Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Giải pháp mở rộng thanh toán không dùng tiền không dùng tiền mặt.docx

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tờ séc nộp vào nếu khách hàng mở tài khoản cùng một Ngân hàng, một
hệ thống thì Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng có quyền ghi “Có” ngay
vào tài khoản người thụ hưởng sau khi kiểm tra thấy rằng tờ séc đó là hợp lệ.
Sau đó báo “Nợ” cho Ngân hàng phát hành séc để ghi “Nợ” vào tài khoản
đảm bảo thanh toán séc bảo chi. Trường hợp hai Ngân hàng khác hệ thống thì
không được phép ghi “Có” ngay mà phải giao nhận chứng từ đồng thời tại
phiên giao dịch để thực hiện ghi “Nợ” trước – “Có” sau.
Như vậy, séc được Ngân hàng bảo chi bảo đảm độ tin cậy của khả năng
thanh toán tờ séc. Số tiền phát hành séc đa được ký quỹ để đảm bảo khả năng
thanh toán. Khách hàng cũng có thể bảo đảm cho cả séc thanh toán bằng
chuyển khoản và cả séc thanh toán bằng tiền mặt.
Đặc điểm của séc là có tính thời hạn, tính thời hạn của séc được ở chỗ:
nó chỉ thanh toán trong thời gian còn hiệu lực của tờ séc. Thời hạn này được
quy định cho mỗi nước và cho từng loại séc riêng biệt.
Ngoài cách phân loại séc như trên, séc còn được phân loại theo hình
thức chuyển nhượng. Theo đó có các loại séc:
* Séc ký danh: được ghi rõ tên người hưởng thụ trên séc.
* Séc vô danh: không ghi rõ tên người hưởng thụ trên tờ séc, bất cứ ai
cầm tờ séc cũng có thể nhận được đủ số tiền ghi trên tờ séc tại Ngân hàng.
* Séc theo lệnh:
Ghi rõ trả tiền theo lệnh của người thụ hưởng, séc này được chuyển
nhượng theo thủ tục ký hậu.
* Séc được dùng để lĩnh tiền mặt hoặc chuyển khoản.
Việc cho lĩnh tiền mặt hay không thuộc thẩm quyền của người ký phát
hoặc người chuyển nhượng. Khi tờ séc không ghi cụm từ' "trả vào tài khoản"
thì người thụ hưởng có thể được trả bằng tiền mặt. Nếu người ký phát hoặc
SV: Lê Xuân Tuấn Chung Lớp: Ngân hàng 46Q
5
người chuyển nhượng không cho phép người thụ hưởng nhận tiền mặt thì phải
ghi cụm từ "trả vào tài khoản" lên tờ séc.
* Séc có thể được chuyển nhượng từ người này qua người khác.
Một tờ séc có ghi tên người thụ hưởng thì người đó được phép chuyển
nhượng cho người khác bằng cách ghi tên người được chuyển nhượng, ngày
tháng chuyển nhượng và họ tên, địa chỉ của mình vào mặt sau tờ séc (gọi là
ký hậu chuyển nhượng). Đối với séc vô danh, người thụ hưởng có thể chuyển
nhượng bằng việc chuyển giao tờ séc đó cho người khác mà không cần ký
hậu. Khi tờ séc được chuyển nhượng thì toàn bộ các quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan đến tờ séc cũng được chuyển theo
1.1.2.2 Uỷ nhiệm chi - lệnh chi
Uỷ nhiệm chi là lệnh của chủ tài khoản, được lập theo mẫu in sẵn của
Ngân hang yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích sẵn một số tiền nhất định
trên tài khoản của mình trả cho người thụ hưởng có tài khoản tại Ngân hàng.
uỷ nhiệm chi ra đời khá lâu, được sử dụng phổ biến trong quan hệ thánh toán
tiền hàng hoá, dịch vụ giữa người mua và người bán có mở tài khoản tại tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Uỷ nhiệm chi được áp dụng trong thanh toán hàng hoá, dịch vụ hoặc
chuyển tiền của người sử dụng dịch vụ thanh toán trong cùng một tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán, hoặc giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán. Điều kiện, thủ tục thanh toán, thời hạn thực hiện lệnh chi hoặc uỷ nhiệm
chi do tổ chức cung ứng dịch vụ thoả thuận với người sử dụng dịch vụ thanh
toán phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước. Uỷ nhiệm chi còn được
sử dụng như một phương tiện trung gian để xin ngân hàng cấp séc.
1.1.2.3 Uỷ nhiệm thu hoặc nhờ thu
Uỷ nhiệm thu là lệnh viết trên mẫu in sẵn, đơn vị bán lập UNT nhờ
Ngân hang phục vụ mình thu hộ tiền sau khi đa hoàn thành việc cung ứng
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hàng hoá, dịch vụ cho đơn vị mua theo thoả thuận sau hợp đồng. Uỷ nhiệm
thu chủ yếu được sử dụng mua bán giữa các bên tín dụng lẫn nhau, bên mua
và bên bán phải thống nhất thoả thuận dùng hình thức thanh toán uỷ nhiệm
thu đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho Ngân hàng của bên thụ hưởng
để có căn cứ thực hiện uỷ nhiệm thu.
Uỷ nhiệm thu được lập theo mẫu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
trong đó bên thụ hưởng phải ghi đầy đủ các yếu tố và ký tên, đóng dấu của
đơn vị trên tất cả các uỷ nhiệm thu. Khi nhận được uỷ nhiệm thu trong vòng
một ngày làm việc, Ngân hàng phục vụ bên mua trả tiền ngay cho người thụ
hưởng để hoàn thành tất việc thanh toán. Nếu tài khoản của bên trả tiền không
đủ số tiền thanh toán thì bên trả tiền sẽ bị phạt vì chậm trả tiền. Mức phạt theo
quy định giữa bên mua và bên bán tuỳ theo thoả thuận được ghi trong hợp
đồng.
Hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu được áp dụng dùng cho cho các đơn
vị sử dụng dịch vụ đơn vị thanh toán có tài khoản trong nội bộ tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán hoặc giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
trên cơ sở có thoả thuận hoặc hợp đồng về các các điều kiện thu hộ giữa bên
trả tiền và bên thụ hưởng.
1.1.2.4 Thư tín dụng
Thư tín dụng là bức thư do ngân hàng viết ra theo yêu cầu của người
mua hàng (người xin mở thư tín dụng), cam kết trả tiền cho người bán một số
tiền trong một thời gian nhất định, với điều kiện người này thực hiện đúng và
đầy đủ những điều kiện quy định trong bức thư đó .
Khi áp dụng phương thức này, các bên tham gia đều phải dựa vào:
“Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” ” (Unifrom customs
and practice for documentary credit) do phòng Thương mại quốc tế Pais ban
hành, mang ký hiệu ấn phẩm CPU 500.
SV: Lê Xuân Tuấn Chung Lớp: Ngân hàng 46Q
7
Theo thể thức này, khi bên bán đa sẵn sàng giao hàng, bên mua phải ký
quỹ vào Ngân hàng một số tiền đủ để mở thư tín dụng thanh toán tiền hàng.
1.1.2.5 Thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn liền
với kỹ thuật tin học ứng dụng trong Ngân hàng. TTT do Ngân hàng phát hành
và bán cho khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, thanh
toán công nợ và để lĩnh tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các
quầy trả tiền tự động.
Có 3 loại thẻ ở Việt Nam hiện nay gọi chung là Card thanh toán:
1.1.2.5.1 Thẻ ghi Nợ:
Là loại thẻ không phải lưu ký tiền vào tài khoản riêng ở ngân hàng, áp
dụng với khách hàng có quan hệ tín dụng, thanh toán thường xuyên, có tín
nhiệm với Ngân hàng và do ngân hàng phát hành. Đây còn được gọi là thẻ
loại A.
1.1.2.5.2 Thẻ ký quỹ thanh toán:
Áp dụng rộng rãi cho mọi đối tượng khách hàng. Muốn sử dụng lại thẻ
này thì khách hàng phải lưu ký một khoản tiền gửi vào tài khoản riêng ở Ngân
hàng (số tiền này chính là hạn mức thẻ). Khách hàng chỉ được sử dụng thanh
toán trong phạm vi số tiền lưu ký. Thẻ ký quỹ còn được gọi là thẻ loại B.
1.1.2.5.3 Thẻ tín dụng:
Áp dụng cho khách hàng có đủ điều kiện ngân hàng đồng ý cho vay. Số
tiền vay chính là hạn mức thẻ, khách hàng chỉ được phép sử dụng trong phạm
vi hạn mức cho vay trên thẻ. Ngân hàng phát hành thẻ có trách nhiệm thanh
toán ngay số tiền trên biên lai do ngân hàng đại lý chuyển đến.
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.2.6 Tài khoản cá nhân
Tài khoản tiền gửi thanh toán là tài khoản của khách hang mở tại các
ngân hang nhằm mục đích thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng
bằng các phương tiện thanh toán như gửi – rút tiền mặt, chuyển – nhận tiền,
thẻ thanh toán, thẻ ghi nợ…
1.2. Vai trò và ý nghĩa của thanh toán không dùng tiền mặt
1.2.1 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán là khâu đầu tiên và khâu cuối cùng để kết thúc chu trình sản
xuất kinh doanh. Vì vậy, có thể khẳng định rằng thanh toán là điều kiện quan
trọng để bảo đảm sự tuần hoàn bình thường của quá trình chu chuyển vốn
trong từng doanh nghiệp, từng đơn vị kinh tế hay thậm chí là từng cá nhân
trong xã hội cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Thanh toán là một khâu quan trọng trong quá trình chu chuyển
vốn.Thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn sẽ làm tăng vòng quay của
vốn, giảm lượng tiền trong lưu thông, tiết kiệm chi phí cho xã hội. Phương
tiện được sử dụng chủ yếu trong thanh toán chủ yếu đó là tiền tệ. "Tiền tệ là
loại hàng hoá đặc biệt dùng làm vật ngang giá chung cho mọi loại hàng hoá,
nó là sự thể hiện chung của giá trị, biểu hiện tính chất xã hội của lao động và
sản phẩm của lao động". Tiền tệ được chấp nhận chung trong thanh toán cho
hàng hoá, dịch vụ hoặc hoàn trả các món nợ, nó là sản phẩm tất yếu của quá
trình phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá, được kết tinh, hình thành một
cách tự nhiên trong trao đổi.
Thanh toán bằng tiền mặt là quá trình tiền tệ thực hiện chức năng
phương tiện thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, được các tổ chức và cá nhân
sử dụng chi trả ngay về hàng hoá, dịch vụ cho những giao dịch có giá trị nhỏ.
Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế đó
và tính tiện lợi của phương tiện thanh toán, đồng thời phụ thuộc vào trình độ
SV: Lê Xuân Tuấn Chung Lớp: Ngân hàng 46Q
9
dân trí của mỗi quốc gia. Đối với các nước phát triển, tỷ lệ thanh toán bằng
tiền mặt chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng phương tiện thanh toán, trong khi
tỷ lệ này ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) thường chiếm từ
30% đến 40%.
Thanh toán không dùng tiền mặt là quá trình thanh toán không có sự
xuất hiện của tiền mặt mà thực hiện bằng cách trích tiền trên tài khoản của
người phải trả chuyển sang tài khoản của người hưởng thụ thông qua vai trò
trung gian thanh toán là Ngân hàng. Kinh tế càng phát triển, khối lượng hàng
hoá và dịch vụ ngày càng phong phú và đa dạng, quan hệ trao đổi được mở
rộng, thanh toán bằng tiền mặt càng bộc lộ những hạn chế của nó như là: tính
an toàn không cao, dễ bị lợi dụng để tham ô, tăng chi phí xã hội, giảm vòng
quay của vốn, làm cho sản xuất kinh doanh bị chậm lại, ảnh hưởng đến
tốc độ phát triển kinh tế. Thanh toán không dùng tiền mặt khắc phục được
những nhược điểm của thanh toán dùng tiền mặt, có tác động qua lại với các
nghiệp vụ khác trong hoạt động Ngân hàng, khai thác nguồn vốn tạm thời
trong xã hội để đầu tư thông qua số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của
các tổ chức cá nhân, làm tăng hệ số tạo tiền của Ngân hàng thương mại.
Để đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng nhanh gọn, chính xác thì đoi
hỏi phải tổ chức tốt khâu thanh toán. Thanh toán không dùng tiền mặt với
những ưu điểm được trình bày ở trên và việc sử dụng các công cụ kỹ thuật tuỳ
thuộc vào trình độ phát triển, kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán của từng thời kỳ
trở thành yêu cầu khách quan của nền kinh tế hiện đại, đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
1.2.2 Ý nghĩa của thanh toán không dùng tiền mặt.
Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần đẩy nhanh tốc độ luân
chuyển vốn. Từ đó làm tăng vòng quay sử dụng đồng tiền trong nền kinh tế.
Bất kỳ một đơn vị sản xuất kinh doanh nào cũng cần có vốn phục vụ trong
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quá trình sản xuất kinh doanh. Để đảm bảo quá trình đó diễn ra bình thường
và liên tục thì công tác thanh toán nói chung và thanh toán không dùng tiền
mặt nói riêng phải được thực hiện nhanh chóng, an toàn và chính xác. Từ đó
giúp các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân tăng nhanh tốc độ luân
chuyển vốn. Trên cơ sở đó, góp phần sử dụng hiệu quả đồng vốn trong nền
kinh tế.
Thanh toán lưu thông tiền tệ góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền
mặt như chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản tiền mặt. Vì đặc điểm của thanh
toán không dùng tiền mặt là quá trình thanh toán bằng cách trích chuyển vốn
trên các tài khoản để hoàn thành việc thanh toán cho nhau hoặc thanh toán bù
trừ lẫn nhau. Nó sẽ góp phần giảm tương đối khối lượng tiền mặt trong lưu
thông, từ đó góp phần tiết kiệm được các chi phí cho lưu thông.
Thanh toán không dùng tiền mặt tạo được nguồn vốn cho Ngân hàng
với chi phí thấp. Thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện thông qua
việc khách hàng gửi tiền vào tài khoản tại Ngân hàng và tài khoản của khách
hàng luôn có số dư thì mới có hiệu lực thanh toán. Từ đó, Ngân hàng đa tạo
được nguồn vốn từ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán để tiến hành cho
vay khi các khoản tiền gửi của khách hàng chưa được sử dụng đến, làm cho
đồng vốn tham gia nhiều lần vào chu trình sản xuất, đem lại hiệu quả cho cá
nhân và toàn xã hội.
Thanh toán không dùng tiền mặt cùng với hoạt động tín dụng tạo ra tiền
gửi: Thông qua các khoản tiền mà khách chuyển vào tài khoản của mình tại
Ngân hàng, lại chính là xuất phát từ Ngân hàng đó là Ngân hàng đa cấp tín
dụng. Như vậy trong phần lớn truờng hợp, chính tín dụng tạo ra tiền gửi. Từ
đó rút ra rằng: trong một số chừng mực nào đó, các Ngân hàng tuỳ thuộc vào
việc cấp tín dụng nhiều hay ít mà làm tăng nhiều hay ít các khoản tín dụng
SV: Lê Xuân Tuấn Chung Lớp: Ngân hàng 46Q
11
của khách hàng. Từ đó làm tăng lượng khách hàng giao dịch với Ngân hàng.
Giúp Ngân hàng tăng thêm thu nhập, đồng thời đẩy mạnh quay vòng vốn.
Thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giúp ngân hàng có thể quản lý tốt
hơn lượng tiền mặt trong lưu thông ,khi mà khách hàng sử dụng thanh toán
không dùng tiền mặt thì mọi hoạt động chi trả chỉ còn ở trong ngân hàng nên
ngân hàng có thể dễ dàng quản lý được
Thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giúp cho ngân hàng cung như
khách hàng tiết kiệm được một lượng chi phí rất lớn:ví dụ như khi trả lương
cho cán bộ công nhân viên thông qua tài khoản sẽ tiết kiệm được hàng loạt
chi phí cho các đơn vị trả lương, tiết kiệm chi phí cho hệ thống kho bạc nhà
nước và tiết kiệm thời gian cho người hưởng lương
Thanh toán không dùng tiền mặt đã hạn chế rủi ro, an toàn cao trong
lưu thông và mang lại thuận lợi trong việc trao đổi hàng hoá. Chẳng hạn
người bán hàng chỉ cầm tờ séc mà người mua phát hành đến Ngân hàng phục
vụ mình hoặc Ngân hàng phục vụ người phát hành thì Ngân hàng sẽ trích nợ
tài khoản của người phát hành séc nếu tờ séc đó hợp lệ, hợp pháp và trên tài
khoản người mua có đủ điều kiện và có tài khoản người bán (người hưởng
thụ). Không may trong thời gian chưa nộp séc (séc vẫn còn thời hạn) mà bị
mất thì tài sản của họ vẫn được đảm bảo không bị mất nếu khách hàng thông
báo việc mất séc với Ngân hàng của mình kịp thời. Thanh toán không dùng
tiền mặt tạo điều kiện cho Ngân hàng thực hiện chức năng kiểm soát bằng
đồng tiền đối với hoạt động của nền kinh tế. Mặt khác, nó giúp cho Nhà nước
có kế hoạch điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, giữ vững sức
mua của đồng tiền. Thông qua quá trình kiểm soát đối với hoạt động của nền
kinh tế, Ngân hàng có những thông tin để phản ánh lên Chính phủ, thông tin
để thực hiện các dịch vụ của Ngân hàng. Đồng thời cùng với nhà nước, Ngân
hàng có biện pháp bảo đảm cho việc đầu tư và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chính việc thanh toán không dùng tiền mặt sẽ làm tăng thêm tín nhiệm của
khách hàng đối với Ngân hàng. Rõ ràng, thanh toán không dùng tiền mặt giữ
vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Muốn đáp ứng được nhu cầu phát
triển của nền kinh tế thì đẩy mạnh từng bước công tác thanh toán không dùng
tiền mặt và đi kèm với nó là các nghiệp vụ kế toán phản ánh quá trình thanh
toán đó phải trở nên hoàn thiện, đầy đủ, kịp thời và chính xác.
1.3 Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt
1.3.1 Khái niệm về mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt
Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt là việc tác động vào hệ
thống thanh toán không dùng tiền mặt làm cho dịch vụ thanh toán không
dùng tiền mặt được sử dụng nhiều hơn , hạn chế việc sử dụng tiền mặt
trong thanh toán, việc tác động vào hệ thống thanh toán không dùng tiền
mặt có thể là các chính sách của chính phủ hay của ngân hàng .
1.3.2 Tiêu chí đánh giá mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt
_Số lượng tài khoản của khách hàng tại ngân hàng: Thanh toán
không dùng tiền mặt là việc thanh toán tiền hàng hoá , dịch vụ thông
qua vai trò trung gian của ngân hàng vì vậy khi mà số lượng tài khoản
thanh toán của khách hàng trong ngân hàng tăng lên điều đó chứng tỏ
việc thanh toán không dùng tiền tiền mặt đã được tăng lên.
_Lượng tiền mặt sử dụng trong thanh toán giảm xuống: Một khi mà
khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt thì việc họ
cầm trong tay một luợng tiền mặt để thanh toán tiền hàng sẽ không còn
mà họ chỉ cần báo với ngân hàng và ngân hàng sẽ thanh toán thông qua
tài khoản của khách hàng đó điều này sẽ làm cho lượng tiền mặt trong
thanh toán giảm xuống
SV: Lê Xuân Tuấn Chung Lớp: Ngân hàng 46Q
13
1.3.3 Nhân tố ảnh hưởng tới mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt
Trong những năm qua, các ngân hàng đã có nhiều nỗ lực trong việc
cung cấp các sản phẩm-dịch vụ để có thể mở rộng thanh toán không dùng tiền
mặt qua ngân hàng nhưng còn nhiều khó khăn, vướng mắc.
1.3.3.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Còn thiếu sự liên kết giữa các nhà cung cấp dịch vụ như điện lực, viễn
thông, cấp nước với ngân hàng trong việc thúc đẩy khách hàng sử dụng
phương tiện thanh toán hiện đại. Nhiều cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ như
các siêu thị lớn, khách sạn, nhà hàng chưa sẵn sàng hợp tác với ngân hàng về
thanh toán thẻ.
Mặc dù các ngân hàng mở nhiều dịch vụ, nhưng những dịch vụ này
chưa tác động tích cực đến thanh toán không dùng tiền mặt.
Cơ sở vật chất kĩ thuật của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam thiếu
đồng bộ và vẫn chưa có hệ thống kĩ thuật thống nhất từ hội sở chính đến các
chi nhánh. Phần mềm và chương trình ứng dụng của các ngân hàng không
tương thích nhau.
Sự thiếu đồng bộ về hệ thống kỹ thuật là khó khăn khi các ngân hàng
liên kết với nhau để cùng phát triển dịch vụ mới. Ví dụ hiện nay có 3 liên
minh thẻ nhưng chưa thực hiện kết nối với nhau: liên minh giữa Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam và 17 ngân hàng thương mại cổ phần, Công ty
Chuyển mạch tài chính quốc gia Banknet, hệ thống VNBC (có 4 ngân hàng
tham gia) làm gây nên sự lãng phí đối với nền kinh tế và khó khăn lớn trong
sử dụng thẻ của khách hàng.
1.3.3.2 Các nhân tố thuộc về khách hàng
Thói quen thanh toán bằng tiền mặt trong dân chúng còn rất lớn làm
hạn chế sự phát triển các phương thức thanh toán tiên tiến như thẻ, thanh toán
qua Internet, thanh toán bằng tài khoản.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét