Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Hoàn thiện kế toán TTTP& xác định kết quả TTTP tại Cty TNHH thép Nam Đô

Phần I
Những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế
toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ
thành phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất
I. Sự cần thiết của của công tác hạch toán quá trình
tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ thành
phẩm .
1.Quá trình tiêu thụ thành phẩm và yêu cầu quản lý.
1.1.Thành phẩm và quá trình tiêu thụ thành phẩm .
Tiêu thụ là khâu quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều nhằm mục đích đem sản phẩm đi
tiêu thụ trên thị trờng để một mặt là tìm kiếm lợi nhận và mặt khác là đáp ứng đợc
nhu cầu xã hội. Đối với những doanh nghiệp thơng mại thì sản phẩm mang đi tiêu
thụ là hàng hoá và dịch vụ mà họ đã dùng vốn của mình mua của ngời cung ứngsau
đó đem bán cho ngời tiêu dùng. Bên cạnh đó sản phẩm mang đi tiêu thụ của các
doanh nghiệp sản xuất lại có thể là thành phẩm, lao vụ hoặc dịch vụ đợc sản xuất
ra từ việc mua các yếu tố đầu vào và đa chúng vào quy trình công nghệ chế biến.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, thành phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản
phẩm của doanh nghiệp
Để xem xét quá trình tiêu thụ thành phẩm chúng ta không thể không đề cập
đến khái niệm thành phẩm
Thành phẩm là sản phẩm đã trải qua giai đoạn chế biến cuối cùng của cả
quy trình công nghệ, do doanh nghiệp thực hiện hoặc thuê ngoài gia công chế biến
và đã đợc kiểm nghiệm đủ tiêu chuẩn kỹ thuật quy định
Thành phẩm tồn tại dới dạng nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang hoặc bán
thành phẩm trớc khi đợc mang đi nhập kho. Mục đích của mỗi doanh nghiệp tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một ngành nghề nào đó là thu về đợc lợi
nhuận. Các doanh nghiệp sản xuất thực hiện chức năng sản xuất nghĩa là đa các
yếu tố đầu vào vào gia công chế biến ra sản phẩm mà phần lớn là thành phẩm sau
đó đem bán trên thị trờng. Chính vì vậy, điều quan trọng đối với các doanh nghiệp
sản xuất không chỉ là tạo ra sản phẩm mà còn phải tổ chức tiêu thụ chúng trên thị
trờng
Nh vậy, tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp, là quá trình xuất giao hàng cho ngời mua với giá thoả thuận
hoặc giá quy định hay nói cách khác tiêu thụ là quá trình chuyển hoá vốn của
doanh nghiệp từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị. Nhờ đó sản phẩm hàng
hoá đợc chuyển thành tiền, thực hiện vòng chu chuyển vốn trong doanh nghiệp và
chu chuyển tiền tệ trong xã hội, đảm bảo phục vụ cho các nhu của khách hàng.
Thành phẩm đợc coi là tiêu thụ khi nó đợc chuyển giao cho ngời mua và ng-
ời mua đã trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. Thực tế việc xuất hàng giao cho khách
và việc thu tiền hàng xảy ra không đồng thời vì các doanh nghiệp áp dụng các hình
thức thanh toán khác nhau. ứng với mỗi hình thức tiêu thụ và hình thức thanh toán
khác nhau thì thời điểm xác định thành phẩm là tiêu thụ cũng khác nhau. Theo quy
định thành phẩm đợc coi là tiêu thụ trong các trơng hợp sau :
- Thành phẩm đã giao cho khách và doanh nghiệp đã thu đợc tiền về.
- Thành phẩm đã giao cho khách và khách hàng chấp nhận trả tiền.
- Ngời mua ứng trớc tiền hàng và thời điểm xác định thành phẩm đợc tiêu
thụ là khi doanh nghiệp giao thành phẩm cho khách hàng.
1.2.ý nghĩa của quá trình tiêu thụ thành phẩm trong các doanh nghiệp sản
xuất
Nh đã nói ở trên, tiêu thụ thành phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản
xuất kinh doanh. Việc tiêu thụ này có thể thoả mãn nhu cầu của các đơn vị khác
nhau hay của các tổ chức, cá nhân và quan trọng nhất là giúp doanh nghiệp nhanh
chóng chuyển từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ từ đó làm cơ sở để xác
định kết quả kinh doanh sau này.
- Đối với bản thân các doanh nghiệp sản xuất, thực hiện tốt công tác tiêu
thụ giúp cho doanh nghiệp thu hồi đợc vốn nhanh chóng làm tốc độ chu chuyển
vốn lu động tăng nhanh tạo điều kiện cho doanh nghiệp tổ chức vốn, giảm bớt vốn
phải huy động từ bên ngoài do đó sẽ giảm chi phí về vốn. Doanh nghiệp có tiêu thụ
đợc thành phẩm làm ra thì mới có doanh thu để bù đắp chi phí, thực hiện nghĩa vụ
đối với nhà nớc. Nói cách khác, tiêu thụ thành phẩm có ý nghĩa quyết định đối với
việc thực hiện các mục tiêu và chiến lợc mà doanh nghiệp theo đuổi, thúc đẩy vòng
quay của quá trình tái sản xuất, qua đó tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng sức lao
động góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội và nâng cao hiệu quả kinh tế
của các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các đối tợng khác có liên quan và cao hơn
nữa là thực hiện giá trị thặng d, từ đó giúp cho các nhà quản trị lãnh đạo đặc biệt đ-
ợc tình hình hoạt động của doanh nghiệp mình và đa ra những quyết định phù hợp
- Đối với ngời tiêu dùng, việc thực hiện tốt công tác tiêu thụ của doanh
nghiệp sản xuất nghĩa là đã góp phần thoả mãn nhu cầu, đáp ứng đòi hỏi của ngời
mua. Hơn thế nữa, nhà sản xuất có thể tiếp cận đợc với khách hàng một cách trực
tiếp hoặc thông qua các nhà phân phối, hiểu đợc nhu cầu, thị hiếu, tập quán tiêu
dùng của xã hội từ đó có những điều chỉnh kịp thời
Đứng trên giác độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp đóng vai trò
là một đơn vị kinh tế cơ sở. Sự lớn mạnh của doanh nghiệp sẽ góp phần ổn định và
phát triển toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện mục tiêu chung
của cả quốc gia. Sự lu thông sản phẩm hàng hoá trên thị trờng đồng nghĩa với việc
xã hội thừa nhận kết quả lao động của doanh nghiệp và hơn thế nữa là doanh
nghiệp đã khẳng định đợc chỗ đứng của mình trên thị trờng. Thêm vào đó thực hiện
tốt quá trình tiêu thụ là góp phần điều hoà giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa tiền và
sản phẩm, giữa khả năng và nhu cầu và là điêu kiện đảm bảo sự phát triển cân đối
trong nghành cũng nh trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
1.3.Yêu cầu quản lý hoạt động tiêu thụ thành phẩm.
Quản lý hoạt động tiêu thụ theo đúng kế hoạch tiêu thụ, có nh vậy mới
thực hiện đợc cân đối giữa cung và cầu, đảm bảo cân đối sản xuất trong từng
nghành và trong nền kinh tế. Quản lý quá trình tiêu thụ phải bám sát các yêu
cầu sau :
-Về khối lợng thành phẩm tiêu thụ, phải nắm rõ đợc số lợng chính xác của
từng loại thành phẩm tồn kho đầu kỳ, nhập trong kỳ, xuất tiêu thụ và lợng dự trữ
cần thiết để có kế hoạch cung ứng kịp thời cho nhu cầu thị trờng. Bộ phận quản lý
thành phẩm xuất bán phải thờng xuyên đối chiếu với thủ kho về khối lợng thành
phẩm luân chuyển cũng nh tồn kho.
-Về giá vốn của hàng xuất kho : đây là toàn bộ chi phí thực tế cấu thành nên
thành phẩm và là biểu hiện về mặt giá trị của chúng. Đó là cơ sở để xác định giá
bán và tính toán hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong
kỳ.
-Về chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp : đây là các khoản chi
phí cùng với giá vốn hàng bán tạo nên trị giá vốn của hàng đã bán. Loại chi phí này
có ảnh hởng trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Do vậy đối với những khoản chi phí có tính chất cố định cần xây dựng mức chi phí
cho từng đơn vị sản phẩm, lập dự toán cho từng loại, từng thời kỳ và tiến hành phân
bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho số thành phảm đã bán.
- Về giá bán và doanh thu bán hàng : giá bán phải bù đắp đợc chi phí và có
lãi đồng thời phải đợc khách hàng chấp nhận. Tuy nhiên việc xác định giá bán cần
hết sức mềm dẻo linh hoạt. Ngoài việc căn cứ vào giá vốn hàng bán việc xác định
giá không thể tách rời với quan hệ cung cầu trên thị trờng. Do vậy phải xem xét,
nghiên cứu kỹ thị trờng trớc khi đa ra các quyết định về giá, tránh trờng hợp giá cả
biến động bất thờng gây mất uy tín của sản phẩm trên thị trờng. Doanh nghiệp cần
sử dụng giá nh một công cụ tác động vào cầu, kích thích tăng cầu về sản phẩm của
ngời tiêu dùng nhằm đẩy mạnh doanh thu bán hàng.Trong những trờng hợp đặc
biệt có thể sử dụng giá bán u đãi để tăng khối lợng tiêu thụ tránh tình trạng ứ đọng
hàng hoá. Do đó bộ phận quản lý tiêu thụ cần cung cấp chính xác kịp thời các
thông tin vè giá cả từ đó có đợc sự xử lý và phân tích thông tin đúng đắn nhằm đa
ra các quyết định hiệu quả, kịp thời.
- Về phơng thức thanh toán và thời hạn thanh toán : bộ phận quản lý tiêu thụ
phải tuỳ theo từng khách hàng mà thoả thuận các phơng thức và thời hạn hợp lý :
có thể là thanh toán bằng tiền mặt, séc, chuyển khoản hay hàng đổi hàng
Việc áp dụng thanh toán nhanh là điều kiện để doanh nghiệp rút ngắn chu
kỳ thanh toán, thu hồi đợc vốn để trang trải chi phí và đáp ứng đợc nhu cầu
vốn cho hoạt động kinh doanh. Muốn vậy bộ phận quản ký bán hàng phải hiểu
rõ khách hàng của mình là thờng xuyên hay không thờng xuyên, thanh toán
sòng phẳng hay không
-Về thuế liên quan đến bán hàng bao gồm thuế giá trị gia tăng (GTGT),
thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Để quản lý tình hình thực hiện
nghĩa vụ với ngân sách Nhà nớc một cách đầy đủ chặt chẽ, phải xác định chính xác
doanh thu bán hàngtrong kỳ làm cơ sở để xác định số thuế phải nộp.
Có thể nói việc quản lý công tác tiêu thụ có vị trí cực kỳ quan trọng, nó có ý
nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của doanh nghiệp. Thực hiện tốt các yêu cầu trên
sẽ đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiệu quả hơn.
2. Xác định kết quả tiêu thụ trong các doanh nghiệp sản xuất .
Để thực hiện đợc mục đích kinh doanh của mình là thoả mãn nhu cầu tiêu
dùng của xã hội về sản phẩm mình sản xuất ra và thu đợc lợi nhuận thì sau
mỗi chu kỳ kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn tính toán chính xác chi phí đã
bỏ ra và thu nhập thu về hay nói cách khác doanh nghiệp phải xác định đợc kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, đối với các doanh nghiệp sản
xuất thì đó chính là kết quả hoạt động tiêu thụ thành phẩm, lao vụ hay dịch
vụ
Nh vậy, kết quả tiêu thụ là khoản chênh lệch giữa doanh thu bán hàng thu về
và chi phí kinh doanh đã bỏ ra trong quá trình tiêu thụ. Đó cũng là khoản chênh
lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn hàng bán bao gồm trị giá vốn hàng xuất kho,
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số hàng đã bán.
3. ý nghĩa, nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả
tiêu thụ
Để quản lý một cách tốt nhất đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp,
không phân biệt doanh nghiệp đó thuộc thành phần, loại hình kinh tế, lĩnh vực hoạt
động hay hình thức sở hữu nào đều phải sử dụng đồng thời hàng loạt các công cụ
quản lý khác nhau trong đó kế toán đợc coi nh một công cụ hữu hiệu. Đặc biệt
trong nền kinh tế thị trờng, kế toán đợc sử dụng nh một công cụ đắc lực không thể
thiếu đối với mỗi doanh nghiệp cũng nh đối với sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc.
Trong công tác quản lý hoạt động tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả
tiêu thụ của các doanh nghiệp sản xuất, vai trò kế toán rất quan trọng. Kế toán phản
ánh và giám đốc tình hình biến động của thành phẩm , hoạt động tiêu thụ thành
phẩm và xác định kết quả tiêu thụ. Các thông tin kế toán đa ra không chỉ phục vụ
cho công tác quản lý kinh tế của bản thân doanh nghiệp mà còn phục vụ cho công
tác quản lý của nhiều đối tợng khác có liên quan .
Thông tin kế toán giúp cho ngời quản lý doanh nghiệp nắm vững đợc hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, sự biến động của nó, từ đó lựa
chọn phơng án tiêu thụ có hiệu quả.
Để giữ vững vai trò là công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả kế toán tiêu thụ
thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ cần thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể sau :
Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời khối lợng thành phẩm bán ra. Quản lý
chặt chẽ tình hình biến động và dự trữ kho hàng từ đó phát hiện và có biện
pháp xử lý kịp thời hàng hoá ứ đọng.
Lựa chọn phơng pháp xác định giá vốn của hàng bán ra và tính toán đúng
đắn trị giá vốn của hàng xuất bán. Xác định doanh thu bán hàng từ đó góp
phần tính toán xác định kết qủa tiêu thụ một cách chính xác. Cùng với việc
xác nhận thời điểm ghi nhận doanh thu là việc xác định đúng đắn chi phí
bán hàng và chi phí khác có liên quan.
Kiểm tra, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ từ đó
cung cấp cho lãnh đạo về việc thực hiện tiến độ tiêu thụ thành phẩm giúp
cho công tác lập kế hoạch tiêu thụ cho các kỳ sau.
Đôn đốc quá trình thanh toán tiền hàng nhanh chóng kịp thời, kiểm tra tình
hình chấp hành kỷ luật thanh toán và quản lý chặt chẽ tiền bán hàng. Kiểm
tra tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nớc.
Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời các khoản thu nhập theo từng loại
thành phẩm phục vụ cho việc phân tích đánh giá hiệu quả kinh doanh và
việc kiểm tra tình hình thực hiện các chế độ tài chính hiện hành.
II. Tổ chức kế toán tiêu thụ thành phẩm tại các doanh
nghiệp sản xuất.
1.Phơng pháp xác định giá xuất kho thành phẩm
Về nguyên tắc thành phẩm đợc đánh giá theo giá vốn thực tế nhng thành
phẩm trong doanh nghiệp luôn có sự biến động do nhiều nguyên nhân khác
nhau,để phục vụ cho việc hạch toán kịp thời và tính toán chính xác giá trị thành
phẩm xuất kho, thành phẩm đợc đánh giá theo giá thực tế và giá hạch toán
Đánh giá thành phẩm theo giá thực tế :
Giá thành thực tế của thành phẩm nhập kho đợc xác định tuỳ theo từng
nguồn nhập.
Thành phẩm do các bộ phận sản xuất chính và bộ phận sản xuất phụ của
doanh nghiệp sản xuất ra, giá thành thực tế bao gồm chi phí nguyên liệu, vật liệu
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Thành phẩm thuê ngoài gia công : giá thành thực tế bao gồm chi phí nguyên
liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí thuê gia công và các chi phí khác có liên quan trực
tiếp đến quá trình gia công nh chi phí vận chuyển, bốc dỡ khi giao nhận gia công.
Giá thành thực tế của thành phẩm chỉ tính đợc ở cuối kỳ hạch toán, khi kết
thúc đơn đặt hàng hoặc khi gia công hoàn thành đợc dùng trong kế toán tổng hợp
thành phẩm và báo cáo kế toán.
Đối với thành phẩm xuất kho, giá thành thực tế của thành phẩm đợc tính
theo nhiều phơng pháp khác nhau. Theo chế độ kế toán Việt Nam hiện nay giá thực
tế thành phẩm xuất kho có thể đợc tính theo một trong các phơng pháp sau :
Phơng pháp đơn giá thực tế bình quân
Trị giá thực Số lợng Đơn giá
tế thành phẩm = thành phẩm * bình quân
xuất kho xuất kho
Trong đó, đơn giá thực tế bình quân có thể đợc tính nh sau :
Bình quân cả kỳ dự trữ (bình quân gia quyền):
Là phơng pháp dễ làm , đơn giản nhng độ chính xác không cao, công việc
kế toán dồn vào cuối tháng gây ảnh hởng đến công tác kế toán nói chung
Đơn giá Trị giá thực tế TP tồn đầu kỳ + Trị giá thực tế TP nhập trong kỳ
cả kỳ =
dự trữ Số lợng TP tồn kho đầu kỳ + Số lợng TP nhập trong kỳ
Bình quân sau mỗi lần nhập (bình quân liên hoàn):
Tức là sau mỗi lần nhập ta lại tính đơn giá bình quân, phơng pháp này
khắc khục đợc nhợc điểm của phơng pháp trên, vừa chính xác, vừa cập nhật
nhng lại tốn nhiều công sức, tính toán nhiều.
Bình quân đầu kỳ hoặc cuối kỳ trớc
Phơng pháp này tính toán đơn giản và kịp thời tình hình biến động thành
phẩm nhng độ chính xác không cao, nên ít đợc áp dụng một cách rộng rãi đặc
biệt là trong những doanh nghiệp có khối lợng thành phẩm nhập kho lớn, giá
thành sản xuất biến động qua các kỳ. Thậm chí, khi giá thành của sản phẩm
giảm mạnh có thể dẫn tới có số d Có trên tài khoản 155 - Thành phẩm.
Đơn giá thực tế Trị giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ trớc
bình quân =
cuối kỳ trớc Số lợng thành phẩm tồn kho cuối kỳ trớc
Tuỳ theo phơng pháp hạch toán hàng tồn kho mà áp dụng phơng pháp đơn
giá bình quân cho phù hợp. Nếu doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phơng
pháp kiểm kê định kỳ tính theo đơn giá bình quân cuối kỳ này hoặc đơn giá bình
quân cuối kỳ trớc. Nếu doanh nghiệp hạch toán theo phơng pháp kê khai thờng
xuyên có thể tính theo đơn giá bình quân cuối kỳ, đơn giá bình quân tại thời điểm
xuất, đơn giá bình quân cuối kỳ trớc.
Phơng pháp đơn giá thực tế đích danh
Theo phơng pháp này, giá thực tế của thành phẩm xuất kho đợc căn cứ vào đơn giá
thực tế thành phẩm nhập kho theo từng lô, từng lần nhập và số lợng xuất theo từng
lần. Ưu điểm của phơng pháp này là tính chính xác cao nhng lại có nhợc điểm là
khối lợng công việc tính toán nhiều, đòi hỏi việc quản lý thành phẩm phải khoa
học, hợp lý.
Phơng pháp nhập trớc - xuất trớc (FIFO) :
Phơng pháp này dựa trên giả thiết thành phẩm nhập trớc đợc xuất hết xong
mới xuất đến lần nhập sau. Giá thực tế của thành phẩm xuất kho đợc tính hết theo
giá nhập kho lần trớc, sau mới tính theo giá nhập lần sau. Phơng pháp này đảm bảo
việc tính giá trị thực tế của thành phẩm xuất kho một cách kịp thời chính xác, công
việc kế toán không bị dồn nhiều vào cuối tháng nhng đòi hỏi phải tổ chức kế toán
chi tiết, chặt chẽ, theo dõi đầy đủ số lợng đơn giá của tùng lần nhập, phù hợp với
những doanh nghiệp có khối lợng thành phẩm không lớn.
Phơng pháp nhập sau xuất trớc (LIFO) :
Phơng pháp này dựa trên giả thiết thành phẩm nhập kho sau cùng đợc xuất trớc
tiên. Giá thực tế thành phẩm xuất kho đợc tính hết theo giá nhập kho lần sau cùng,
sau mới tính theo giá nhập kho lần trớc đó. Phơng pháp này thờng đợc áp dụng
trong những doanh nghiệp chủng loại sản phẩm ít, số lợng và số lần nhập xuất ít.
Đánh giá thành phẩm theo giá hạch toán
Giá hạch toán của thành phẩm do phòng kế toán doanh nghiệp quy định có
thể là giá thành kế hoạch hoặc giá nhập kho thống nhất, và đợc sử dụng không thay
đổi trong một năm. Việc thực hiện chi tiết nhập, xuất kho thành phẩm hàng ngày đ-
ợc thực hiện theo giá hạch toán. Cuối tháng kế toán phải căn cứ vào tổng giá thành
thực tế và tổng giá hạch toán của thành phẩm tồn kho đầu kỳ, nhập kho trong kỳ để
tính hệ số chênh lệch giữa giá thành thực tế và giá hạch toán của thành phẩm. Hệ
số chênh lệch giá của thành phẩm đợc tính cho từng thứ thành phẩm hoặc từng
nhóm thành phẩm theo công thức sau :
Giá thành thực tế Giá thành thực tế
thành phẩm tồn + thành phẩm nhập
Hệ số kho đầu kỳ kho trong kỳ
chênh lệch giá =
thành phẩm (H) Giá hạch toán của Giá hạch toán
thành phẩm tồn + thành phẩm nhập
kho đầu kỳ kho trong kỳ
Căn cứ vào hệ số chênh lệch giá thành phẩm (H) kế toán tính giá thành thực
tế của thành phẩm xuất kho theo công thức :
Giá thành thực tế Giá hạch toán của
của thành phẩm = thành phẩm * H
xuất kho trong kỳ xuất kho trong kỳ
2.Kế toán tiêu thụ thành phẩm.
2.1.Một số đặc điểm của hoạt động tiêu thụ
2.1.1. Các phơng thức tiêu thụ thành phẩm
Trong doanh nghiệp, kết quả tiêu thụ thành phẩm là khối lợng thành phẩm
đợc thực hiện trong một kỳ nhất định. Kết quả tiêu thụ thành phẩm phụ thuộc vào
việc sử dụng các hình thức, phơng pháp, thủ thuật, thiết lập và sử dụng hợp lý các
kênh tiêu thụ, có chính sách đúng đắn, thực hiện tốt kế hoạch tiêu thụ thành phẩm
của doanh nghiệp. Tiêu thụ thành phẩm cũng thể hiện khả năng trình độ của doanh
nghiệp trong việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp cũng nh đáp ứng nhu cầu sử
dụng các sản phẩm hàng hoá của xã hội
Các phơng thức tiêu thụ mà doanh nghiệp hiện nay áp dụng, đó là :
- Phơng thức tiêu thụ trực tiếp
Tiêu thụ trực tiếp là phơng thức tiêu thụ mà hàng đơc giao cho ngời mua
trực tiếp tại kho hoặc tại các phân xởng sản xuất của doanh nghiệp. Sản phẩm sau
khi bàn giao cho khách hàng đợc chính thức coi là tiêu thụ và doanh nghiệp bán
mất quyền sở hữu về số hàng này.
- Phơng thức chuyển hàng theo hợp đồng :
Theo phơng thức này, bên bán căn cứ vào hoá đơn đã ký kết hoặc theo đơn
đặt hàng, doanh nghiệp xuất kho hàng bằng phơng tiện vận tải của mình hay thuê
ngoài chuyển hàng giao cho bên mua ở một địa điểm đã thoả thuận. Hàng chuyển
bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Số hàng này đợc xác dịnh là tiêu
thụ khi đã nhận đợc tiền do bên mua thanh toán hoặc nhận đợc giấy báo của bên
mua đã nhận đợc hàng và chấp nhận thanh toán. Chi phí vận chuyển do doanh
nghiệp chịu hoặc bên mua chịu là do sự thoả thuận của hai bên. Nếu doanh nghiệp
chịu thì chi phí vận chuyển sẽ đợc ghi vào chi phí bán hàng, nếu bên mua chịu thì
phải thu tiền của bên mua.
- Phơng thức tiêu thụ qua đại lý (ký gửi):
Doanh nghiệp giao hàng cho cơ sở đại lý theo phơng thức này, bên nhận đại
lý sẽ trực tiếp bán hàng và phải thanh toán cho doanh nghiệp. Bên nhận đại lý sẽ đ-
ợc hởng hoa hồng đại lý. Số hàng gửi đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, số hàng này đợc xác định là tiêu thụ khi doanh nghiệp nhận đợc tiền do bên
đại lý thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Số hoa hồng đại lý đợc tính vào chi
phí bán hàng.
- Phơng thức bán hàng trả góp :
Theo phơng thức này, khi giao hàng cho ngời mua thì hàng chuyển giao đợc
coi là tiêu thụ, ngời mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua, một phần
còn lại cha trả thì phải chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định. Thông thờng số tiền trả ở
các kỳ là bằng nhau, trong đó bao gồm một phần doanh thu gốc và một phần lãi
suất trả chậm. Lãi do bán hàng trả góp đợc xác định là thu nhập hoạt động tài chính
và không phải chịu thuế giá trị gia tăng.
- Một số trờng hợp khác đợc coi là tiêu thụ
Ngoài các phơng thức tiêu thụ chủ yếu trên đây, còn có một số trờng hợp
khác cũng đợc coi là tiêu thụ nh :
Trả công cho cán bộ công nhân viên chức bằng thành phẩm của doanh
nghiệp .
Biếu tặng thành phẩm của doanh nghiệp lấy từ quỹ phúc lợi.
Biếu tặng thành phẩm của doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh.
2.1.2. Các phơng thức thanh toán:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp thờng phát sinh các
hoạt động thanh toán với các đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan nh thanh toán
tiền hàng cho ngời cung cấp hoặc nhận tiền hàng từ khách hàng của mình, thanh
toán tiền thuế với cơ quan thuế
Qúa trình tiêu thụ thờng xuyên phát sinh các khoản thanh toán khác nhau có
thể đợc phân loại theo nhiều phơng thức, theo hình thức thanh toán thì đợc chia làm
hai loại :
-Thanh toán bằng tiền mặt

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét