Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Phê duyệt Chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020 78.2008.QD-BNN.doc

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 78/2008/QĐ-BNN Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 2008
QUYẾT ĐỊNH
Phê duyệt Chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020
BỘ TRƯỞNG BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Căn cứ Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 3 tháng 01 năm 2008 của Chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn;
Căn cứ Luật Khoa học và Công nghệ (số 21/2000/QH10 ngày 09/6/2000)
của Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020
được phê duyệt theo Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ
tướng Chính phủ;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Môi trường,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam đến năm
2020 với các nội dung chủ yếu sau đây:
1. Hiện trạng nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam
a) Thành tựu
Trong thời gian qua, nghiên cứu khoa học lâm nghiệp đã đóng góp ngày
càng nhiều và có hiệu quả vào sự phát triển của ngành lâm nghiệp nói riêng, sự
phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn nói chung. Nghiên cứu ứng dụng
và chuyển giao công nghệ, kể cả công nghệ nhập được tăng cường, góp phần rút
ngắn thời gian nghiên cứu và phục vụ có hiệu quả cho sản xuất. Số công trình
được áp dụng vào sản xuất tăng từ 27% giai đoạn 1976-1990 lên 41% giai đoạn
1991-1995, 53% giai đoạn 1996-2000 và 56% giai đoạn 2001-2004.
Số đơn vị tham gia nghiên cứu ngày càng tăng, đầu tư cho nghiên cứu được
cải thiện, mức đầu tư tăng, nguồn vốn phong phú hơn; ngoài nguồn vốn ngân
sách nhà nước cho nghiên cứu khoa học, các dự án hợp tác quốc tế: Các dự án
bảo vệ và phát triển rừng do nước ngoài tài trợ, chương trình PAM và một số
chương trình quốc gia cũng đóng góp đáng kể cho nghiên cứu khoa học lâm
nghiệp như: 327, 661, …
Trong một số lĩnh vực mũi nhọn như chọn tạo giống, nhân giống … thành
tựu nghiên cứu của Việt Nam đã đạt được trình độ của các nước trong khu vực
và một số nước tiên tiến. Kết quả nghiên cứu đã được áp dụng rộng rãi trong
thực tiễn sản xuất. Nhiều giống quốc gia, giống tiến bộ kỹ thuật đối với Bạch
đàn, Keo, Phi lao… có năng suất cao và khả năng chống chịu đã được công
nhận. Công nghệ mô hom đã trở thành kỹ thuật khá phổ biến để tạo cây con
hàng loạt có chất lượng đồng đều.
Những thành tựu đạt được trên một số lĩnh vực cụ thể:
- Phân loại đất rừng, đánh giá về tiềm năng và độ thích hợp của đất đối với
một số loài cây trồng rừng chủ yếu, phân hạng đất, phân chia lập địa.
- Phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam, xác định đặc điểm chủ yếu các hệ
sinh thái rừng lá rộng thường xanh, rừng lá kim, rừng rụng lá, rừng trên núi đá
vôi, rừng ngập mặn.
- Đánh giá đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng Việt Nam; các loài đặc
hữu, quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng; đề xuất các phương thức bảo tồn và
đã bảo tồn một số nguồn gien.
- Xây dựng cơ sở khoa học công nghệ để quản lý bền vững rừng tự nhiên.
- Xác định các loài cây trồng rừng trên đất trống đồi núi trọc; Cải thiện
giống, nhân giống, kỹ thuật thâm canh rừng trồng đạt năng suất cao (Keo, Bạch
đàn).
- Đề xuất công nghệ chế biến gỗ rừng trồng (sấy, chế độ xẻ, ván nhân tạo,
băm dăm,…), bảo quản một số lâm sản.
- Xác định các tính chất cơ bản của gỗ làm cơ sở sử dụng và phân chia các
nhóm gỗ.
- Dự báo thị trường lâm sản và đề xuất một số luận cứ để xây dựng chính
sách lâm nghiệp làm động lực phát triển ngành.
- Ban hành hàng trăm tiêu chuẩn Nhà nước và tiêu chuẩn ngành, quy trình,
quy phạm kỹ thuật.
b) Về những thiếu sót và tồn tại:
Một trong những tồn tại lớn trong nghiên cứu khoa học về lâm nghiệp là số
các kết quả nghiên cứu được đưa vào sản xuất còn hạn chế và nghiên cứu chưa
đáp ứng kịp thời yêu cầu của sản xuất. Nguyên nhân chủ yếu được xác định là:
- Công tác thông tin, dự báo phát triển ngành còn yếu và thiếu một chiến
lược nghiên cứu khoa học công nghệ cho ngành, việc xác định phương hướng,
mục tiêu nghiên cứu và lựa chọn các đề tài ưu tiên chưa chuẩn xác, hiệu quả
nghiên cứu chưa cao, chưa gắn chặt với thực tiễn sản xuất và thị trường.
Còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu như: các nghiên cứu cơ bản để
tạo ra giải pháp kỹ thuật và công nghệ mới; nghiên cứu quản lý tài nguyên rừng
và đất rừng; nghiên cứu về tổ chức và quản lý nghề rừng; về thị trường lâm sản;
về định giá rừng và các dịch vụ môi trường của rừng; nghiên cứu liên quan đến
biến đổi khí hậu: các tác động và các giải pháp thích ứng, nghiên cứu áp dụng
các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ của nước ngoài
- Tổ chức nghiên cứu chưa hợp lý. Trong quá trình xây dựng kế hoạch
nghiên cứu chưa chú ý đến đối tượng cây rừng có chu kỳ sản xuất dài ngày, đề
tài nghiên cứu thường bị gián đoạn, chia cắt. Chưa có sự tham gia của người sử
dụng kết quả nghiên cứu trong quá trình xác định nội dung, triển khai thực hiện
và đánh giá kết quả nghiên cứu.
- Thiếu động lực cho nghiên cứu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Các chính sách hiện tại chưa thực sự khuyến khích, thúc đẩy nghiên cứu khoa
học, nhất là chính sách đãi ngộ, sử dụng cán bộ nghiên cứu khoa học chưa có
sức hấp dẫn cán bộ giỏi làm nghiên cứu lâm nghiệp, hạn chế tính năng động, tự
chủ và sáng tạo.
- Cán bộ nghiên cứu thiếu, yếu và chưa đồng bộ, nhất là lực lượng nghiên
cứu ở các địa phương và cơ sở; chưa hình thành các tập thể các nhà khoa học
theo từng lĩnh vực chuyên môn với các trình độ khác nhau và ít tính kế thừa; khi
chuyển sang cơ chế thị trường và lâm nghiệp chuyển hướng sang lâm nghiệp xã
hội, đội ngũ cán bộ chưa được trang bị kiến thức và phương pháp tiếp cận phù
hợp nên ít nhạy bén và hiệu quả nghiên cứu thấp.
- Sự phối hợp giữa các nhà khoa học, các cơ sở nghiên cứu, giữa nghiên
cứu với phổ cập và sản xuất, đào tạo chưa chặt chẽ. Chưa có sự phối hợp chặt
chẽ giữa các chương trình khoa học công nghệ với các chương trình phát triển
kinh tế - xã hội và chương trình phát triển ngành. Hiệu quả kinh tế của các hoạt
động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chưa được chú ý đúng mức.
- Điều kiện nghiên cứu vừa thiếu vừa lạc hậu. Trang thiết bị thí nghiệm
chưa đáp ứng yêu cầu; rừng nghiên cứu, thí nghiệm chưa có quy chế quản lý
phù hợp. Kinh phí cho nghiên cứu rất thấp và cách xa yêu cầu.
2. Tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp
a) Hệ thống tổ chức nghiên cứu:
Hệ thống các tổ chức nghiên cứu khoa học lâm nghiệp đã hình thành khá
đồng bộ, trong đó Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam là tổ chức nghiên cứu
chủ yếu, là cơ quan nghiên cứu lâm nghiệp đầu ngành. Đã hình thành một số tổ
chức nghiên cứu khoa học lâm nghiệp độc lập thuộc Hội Khoa hoc kỹ thuật lâm
nghiệp Việt Nam và các Trường đại học lâm nghiệp Việt Nam. Nhiều cơ quan,
tổ chức có liên quan trong ngành lâm nghiệp cũng đã tham gia nghiên cứu khoa
học lâm nghiệp. Tuy nhiên, tiềm năng nghiên cứu, nhất là ở các Vườn quốc gia
và các cơ sở lâm nghiệp nhìn chung chưa được phát huy, một số lĩnh vực cần
thiết ít được chú ý đầu tư nghiên cứu, các cơ sở sản xuất kinh doanh lâm nghiệp
nói chung chưa có đầu tư thoả đáng cho nghiên cứu lâm nghiệp
- Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam là cơ quan nghiên cứu lâm nghiệp
thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được thành lập vào năm 1961 và
tổ chức lại vào năm 1988. Trước năm 1988, trên cơ sở tách ra từ Viện khoa học
lâm nghiệp cũ, đã có các tổ chức nghiên cứu khoa học lâm nghiệp hoạt động độc
lập là: Viện Lâm nghiệp, Viện Công nghiệp rừng, Viện Kinh tế lâm nghiệp trực
thuộc Bộ Lâm nghiệp (và Tổng cục lâm nghiệp).
Chức năng, nhiệm vụ của Viện Khoa học lâm nghiệp hiện nay bao gồm:
nghiên cứu khoa học kỹ thuật về lâm sinh, công nghiệp rừng và kinh tế lâm
nghiệp phục vụ cho công tác quản lý và sản xuất của Ngành; xây dựng và thực
hiện các chương trình kinh tế - xã hội và khoa học kỹ thuật của ngành; xây dựng
quy chế quản lý và các quy trình, quy phạm, định mức, tiêu chuẩn kinh tế kỹ
thuật lâm nghiệp; đào tạo cán bộ trên đại học trong lĩnh vực lâm sinh và chế
biến lâm sản, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ khoa học kỹ
thuật và thực hiện hợp tác quốc tế, dịch vụ tư vấn về khoa học kỹ thuật của
ngành.
Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam có Hội đồng Khoa học, các phòng
chức năng, các phòng nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu chuyên đề, trung
tâm chuyển giao công nghệ và trung tâm vùng với đội ngũ cán bộ khoa học đa
ngành, hệ thống các phòng thí nghiệm, nhà xưởng và trên 10.000 ha rừng nghiên
cứu thí nghiệm.
Trong những năm qua, ưu thế về nghiên cứu khoa học lâm nghiệp của Viện
khoa học lâm nghiệp VN vẫn chủ yếu là những vấn đề về nghiên cứu cơ bản và
ứng dụng về lâm sinh, lâm học. Những vấn đề về công nghiệp rừng và kinh tế
quản lý ngành lâm nghiêp chưa được quan tâm nhiều.
- Các tổ chức nghiên cứu khoa học của Trường Đại học lâm nghiệp: Trung
tâm môi trường sinh thaí , Trung tâm Nghiên cứu cây nguyên liệu giấy (nay là
Viện Nghiên cứu cây nguyên liệu giấy thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam), các
trung tâm, các viện của Hội khoa học kỹ thuật lâm nghiệp là các tổ chức nghiên
cứu khoa học lâm nghiệp về các lĩnh vực khác nhau về lâm nghiệp, đặc biệt là
các lĩnh vực về môi trường sinh thái rừng, về quản lý, kinh tế lâm nghiệp Các
tổ chức này đã thu hút được nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật lâm nghiệp đang
làm việc tại các cơ quan đơn vị hay đã nghỉ hưu vào nghiên cứu lâm nghiệp khá
hiệu quả.
- Tham gia nghiên cứu khoa học lâm nghiệp còn có các đơn vị hoạt động
trên các lĩnh vực khác nhau trong ngành lâm nghiệp, như: Viện Điều tra quy
hoạch rừng, 3 trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng (thuộc Cục Kiểm lâm). (Kiểm lâm
vùng 1 ở Quảng Ninh, vùng 2 ở Thanh Hoá và vùng 3 ở Thành phố Hồ Chí
Minh), Các trường trung cấp và trường công nhân kỹ thuật lâm nghiệp, Các
Vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên thuộc trung ương và địa phương.
Các cơ sở sự nghiệp thuộc các ngành khác, như các khoa lâm nghiệp của
Đại học Nông lâm Thái nguyên, Đại học Nông lâm Huế, Đại học Nông lâm TP.
Hồ Chí Minh, Đại học Tây Nguyên và một số trường khác như Đại học Nông
nghiệp I, Đại học Dược Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội… , Các viện nghiên
cứu như Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, Viện nghiên cứu rau quả, Viện
Thổ nhưỡng nông hoá, Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp
nông thôn… cũng tham gia nghiên cứu các đề tài và trực tiếp phục vụ các
chương trình quốc gia về Lâm nghiệp như Chương trình 327, 661…
- Các cơ sở thuộc khối sản xuất kinh doanh, như: Công ty Giống lâm
nghiệp, Tổng Công ty lâm nghiệp Việt Nam cũng triển khai thực hiện các đề
tài nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt trên các lĩnh vực về giống
như: chọn giống, nhân giống, xây dựng vườn giống, rừng giống và nghiên cứu
các loài cây cung cấp nguyên liệu giấy.
- Tham gia nghiên cứu khoa học lâm nghiệp còn có các cơ sở ở các địa
phương: Nông lâm trường thực nghiệm, Trung tâm khoa học kỹ thuật Nông lâm
nghiệp, Trung tâm Khuyến nông Khuyến lâm, Lâm trường thực nghiệm… có
chức năng, nhiệm vụ liên quan đến nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật, chuyển giao công nghệ hay phổ cập…
Nhiều tổ chức quốc tế đã quan tâm đến nghiên cứu lâm nghiệp và hỗ trợ,
hợp tác với các đối tác trong nước thực hiện nhiều chương trình nghiên cứu lâm
nghiệp, điển hình như: FAO, CIFOR, APAFRI, ACIAR, CSIRO, DANIDA,
JICA, SIDA, SAREC, UNDP, IUCN, TBI, GTZ…
b) Nguồn lực nghiên cứu:
- Nguồn nhân lực: Trong những năm gần đây, việc đào tạo cán bộ nghiên
cứu, giảng dạy ở trong và ngoài nước được tăng cường mạnh mẽ và đội ngũ thạc
sĩ, tiến sĩ trẻ trong các cơ quan nghiên cứu, trường đại học tăng lên rõ rệt. Tuy
nhiên, cán bộ đầu đàn trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu lâm nghiệp (như: lâm
học), vẫn còn thiếu hoặc chưa tự khẳng định mình. Năng lực nghiên cứu của cán
bộ trẻ vẫn chưa đồng đều và số cán bộ nghiên cứu giỏi chưa nhiều.
- Trang thiết bị nghiên cứu nhìn chung còn lạc hậu so với nhiều nước trong
khu vực và hoặc so với các lĩnh vực nông nghiệp trong nước. Ngành Lâm
nghiệp chưa có phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia hoặc được đầu tư lớn, tập
trung.
c) Cơ chế quản lý nghiên cứu:
- Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ đã có nhiều đổi mới, nhất là sau
khi Luật Khoa học và Công nghệ ra đời; việc xác định kế hoạch nghiên cứu đã
được chuyển từ hình thức giao nhiệm vụ sang tuyển chọn và đấu thầu công khai,
tạo sự cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các thành phần tham gia nghiên
cứu và góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu. Chiến lược phát triển khoa học
và công nghệ 2010 và Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ đã đề cập và
qui định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học công nghệ
công lập.
- Về thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu: Trước 1980, các đề tài
được tập hợp thành các chương trình của ngành; từ năm 1981, các chương trình
tiến bộ kỹ thuật có mục tiêu được xây dựng theo 2 cấp: Nhà nước và ngành.
Ngoài các Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước và cấp ngành còn các đề tài
độc lập và các nhiệm vụ nghiên cứu thường xuyên. Thiếu các chương trình
nghiên cứu dài hạn phù hợp với đặc thù của ngành lâm nghiệp là cây dài ngày
gây khó khăn không nhỏ cho quá trình xây dựng kế hoạch nghiên cứu hàng năm.
- Công tác quản lý nghiên cứu có sự phân công ngày càng rõ hơn giữa Bộ
Khoa học và Công nghệ và các Bộ chuyên ngành cũng như việc phân cấp giữa
các nhiệm vụ cấp Nhà nước, cấp ngành và cấp cơ sở.
- Cơ chế quản lý tài chính trong nghiên cứu chậm được đổi mới, chưa
khuyến khích hoạt động khoa học công nghệ và thu hút tài năng; đặc điểm này
càng rõ trong nghiên cứu lâm nghiệp, vì đây là lĩnh vực đặc thù với nhiều khó
khăn về địa bàn, thời gian dài và rủi ro lớn.
- Cơ chế kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu tuy có nhiều cải tiến nhưng vẫn
nặng về thủ tục và hình thức.
- Thiếu cơ chế quản lý kết quả nghiên cứu để bảo đảm các kết quả nghiên
cứu được sử dụng hiệu quả, thiếu sự phối hợp với mạng lưới khuyến lâm để đưa
kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Thiếu hệ thống quản lý thông tin để phục vụ
các đối tượng khác nhau như nhà quản lý, hoạch định chính sách, các cơ quan
nghiên cứu, đào tạo và các cơ sở sản xuất kinh doanh.
3. Mục tiêu, nội dung Chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp tới năm 2020
a) Mục tiêu
- Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu lâm nghiệp nhằm góp phần định hướng phát triển lâm nghiệp,
thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển lâm nghiệp và kế hoạch tổng thể
nghiên cứu nông nghiệp Việt Nam tới năm 2020; phục vụ yêu cầu công nghiệp
hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam tới năm 2020.
- Mục tiêu cụ thể
+ Định hướng phát triển ngành: Cung cấp cơ sở khoa học định hướng phát
triển ngành theo hướng xã hội hoá nghề rừng, đồng thời phát huy chức năng
cung cấp hàng hóa và dịch vụ môi trường của rừng.
+ Mục tiêu sản xuất lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học: Nâng cao
hiệu quả nghiên cứu, gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất, nâng cao
tỷ trọng đóng góp của khoa học đối với phát triển của ngành đạt các chỉ tiêu sau:
Nâng cao năng suất rừng tự nhiên lên 1,5 lần cho nhóm cây có giá trị kinh
tế;
Phát triển rừng trồng sản xuất với một số loài cây chủ lực có năng suất cao
và bền vững (tăng 1,5 - 2 lần);
Bảo vệ và phát huy giá trị phòng hộ của các loại rừng, đặc biệt là rừng
phòng hộ đầu nguồn và phòng hộ ven biển.
Bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững nguồn đa dạng sinh học, các
nguồn gen của rừng, kể cả các nguồn lâm sản ngoài gỗ;
Cải tiến công nghệ đảm bảo khai thác tác động thấp đối với rừng tự nhiên,
phát triển công nghệ chế biến gỗ qui mô vừa và nhỏ, đa dạng hoá sử dụng nguồn
nguyên liệu.
+ Tăng cường năng lực nghiên cứu:
Tăng cường năng lực nghiên cứu và cải tiến hệ thống tổ chức nghiên cứu,
kết hợp nghiên cứu với đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, mở rộng quan hệ hợp
tác quốc tế nhằm đưa trình độ khoa học công nghệ lâm nghiệp đạt ngang tầm
các nước trong khu vực. Các mục tiêu cụ thể cần đạt được là:
Hệ thống tổ chức nghiên cứu phù hợp, có hiệu quả; thiết lập mối quan hệ
chặt chẽ giữa nghiên cứu - đào tạo - phổ cập.
Cán bộ nghiên cứu được đào tạo đủ năng lực đáp ứng yêu cầu thực tiễn và
hội nhập quốc tế, có các cán bộ nghiên cứu đầu ngành đủ năng lực và có tính kế
thừa.
Cơ sở hạ tầng và thiết bị nghiên cứu hiện đại được tăng cường phù hợp với
trình độ chung của khu vực.
Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin, có cơ sở dữ liệu đủ mạnh phục vụ
cho nghiên cứu và triển khai áp dụng các kết quả nghiên cứu lâm nghiệp vào
thực tiễn sản xuất.
b) Ưu tiên nghiên cứu:
Căn cứ vào Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-
2020 và Chiến lược phát triển khoa học công nghệ 2010 đã được phê duyệt, các
ưu tiên nghiên cứu được sắp xếp theo các lĩnh vực và chia theo 3 cấp độ ưu tiên:
ưu tiên cao, ưu tiên trung bình và ưu tiên thấp.
Các vấn đề ưu tiên nghiên cứu được sắp xếp trong 6 lĩnh vực: 1) Quy
hoạch, giám sát, đánh giá rừng và tài nguyên rừng; 2) Chính sách và thể chế lâm
nghiệp; 3) Quản lý rừng bền vững; 4) Môi trường rừng và đa dạng sinh học; 5)
Lâm học và kỹ thuật lâm sinh (rừng tự nhiên, rừng trồng, lâm sản ngoài gỗ); 6)
Công nghiệp rừng, Bảo quản và chế biến lâm sản.
Quy hoạch, giám sát, đánh giá rừng và tài nguyên rừng, gồm:
+ Quy hoạch sử dụng rừng và đất lâm nghiệp ở tầm vĩ mô và vi mô.
+ Nghiên cứu và áp dụng các giải pháp khoa học công nghệ tiên tiến trong
điều tra, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng.
+ Xây dựng hệ thống hồ sơ quản lý, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và giám
sát tài nguyên rừng.
Chính sách và thể chế lâm nghiệp, gồm:
+ Dự báo xu hướng phát triển lâm nghiệp trong từng giai đoạn (nhu cầu, thị
trường, năng lực cung cấp)
+ Tổng kết thực tiễn, đánh giá tình hình thực hiện các cơ chế chính sách và
các chương trình, dự án lớn, đề xuất các giải pháp, cơ chế chính sách mới về lâm
nghiệp, như: chính sách về xã hội hóa ngành lâm nghiệp, giao đất, giao rừng;
các chính sách về cơ chế chia sẻ lợi ích từ rừng, chính sách đầu tư, tín dụng và
dịch vụ môi trường rừng, về vai trò của rừng trong việc xóa đói giảm nghèo và
đóng góp của ngành trong nền kinh tế quốc dân
+ Hệ thống quản lý nhà nước về lâm nghiệp, hệ thống quản lý rừng và tổ
chức sản xuất về lâm nghiệp, hệ thống các định mức kinh tế kỹ thuật ngành lâm
nghiệp
+ Phát triển lâm nghiệp trong cơ chế thị trường.
Quản lý rừng bền vững, gồm:
+ Các hình thức quản lý và phát triển các loại rừng.
+ Các phương thức khai thác sử dụng rừng bền vững, kể cả rừng tự nhiên
và rừng trồng.
+ Xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về quản lí rừng bền vững.
Môi trường rừng và đa dạng sinh học, gồm:
+ Rừng với bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai.
Khả năng phòng hộ của các loại rừng.
+ Lượng giá các giá trị của rừng về môi trường và cảnh quan.
+ Đa dạng sinh học rừng tự nhiên và nâng cao tính đa dạng sinh học rừng
trồng.
+ Bảo tồn, sử dụng các nguồn gien các loài động, thực vật bản địa quý
hiếm.
+ Nghiên cứu phát triển lâm nghiệp đô thị.
Lâm học và kỹ thuật lâm sinh, gồm:
+ Rừng tự nhiên: đặc điểm các hệ sinh thái rừng tự nhiên chủ yếu ở Việt
Nam; Hệ thống các kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng cao chất lượng rừng tự nhiên
bị thoái hoá theo hướng thâm canh; kỹ thuật khai thác bền vững rừng tự nhiên
và phục hồi rừng sau khai thác.
+ Rừng trồng: cơ sở khoa học xác định một số loài cây kinh tế chủ lực cho
các vùng sinh thái; cải thiện giống các loài cây trồng chủ yếu (năng suất, chất
lượng và tính chống chịu); thâm canh rừng trồng sản xuất (gỗ nhỏ và gỗ lớn); cơ
sở khoa học và hệ thống kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ; các giải pháp kỹ
thuật trồng rừng và xúc tiến tái sinh phục hồi rừng cho một số hệ sinh thái đặc
thù (rừng ngập mặn, rừng khộp); các giải pháp quản lý, phòng trừ sâu bệnh hại
rừng, cháy rừng.
+ Lâm sản ngoài gỗ: đánh giá tài nguyên lâm sản ngoài gỗ (LSNG); khai
thác và phát triển bền vững LSNG quy mô hộ gia đình và trang trại; gây trồng,
chế biến, bảo quản các loài lâm sản có giá trị kinh tế và có tiềm năng phát triển.
Công nghiệp rừng, bảo quản và chế biến lâm sản, gồm:
+ Xây dựng cơ sở dữ liệu về đặc tính gỗ và LSNG Việt Nam.
+ Đánh giá tiềm năng phát triển các nguồn nguyên liệu gỗ và LSNG. Đa
dạng hóa sử dụng nguồn nguyên liệu.
+ Công nghệ khai thác lâm sản tác động thấp rừng tự nhiên; ứng dụng các
công nghệ tiên tiến trong khai thác rừng trồng.
+ Công nghệ bảo quản và thuốc bảo quản lâm sản an toàn với môi trường.
+ Công nghệ chế biến lâm sản quy mô vừa và nhỏ.
+ Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn về gỗ và sản phẩm gỗ.
Giai đoạn 2008 - 2010, dành ưu tiên cao cho các chủ đề: xây dựng hệ thống
chỉ tiêu đánh giá và giám sát tài nguyên rừng; chính sách giao đất, giao rừng,
đồng quản lí các loại rừng và dịch vụ môi trường rừng, chính sách hưởng lợi,
phát triển lâm nghiệp xã hội, định giá rừng, xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về
quản lí rừng bền vững, lượng giá giá trị môi trường của rừng và cảnh quan, quản
lí thiên tai và rủi ro môi trường; cải thiện giống; thâm canh rừng trồng cung cấp
nguyên liệu gỗ nhỏ và cải tạo rừng tự nhiên và rừng trồng nhằm cung cấp gỗ
lớn; đánh giá thị trường lâm sản, nghiên cứu phát triển công nghệ bảo quản, chế
biến lâm sản quy mô vừa và nhỏ
c) Tăng cường năng lực nghiên cứu
- Sắp xếp hệ thống tổ chức nghiên cứu
+ Mục tiêu chính của sắp xếp hệ thống tổ chức nghiên cứu là nâng cao hơn
nữa hiệu quả nghiên cứu, hạn chế trùng lặp trong các đề tài nghiên cứu. Những
vấn đề trọng yếu được quan tâm là:
Định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức nghiên cứu, từng bước định
hình các “mũi nhọn” của các tổ chức nghiên cứu trong toàn hệ thống nghiên cứu
khoa học lâm nghiệp.
Thu hút mọi nguồn nhân lực trong toàn hệ thống trong nghiên cứu khoa
học lâm nghiệp thông qua sự phối kết hợp trong nghiên cứu, tổ chức tốt thông
tin nghiên cứu, đào tạo
Sắp xếp hệ thống tổ chức nghiên cứu trong toàn quốc và trong từng cơ
quan nghiên cứu cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới.
+ Mối quan hệ phối hợp của các tổ chức nghiên cứu:
Hệ thống nghiên cứu nông nghiệp (bao gồm lâm nghiệp) hiện nay được tổ
chức theo ba cấp: cấp quốc gia, cấp vùng và cấp tỉnh. Xu hướng sắp xếp hệ
thống tổ chức nghiên cứu nông nghiệp sẽ giảm dần cơ quan nghiên cứu ở Trung
ương, mở rộng cơ quan nghiên cứu cấp vùng và cấp tỉnh.
Ở Trung ương, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam là viện nghiên cứu
đầu ngành về lâm nghiệp. Viện đã hình thành hệ thống các trung tâm nghiên cứu
chuyên đề, trung tâm vùng, tạo thành một thể thống nhất trong hệ thống tổ chức
nghiên cứu của Viện. Trong thời gian tới, từng bước nâng cao tính độc lập và tự
chủ của các trung tâm nghiên cứu này nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thực tế
phát triển của ngành.
Khuyến khích phát triển và hoạt động của các tổ chức nghiên cứu khoa học
lâm nghiệp khác, ngoài Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, nhất là các tổ chức
nghiên cứu ngoài nhà nước.
Ở các địa phương và cơ sở, khuyến khích các nghiên cứu mang tính tổng
kết thực tiễn, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia nghiên cứu
lâm nghiệp; có thể hình thành các trung tâm nghiên cứu ở những nơi có nhu cầu
cấp thiết và có đủ điều kiện về nguồn lực.
Đưa nhiệm vụ nghiên cứu khoa học lâm nghiệp như một nhiệm vụ thường
xuyên của mình đối với các tổ chức trong hệ thống các Vườn quốc gia, Khu bảo
tồn thiên nhiên, các Công ty lâm nghiệp, các trường đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp.
Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu thông qua hệ thống
thông tin nghiên cứu chia sẻ chung, cùng tham gia các chương trình nghiên cứu,
các đề tài nghiên cứu có yêu cầu trên diện rộng hay đa ngành, đa lĩnh vực
+ Với việc hình thành các tổ chức nghiên cứu đa dạng, từng bước xác định
rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức nghiên cứu cho phù hợp và thiết
lập mối quan hệ của hệ thống tổ chức nghiên cứu.
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phải ưu tiên và hướng tới các nghiên
cứu đón đầu, có tính đột phá, lâu dài và cơ bản hơn, mang ý nghĩa chiến lược.
Viện/Trung tâm vùng chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề cụ thể, trước mắt
của vùng và kết hợp nghiên cứu những vấn đề về phát triển chiến lược của vùng.
Các trường đại học, ngoài nhiệm vụ tham gia nghiên cứu phục vụ sản xuất,
hướng tới những nghiên cứu có tính chất cơ bản, góp phần nâng cao chất lượng
giảng dạy và hoàn thiện các giáo trình.
+ Từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức nghiên cứu trong cùng một Viện/
Trung tâm cho phù hợp với đặc thù nghiên cứu lâm nghiệp. Phát triển các trung
tâm nghiên cứu trên từng lĩnh vực, các nghiên cứu chuyên đề, các trung tâm
vùng, các trung tâm chuyển giao kỹ thuật. Có thể hình thành các tổ chức nghiên
cứu linh hoạt trong một thời gian nhất định như các nhóm nghiên cứu chuyên đề
và đa lĩnh vực
+ Chú trọng xây dựng quan hệ hợp tác trong nghiên cứu, thiết lập mối quan
hệ chặt chẽ giữa viện nghiên cứu với các trường đại học, các viện vùng và phát
triển quan hệ hợp tác với các tổ chức trong và ngoài ngành, các tổ chức phi
chính phủ.
+ Chuyển đổi mạnh hệ thống quản lý về kế hoạch và tài chính các tổ chức
nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu mới của các tổ chức khoa học công nghệ tự trang
trải kinh phí và doanh nghiệp khoa học. Các tổ chức nghiên cứu phải hướng tới
đa lĩnh vực, có năng lực cạnh tranh, tham gia đấu thầu các đề tài, dự án trong
nước và quốc tế, có uy tín để liên doanh, liên kết trong nghiên cứu và chuyển
giao công nghệ.
- Phát triển nguồn nhân lực
Đào tạo nguồn nhân lực cho nghiên cứu lâm nghiệp theo những định hướng
cơ bản sau:
+ Đào tạo toàn diện, chuyên sâu và đồng bộ: đào tạo chuyên sâu ưu tiên ở
các cơ quan nghiên cứu Trung ương, đào tạo toàn diện ưu tiên cho các cán bộ
nghiên cứu ở địa phương.
+ Đào tạo đồng bộ và hài hoà giữa cán bộ nghiên cứu có học vị như Thạc
sỹ, Tiến sỹ với các Kỹ sư thực hành, các Kỹ thuật viên.
+ Chú trọng đúng mức đào tạo nguồn nhân lực nữ trong nghiên cứu.
+ Đào tạo nguồn nhân lực cho các Viện, cơ quan nghiên cứu phải đặc biệt
chú ý nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học, nhất là các trường đại
học lâm nghiệp, nông - lâm nghiệp.
- Tăng cường hạ tầng cơ sở và thiết bị nghiên cứu
Tăng cường hạ tầng cơ sở và thiết bị nghiên cứu, đặc biệt quan tâm tới các
hiện trường thí nghiệm, rừng thí nghiệm, các hệ thống vườn ươm, vườn sưu tập,
vườn giống, các cơ sở nghiên cứu ở địa phương, ở các trung tâm vùng, viện
vùng. Những hiện trường nghiên cứu định vị, đặc biệt đối với rừng tự nhiên,
phải được duy trì lâu dài.
Nghiên cứu, đề xuất cơ chế quản lý và sử dụng rừng nghiên cứu khoa học
trong các cơ sở nghiên cứu khoa học và rừng nghiên cứu khoa học tại các cơ sở
sản xuất hay sự nghiệp khác.
Tăng cường thiết bị nghiên cứu theo hướng tiếp cận tới những phương
pháp nghiên cứu hiện đại, tiên tiến, trong đó:
+ Ưu tiên các thiết bị hiện đại cho các tổ chức nghiên cứu ở Trung ương.
+ Dành các thiết bị phù hợp với các nghiên cứu thông thường và chuyên
dụng bố trí nghiên cứu hiện trường ở địa phương và cơ sở.
+ Thiết bị nghiên cứu hiện đại gắn với việc đào tạo các chuyên gia, kỹ
thuật viên lành nghề.
- Phát triển hệ thống thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu nghiên cứu theo các
định hướng cơ bản sau:
+ Đầu tư xây dựng các hệ thống thông tin cần thiết như thư viện, mạng
internet, mạng LAN, trang Web để hình thành hệ thống mạng lưới thông tin có
thể cập nhật được từ bên ngoài và trong nội bộ cơ quan nghiên cứu.
+ Xây dựng cơ sở dữ liệu trong lâm nghiệp, đặc biệt trong nghiên cứu và
xây dựng các hiện trường nghiên cứu dài hạn (long-term sites) phục vụ các
nghiên cứu dài hạn, đa ngành.
Quy định cụ thể những thông tin, các cơ sở dữ liệu cần được cập nhật trong
hệ thống thông tin nghiên cứu lâm nghiệp sau nghiệm thu mỗi đề tài do ngân
sách nhà nước đầu tư.
d) Nâng cao hiệu quả nghiên cứu
- Xây dựng kế hoạch thực hiện chiến lược
Kế hoạch xây dựng phải hướng tới giải quyết các vấn đề cấp bách trước
mắt, đồng thời phải chú trọng các vấn đề nghiên cứu cơ bản, lâu dài và dự báo
vấn đề mới trong tương lai. Xây dựng kế hoạch dài hạn và trung hạn, đón trước
các yêu cầu của sản xuất, đảm bảo sự đồng bộ và mang tính kế thừa.
Nghiên cứu lâm nghiệp không chỉ giải quyết các vấn đề kỹ thuật mà cả các
vấn đề xã hội, giải quyết đồng bộ từ khâu đầu (gây trồng) đến khâu cuối (tiêu
thụ), kế hoạch chiến lược phải chỉ ra được tầm quan trọng của mạng lưới nghiên
cứu (research network) và hợp tác nghiên cứu giữa các đơn vị trong mỗi cơ
quan, giữa các tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước.
- Áp dụng công nghệ hiện đại vào nghiên cứu
Áp dụng các công nghệ, kỹ thuật hiện đại, phù hợp vào thực hiện các đề tài
nhằm tăng hiệu quả, chất lượng và độ tin cậy khoa học của các kết quả nghiên
cứu như công nghệ sinh học trong chọn giống, lai tạo giống, nhân giống, đánh
giá đa dạng di truyền cho bảo tồn nguồn gen và đa dạng sinh học (kỹ thuật
chuyển gen, Isoenzyme, chỉ thị phân tử), bảo vệ thực vật (chế phẩm sinh học),
sử dụng đồng vị phóng xạ trong nghiên cứu môi trường, công nghệ mới trong
bảo quản, chế biến lâm sản… Sớm tiếp cận với các công nghệ hiện đại trong
đánh giá diễn biến tài nguyên rừng, kiểm soát lửa rừng.
- Tiếp cận thông tin nghiên cứu
Tăng cường tiếp cận với các nguồn thông tin trong nước và quốc tế. Các số
liệu, tài liệu nghiên cứu của các nhà nghiên cứu hoặc của các cơ quan nghiên
cứu được quản lý và tạo cơ hội chia sẻ, để mọi người được quyền sử dụng khi có
nhu cầu.
Các nguồn thông tin luôn được bổ sung, lưu trữ và chuyển giao.
Các nhà nghiên cứu tiếp cận và cập nhật đầy đủ các nguồn thông tin mới
nhất thông qua nắm vững các kỹ năng sử dụng các phương tiện công nghệ thông
tin hiện đại.
Tiếp cận các kiến thức bản địa từ người dân địa phương trong các lĩnh vực
liên quan tới nghề rừng và quản lý rừng.
- Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
Xem phát triển quan hệ quốc tế là nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo cơ hội
thuận lợi thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Phát triển hợp tác quốc tế đi theo các
định hướng sau:
+ Xác định rõ các nước, tổ chức quốc tế và thế mạnh của họ để xây dựng
quan hệ hợp tác lâu dài, cùng có lợi trên cơ sở mối quan tâm chung. Có thể phân
chia thành các nhóm chủ yếu như:
Các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Các nước có nền khoa học lâm nghiệp tiên tiến: Ôxtrâylia, Thuỵ Điển, Đan
Mạch, Pháp, New Zealand, Mỹ, Canađa, Đức…
Các tổ chức quốc tế và đối tác tài trợ: FAO, UNDP, IUFRO, APAFRI,
CIFOR, IDRC, ACIAR, Tropenbos, Quỹ FORD, JICA, INBAR, IPGRI, GTZ…
+ Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu song phương và đa phương, đặc biệt các
nghiên cứu thuộc lĩnh vực cải thiện giống, lai giống, chế biến lâm sản, môi
trường rừng, đa dạng sinh học.
+ Đẩy mạnh đào tạo cán bộ thông qua hoạt động hợp tác quốc tế. Khuyến
khích xây dựng và tham gia thực hiện các dự án hợp tác quốc tế, coi đó là cơ hội
tiếp cận thông tin mới, phương pháp nghiên cứu và công nghệ hiện đại, học hỏi
kinh nghiệm, bổ sung kinh phí.
- Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ
Các đề tài nghiên cứu phải có đầu ra và kết quả rõ ràng (có mô hình rừng
trồng thí nghiệm, giống mới, công nghệ mới, máy móc mới…) có sức thuyết
phục. Một số kết quả nghiên cứu cần thiết phải được chuyển thành các quy trình
hay hướng dẫn kỹ thuật để có cơ hội chuyển giao. Các kỹ thuật, kết quả mới
phải sớm được triển khai từ diện thí nghiệm ra các khảo nghiệm lớn hơn. Các đề
tài có kết quả nghiên cứu khả quan, có nhu cầu triển khai tiếp được ưu tiên trong
việc bố trí kế hoạch nghiên cứu, nhất là trong ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.
Tăng cường đội ngũ khuyến lâm để họ vừa là người tuyên truyền, quảng bá
công nghệ đến người mua, vừa là người chuyển giao, thông qua các lớp tập
huấn, hướng dẫn.
Đẩy mạnh việc liên kết giữa nhà nghiên cứu, người trồng rừng, đội ngũ
khuyến lâm và các cơ sở chế biến sao cho các nghiên cứu có mục tiêu cụ thể và
thực tế hơn, đáp ứng các yêu cầu của sản phẩm và người sản xuất. Đặc biệt lưu ý
tới các lâm trường, công ty trồng rừng nguyên liệu, các trang trại vì đây là nơi
áp dụng nhanh các kết quả có triển vọng.
Liên kết nghiên cứu với các cơ sở giáo dục, đào tạo nhằm bổ sung kết quả
mới vào giáo trình giảng dạy đại học, cao học ở các trường đại học, dạy nghề và
bổ sung kiến thức mới cho sinh viên, học viên. Mối liên kết này được triển khai
thông qua các đề tài nghiên cứu hợp tác và các chuyên đề giảng dạy.
Chuyển giao công nghệ là một nhiệm vụ cấp bách của các tổ chức, các cơ
quan nghiên cứu trong thời gian tới.
- Giám sát và đánh giá
Các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu hiện đã được các cơ quan quản
lý của các Bộ, Hội đồng khoa học Bộ và các cơ quan nghiên cứu giám sát, đánh
giá định kỳ và nghiệm thu kết thúc. Trong quá trình đánh giá chú ý xem xét điều
chỉnh mục tiêu, nội dung nghiên cứu cho phù hợp; đánh giá lợi ích và kết quả
mong đợi của đề tài làm cơ sở đánh giá hiệu quả của đề tài khi kết thúc. Chú
trọng sự tham gia của người sử dụng kết quả đề tài khi đánh giá. Sản phẩm của
đề tài và kết quả chuyển giao vào sản xuất phải được đặc biệt chú ý trong khi
đánh giá đề tài.
4. Các giải pháp thực hiện Chiến lược
a) Giải pháp về tổ chức
- Tạo lập các mạng lưới nghiên cứu lâm nghiệp ở Trung ương và ở các
vùng để trao đổi thông tin, phối hợp cộng tác trong nghiên cứu, đề xuất các nội
dung nghiên cứu đa ngành. Mạng lưới được đặt trong mối quan hệ với các Cục,
Vụ của các Bộ, các cơ sở cấp tỉnh.
- Xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu đặc thù và chủ yếu của
các tổ chức nghiên cứu.
- Hình thành các cơ chế hợp tác thông qua các bản thoả thuận, ghi nhớ giữa
các đơn vị nghiên cứu và đào tạo, phát triển mối quan hệ hợp tác song phương
dưới nhiều hình thức.
- Định hình các tổ chức nghiên cứu phù hợp để chuyển đổi thành các doanh
nghiệp khoa học hoặc tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí vào
năm 2008 - 2009.
b) Giải pháp về phát triển nguồn lực
- Phát triển nguồn nhân lực
+ Xây dựng kế hoạch dài hạn và thực hiện các chính sách đào tạo cán bộ
nghiên cứu, đặc biệt là cán bộ trẻ và cán bộ nữ. Đào tạo cán bộ trẻ thông qua các
lớp tập huấn (phương pháp nghiên cứu, các chuyên đề nghiên cứu ), tạo điều
kiện cho cán bộ trẻ tham gia cộng tác hoặc chủ trì các đề tài trong nước và hợp
tác quốc tế. Đẩy mạnh quá trình tự đào tạo của các cán bộ trẻ và coi đó là trách
nhiệm của chính họ.
Từng bước bố trí cán bộ nghiên cứu tham gia thường xuyên vào các hoạt
động thực tiễn sản xuất và giảng dạy và ngược lại.
+ Lựa chọn các lĩnh vực ưu tiên để đào tạo cán bộ nữ, đặc biệt trong giảng
dạy, nghiên cứu như: Công nghệ sinh học, chế biến lâm sản, kinh tế chính sách
và môi trường rừng.
+ Quy hoạch đào tạo, phân công, sử dụng cán bộ hợp lý là một nhiệm vụ
quan trọng của các cơ quan nghiên cứu và được thể hiện trong các kế hoạch cụ
thể.
+ Xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ở các Trường đại
học và trung cấp.
- Phát triển hạ tầng cơ sở nghiên cứu: có kế hoạch và giải pháp bảo vệ, duy
trì và theo dõi các hiện trường nghiên cứu định vị, lâu dài.
- Tăng cường thiết bị nghiên cứu gắn với đào tạo chuyên gia, kỹ thuật viên
lành nghề và sử dụng hiệu quả thiết bị nghiên cứu đã có trên cơ sở gắn kết chặt
chẽ với các đề tài nghiên cứu và hợp tác trong sử dụng thiết bị. Ưu tiên các đề
tài nghiên cứu có liên quan tới sử dụng trang thiết bị hiện đại ở các cơ sở đã
được trang bị.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét