí hay dùng nhất. Ngay chính các nhà hoạt động xã hội như Noamchom
sky đã cho rằng tên này không có ý nghĩa gì cả vì mục tiêu của phong trào là toàn cầu
hoá sự công bằng. Trên thực tế, có một tên phổ biến là "phong trào đòi công bằng toàn
cầu". Nhiều nhà hoạt động xã hội cũng tập hợp dưới khẩu hiệu "có thể có một thế giới
khác", từ đó ra đời những tên gọi như altermondisme hay altermondialisation, đến từ
tiếng Pháp.
Có rất nhiều kiểu "chống toàn cầu hoá" khác nhau. Nói chung, những phê phán
cho rằng kết quả của toàn cầu hoá hiện không phải là những gì đã được hình dung khi
bắt đầu quá trình tăng cường thương mại tự do, cũng như nhiều tổ chức tham gia trong
hệ thống toàn cầu hoá đã không xét đến lợi ích cho các nước nghèo cũng như như giơi
lao động.
Các lý luận kinh tế của các nhà kinh tế theo học thương mại công bằng thì cho
rằng thương mại tư do không giới hạn chỉ đem lại lợi ích cho những ai có tỷ lệ vốn lớn
(v.d. người giàu) mà không hề đếm xỉa đến người nghèo.
Nhiều nhà hoạt động xã hội "chống toàn cầu hoá" coi toàn cầu hoá là việc thúc
đẩy chương trình nghị sự của những người theo chủ nghĩa tập đoàn, một chương trình
này nhằm mục tiêu giới hạn các quyền tư do cái nhân dưới danh nghĩa lợi nhuận. Họ
8
cũng cho rằng sự tự chủ và sức mạnh ngày càng tăng của các tập đoàn dần dần hình
thành nên các chính sách chính trị của nhà nước quốc gia.
Một số nhóm "chống toàn cầu hoá" lý luận rằng toàn cầu hoá chỉ đơn thuần là
hình thứcđế quốc, là một trong những lý do căn bản dẫn đến chiến tranh Irac và là cơ
hội kiếm tiền của Mỹ hơn là các nước đang phát triển.
Một số khác cho rằng toàn cầu hoá áp đặt một hình thức kinh tế dựa trên tín dụng,
kết quả là dẫn tới các nợ nần và khủng hoảng nợ nần chồng chất không tránh khỏi.
Sự phản đối chủ yếu nhắm vào sự toàn cầu hoá không kiểm soát (như trong các
chủ nghĩa Tân tự do và tư bản tự do tuyệt đối) do các chính phủ hay các tổ chức gần
như chính phủ (như Quỷ tiền tệ quốc tếNgân hàng thế giới) chỉ đạo và không chịu
trách nhiệm đối với quần chúng mà họ lãnh đạo mà thay vào đó gần như chỉ đáp ứng
lợi ích của các tập đoàn. Rất nhiều các cuộc hội thảo giữa các vị bộ trưởng tài chính và
thương mại các nước trong trục toàn cầu hoá đã gặp phải những phản kháng rầm rộ,
đôi khi cũng có bạo lực từ các đối tượng chống đối "chủ nghĩa toàn cầu tập đoàn".
Phong trào này quy tụ nhiều thành phần, bao gồm các nhóm tín ngưỡng, các đảng
phái tự do dân tộc, các đảng phái cánh tả, các nhà hoạt động vì môi trường, các hiệp
hội nông dân, các nhóm chống phân biệt chủng tộc, các nhà chủ nghĩa xã hội tự do và
các thành phần khác. Đa số theo chủ nghĩa cải cách (hay ủng hộ chủ nghĩa tư bản
nhưng mang tính nhân bản hơn) và một thiểu số tương đối thuộc thành phần cách mạng
(ủng hộ một hệ thống nhân bản hơn chủ nghĩa tư bản). Nhiều người đã chê trách sự
thiếu thống nhất và định hướng của phong trào, tuy nhiên một số khác như Noam
Chomsky thì cho rằng sự thiếu tập trung hoá kiểu này trên thực tế có thể lại là một sức
mạnh.
Những người phản đối bằng phong trào công bằng toàn cầu đã tổ chức các cuộc
gặp mặt quốc tế lớn ở những thành phố nhỏ thay vì những trung tâm đô thị lớn như
trước đây.
9
1.5.2:Ủng hộ toàn cầu hóa:
Những người ủng toàn cầu hóa dân chủ có thể được gọi là những người ủng hộ
chủ nghĩa toàn cầu. Họ cho rằng giai đoạn đầu của toàn cầu hoá là hướng thị trường, và
sẽ được kết thúc bởi giai đoạn xây dựng các thiết chế chính trị toàn cầu đại diện cho ý
chí của toàn thể công dân thế giới. Sự khác biệt giữa họ với những người ủng hộ chủ
nghĩa toàn cầu khác là họ không định nghĩa trước bất kỳ hệ tư tưởng nào để định
hướng ý chí này, mà để cho các công dân được tự do chọn lựa thông qua một tiến trình
dân chủ.
Những người ủng hộ thương mại tư do dùng các học thuyết kinh tế như lợi thế so
sánh để chứng minh thương mại tự do sẽ dẫn đến một sự phân phối tài nguyên hiệu quả
hơn, với tất cả những ai tham gia vào quá trình tìm kiếm lợi ích từ thương mại. Thương
mại tự do sẽ cho những nhà sản xuất tại các nước một thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn
dẫn đến lợi nhuận cao hơn. Đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa các nguồn tư bản, từ đó
đem lại lợi ích cho người lao động trên toàn thế giới; cũng như cạnh tranh giữa nguồn
nhân công trên toàn thế giới sẽ mang lại lợi ích cho các nhà tư bản và trên hết là cho
người tiêu thụ. Nói chung, họ cho rằng điều này sẽ dẫn đến giá thành thấp hơn, nhiều
việc làm hơn và phân phối tài nguyên tốt hơn. Toàn cầu hoá đối với những người ủng
hộ dường như là một yếu tố dẫn đến phát triển kinh tế cho số đông. Chính từ điều này
mà họ chỉ nhìn thấy trong sự truyền thông hoá khái niệm "toàn cầu hoá" một cố gắng
biện minh đầy cảm tính và không duy lý của chủ nghĩa bảo hộ kinh tế.
Chủ nghĩa tự do cá nhân và những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản tự do tuyệt đối
cho rằng mức độ tự do cao về kinh tế và chính trị dưới hình thức dân chủ và chủ nghĩa
tư bản ở phần thế giới phát triển sẽ làm ra của cải vật chất ở mức cao hơn. Do vậy họ
coi toàn cầu hoá là hình thức giúp phổ biến nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản.
Họ phê phán phong trào chống toàn cầu hoá chỉ sử dụng những bằng chứng vụn
vặt để biện minh cho quan điểm của mình, còn họ thì sử dụng những thống kê ở quy
mô toàn cầu. Một trong những dẫn chứng này là tỉ lệ phần trăm dân chúng ở các nước
10
đang phát triển sống dưới mức 1 Đôla Mỹ (điều chỉnh theolạm phát) một ngày đã giảm
một nửa chỉ trong hai mươi năm. Tuổi thọ gần như tăng gấp đôi ở các nước đang phát
triển kể từ chiến tranh thế giới thế giới hai và bắt đầu thu hẹp khoảng cách với các
nước phát triển nơi ít có sự cải thiện hơn. Tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh đã giảm ở các khu
vực đang phát triển trên thế giới. Bất bình đẳng trong thu nhập trên toàn thế giới nói
chung đang giảm dần.
Nhiều người ủng hộ chủ nghĩa tư bản cũng phản đối Ngân hàng thế giới và Quỹ
tiền tệ quốc tế với lý luận rằng những tổ chức này đều tham ô, quan liêu do các nhà
nước kiểm soát và cung cấp tài chính, chứ không phải các tập đoàn kinh doanh. Nhiều
khoản cho vay chỉ đến tay những lãnh đạo độc tài không thực hiện bất kỳ một cải cách
nào, rốt cuộc chỉ dân thường là những người phải trả những khoản nợ này về sau. Một
số nhóm đặc biệt như các liên đoàn thương mại của thế giới phương Tây cũng phản
kháng sự toàn cầu hoá vì mâu thuẫn quyền lợi.
Tuy nhiên, thế giới ngày càng chia sẻ những vấn đề và thách thức vượt qua khỏi
quy mô biên giới quốc gia, nhất là vấn đề ô nhiễm môi trườn tự nhiên, và như vậy
phong trào được biết đến trước đây với tên gọi phong trào chống toàn cầu hoá từ nay
đã biến thành một phong trào chung của các phong trào vì toàn cầu hoá; họ tìm kiếm,
thông qua thử nghiệm, các hình thức tổ chức xã hội vượt qua khỏi khuôn khổ nhà nước
quốc gia và nền dân chủ đại diện. Do đó, cho dù các lý lẽ của phe chống toàn cầu hoá
lúc ban đầu có thể bị bác bỏ thông qua các thực tế về quốc tế hoá như ở trên, song sự
xuất hiện của một phong trào toàn cầu là không thể chối cãi và do đó chúng ta có thể
nói về một tiến trình thực sự hướng tới một xã hội nhân bản ở quy mô toàn cầu của tất
cả các xã hội.
11
Chương II:Vận dụng Toàn cầu hóa Và vấn đề hội nhập
của Việt Nam
2.1:Cơ hội Toàn cầu hóa và vấn đề hội nhập của Việt Nam:
2.1.1:Toàn cầu hóa,từ sức ép đến cơ hội:
Như tôi đã nói trong nhiều bài viết, quá trình phát triển của con người gồm có hai
giai đoạn, giai đoạn phấn đấu để trở thành con người và giai đoạn phấn đấu để trở
thành con người phù hợp với đòi hỏi của thời đại. Ba lần thất bại của con người khi đi
tìm tự do đánh dấu sự khép lại chặng đường đầu tiên trong tiến trình phát triển. Mở đầu
cho chặng đường thứ hai chính là toàn cầu hoá. Chúng ta biết rằng, trước khi toàn cầu
hoá, thế giới chưa phải là một khái niệm thống nhất, thế giới gồm những mảnh khác
nhau đặt trôi dạt trong một dòng chảy. Con người không chỉ có một sự lệch lạc mà có
nhiều sự lệch lạc tương đối với nhau trên phạm vi toàn cầu, cho nên con người không
thể đối thoại toàn cầu. Song, tất cả những sự lệch lạc như vậy sẽ được điều chỉnh bởi
hiện tượng toàn cầu hoá, bắt đầu từ kinh tế, sang đến chính trị, sang đến văn hóa và do
đó, nó xúc tiến một sự phát triển thống nhất đối với các giá trị con người. Như thế có
nghĩa là, thế giới đã bắt đầu hội tụ đến một trạng thái tự do mang tính toàn cầu đối với
thân phận con người. Các quốc gia buộc phải mở cửa do sự thúc ép của toàn cầu hoá,
nhưng đó cũng chính là cơ hội lớn để phát triển cho con người ở tất cả các quốc gia
này.
Toàn cầu hóa hay lộ trình để khái niệm tự do bộc lộ dần những giá trị của nó đi
theo hai trật tự. Trật tự thứ nhất là nó xuất hiện một cách bản năng do sự toàn cầu hóa
về kinh tế và sự giao lưu về mặt văn hóa. Toàn cầu hoá về kinh tế đã và đang là một xu
thế lớn cuốn hầu hết tất cả các quốc gia vào đó. Sự giao lưu về mặt văn hóa làm cho
các nền văn hóa có điều kiện để tìm cách chung sống với nhau. Du lịch là một trong
những cách thức mà con người tạo ra sự giao lưu giữa các nền văn hóa. Nếu nhìn du
lịch đơn thuần như là nhìn một ngành kinh tế thì đó là một cách nhìn đúng nhưng
12
không đủ, mà phải nhìn du lịch như một trong những cách thức chủ yếu mà loài người
sử dụng để giao lưu văn hóa và làm thức tỉnh những tiêu chuẩn văn hóa toàn cầu. Có
thể nói rằng, toàn cầu hóa tạo ra những hiện tượng rất kỳ lạ đối với tiến trình phát triển
của nhân loại. Toàn cầu hóa tạo ra các hệ quả kinh tế, hệ quả chính trị, hệ quả văn hóa.
Tất cả những hệ quả này đẩy con người vào tình thế buộc phải so sánh, buộc phải cạnh
tranh, và buộc phải hợp tác với nhau. Điều đó có nghĩa, càng ngày, việc thế giới được
toàn cầu hóa một cách bản năng đã phản ánh vào trong ý thức của con người, con
người buộc phải có ý thức về hiện tượng ấy để có thể tham gia một cách có lợi vào quá
trình này. Vì thế, toàn cầu hóa lại xuất hiện dưới dạng thức thứ hai là ý thức hóa về các
hiện tượng ban đầu của toàn cầu hóa và do đó, có ngành khoa học nghiên cứu các diễn
biến toàn cầu. Nghiên cứu về toàn cầu hóa thực chất là nghiên cứu sự cạnh tranh toàn
cầu. Sự cạnh tranh toàn cầu tố giác một thực tế quan trọng là sự thiếu năng lực cạnh
tranh của các nước thế giới thứ ba. Nói cách khác, quá trình hội nhập tạo ra sự thức
tỉnh của các nước thế giới thứ ba về việc thiếu tự do. Thiếu tự do thì không phát triển,
thiếu tự do thì thiếu năng lực cạnh tranh. Đặc biệt là thiếu tự do thì con người không
hạnh phúc. Trong điều kiện toàn cầu hóa, con người nhận ra và thậm chí cần phải xác
định rõ hạnh phúc mới là mục tiêu của tự do. Vì nếu không thì con người ngủ một giấc
rất say cũng thấy mình hạnh phúc. Theo tôi, các dân tộc khu trú, các dân tộc đóng cửa
là các dân tộc ngủ. Đấy là những dân tộc có tâm lý không cần cố gắng, không cần tự
do. Họ ngủ vì họ không cần tự do, vì khi đó con người chỉ là con người ý thức. Ngủ về
mặt văn hóa tức là không tự do. Nhiều dân tộc ngủ gà ngủ gật suốt nhiều thế kỷ và họ
cảm thấy mình rất hạnh phúc. Ở đâu người ta chống đối các nền văn minh nhiều nhất?
Ở những vùng lạc hậu, những vùng Amazone, ở Mexico, ở những vùng sâu thẳm trong
rừng Clombia, ở Peru, Bắc Phi, Trung Phi, Congo… Ở chỗ nào mà các dân tộc ngủ thì
người ta chống đối, người ta chống Mỹ, người ta chống phương Tây một cách quyết
liệt vì bị làm huyên náo giấc ngủ hàng nghìn năm. Suy cho cùng, họ chống đối vì họ sợ
nhìn vào sự thật. Toàn cầu hóa là cơ hội để các dân tộc nhìn vào sự thật về mình. Tự
nhiên người ta bị đặt vào trong các tương quan so sánh với những người bên cạnh để
thấy mình là một người lùn như thế nào. Tất nhiên, nếu không nhìn lên để thừa nhận sự
13
thua kém của mình thì con người có thể nhìn xuống, có thể nhìn ngang. Nhìn các chiều
là quyền tự do của con người nhưng người ta không thể giấu được sự thua kém đó. Con
người cần phải thức tỉnh giấc ngủ của mình bằng những lợi ích của tự do. Các dân tộc
không được đóng cửa. Tất cả các dân tộc muốn phát triển thì không được bảo thủ về
mặt chính trị, không được đóng cửa về mặt kinh tế, và không được lạc hậu về mặt văn
hóa.
Người ta thường tự do trong những giới hạn mà người ta nhận thức được, những
giới hạn mà xã hội loài người ở thời điểm ấy cho phép. Và thậm chí, người ta biết cách
hạnh phúc với những giới hạn tự nhiên, những giới hạn mang tính sinh học của mình.
Quay trở lại ví dụ trên, nếu con người cứ ngủ triền miên trong sự khu trú của mình thì
con người có hạnh phúc không? Tuy nhiên, ngay cả khi con người đóng cửa lại để
hạnh phúc một mình, tức là con người đóng cửa về mặt văn hóa, thì khi xu hướng toàn
cầu hoá thúc ép anh mở cửa, anh sẽ cảm thấy bất hạnh ngay lập tức. Vì khi anh đóng
cửa thì anh rơi vào tình trạng tự mãn, tức là nhìn lên thì chẳng bằng ai, nhìn xuống thì
cũng chẳng ai bằng mình. Sự tự mãn càng làm cho con người không thể hạnh phúc nếu
thấy mình lép vế trong bất kỳ tương quan so sánh nào với những người có địa vị như
mình trên thế giới. Ngay trong một quốc gia cũng có người hạnh phúc, có người không
hạnh phúc. Người thành đạt thì hạnh phúc hơn người không thành đạt, và thế giới
không bao giờ phẳng vì sự chênh lệch đó, toàn cầu hoá không xóa bỏ được sự chênh
lệch giàu nghèo, nhưng toàn cầu hóa cho phép người ta so sánh giữa những người
không thành đạt với nhau. Người ta nhận rõ ra giữa cái cấu trúc nhìn lên và nhìn xuống
của con người còn có nhìn ngang. Nhìn ngang là cái nhìn khẳng định các giới hạn tự
nhiên, các giới hạn khách quan của con người. Khi một người ở quốc gia nào đó thấy
rằng có những người có tương quan như mình và cũng có trạng thái như mình trên toàn
thế giới thì họ sẽ không thắc mắc về sự hẩm hiu của mình nữa. Đây là một khái niệm
cực kỳ tinh tế trong phân tâm học. Trong cạnh tranh toàn cầu, con người sẽ so sánh.
Tại sao người ta đi xe ô tô Mercedes mà mình lại đi xe đạp? Là bởi vì trong khi người
đi Mercedes ấy làm một ngày 20 giờ đồng hồ và chỉ ngủ 4 tiếng thì mình ngủ 12 tiếng
một ngày. Và khi nào người ta nhận thấy có người ở một quốc gia khác cũng ngủ 12
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét