Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Thúc đẩy hoạt động của TTCK tại VN

Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
thực hiện quan hệ vay mợn lâu dài trên thế giới tạo điều kiện cho việc hoà nhập
nền kinh tế thế giới.
1.4. Chức năng điều tiết vĩ mô.
Thị trờng chứng khoán là công cụ của Nhà nớc thông qua Uỷ ban chứng
khoán nhà nớc, và Ngân hàng trung ơng.
Nghiệp vụ chủ yếu là thắt chặt hay nới lỏng sự đầu t trên thị trờng. Khi sản
xuất sa sút, thiếu vốn, Nhà nớc tung tiền ra mở rộng cho vay để khuyến khích sản
xuất thông qua việc mua vào những lô chứng khoán có giá trị lớn. Khi hiện tợng
đầu t quá mức, đầu cơ thịnh hành, thì bán chứng khoán nhằm thắt chặt tín dụng
giảm bớt đầu t kinh tế.Vậy thị trờng chứng khoán là công cụ hữu hiệu để nhà nớc
kịp thời điều tiết nguồn vốn trên thị trờng.
2. Vai trò của thị trờng chứng khoán.
Các vai trò của thị trờng chứng khoán rất đa dạng nhng thông qua những
chức năng của nó thì có những vai trò sau:
2.1. Tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân.
Do có thị trờng chứng khoán nên việc đầu t các nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi dễ dàng hơn. Từ việc nguồn vốn bị ứng đọng từ nhiều nơi, không có khả năng
sinh lời, cho đến khi có thị trờng chứng khoán việc đầu t, tích luỹ vốn sôi động và
dồi dào hẳn lên. Thông qua đó nền kinh tế tăng trởng mạnh mẽ, công ăn việc làm
đợc giải quyết, thất nghiệp giảm. Bên cạnh, thị trờng chứng khoán nh một trung
tâm thu gom mọi nguồn vốn từ dân chúng, nh một nam châm cực mạnh hút các
nguồn vốn từ nớc ngoài. Ngoài ra còn giúp Nhà nớc giải quyết vấn đề thiếu hụt
ngân sách, có thêm vốn xây dựng hạ tầng cơ sở.
2.2. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và có
hiệu quả hơn.
Khi DN cần vốn để mở rộng qui mô sản xuất họ có thể phát hành chứng
khoán, vào thị trờng để huy động vốn. Đây là phơng thức tài trợ vốn qua phát
hành và lúc đó nguồn vốn của DN tăng lên. Lúc này rủi ro đối với doanh nghiệp
là rất nhỏ vì những cổ đông của họ đã gánh đỡ thay. Một điều thuận lợi nữa, khi
DN cha có cơ hội sản xuất kinh doanh, các DN có thể dự trữ chứng khoán nh là
một tài sản kinh doanh và các chứng khoán đó sẽ đợc chuyển nhợng thành tiền
khi cần thiết thông qua thị trờng chứng khoán. Ngoài ra, khi DN niêm yết trên thị
trờng chứng khoán, có nghĩa là đã có chữ tín đối với công chúng đầu t. Nh vậy
các công ty chứng khoán sẽ là tác nhân kích thích giúp DN tạo vốn nhanh chóng
hơn.
2.3. Thị trờng chứng khoán là công cụ đánh gía DN, dự đoán tơng lai.
Thị trờng chứng khoán ngày càng đa dạng và phức tạp, liên quan đến vận
mệnh của nền kinh tế quốc dân. Sự hình thành thị giá chứng khoán của một DN
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
trên thị trờng chứng khoán đã bao hàm sự hoạt độngcủa DN đó trong hiện tại và
dự doán tơng lai. Khi giá cổ phiếu của một DN cao (hay thấp) biểu hiện trạng
thái kinh tế tức là khả năng mang lại cổ tức cao (hay thấp) cho các cổ đông của
DN đó. Triển vọng tơng lai của các DN cũng đợc thể hiện một cách trực tiếp trên
thị giá cổ phiếu và cũng nh sự biến động của nó.
Ngoài ra, với phơng pháp chỉ số hoá thị giá của các loại chứng khoán chủ
yếu trong nền kinh tế và việc nghiên cú phân tích một cách khoa học hệ thống chỉ
số giá chứng khoán trên thị trờng chứng khoán ở từng nớc trong mối quan hệ với
thị trờng thế giới, đã dự đoán đợc trớc sự biến động kinh tế của một hoặc hàng
loạt các nớc trên thế giới.
IV. Một số hạn chế của thị trờng chứng khoán
1. Thị trờng chứng khoán là nơi cung cấp sự đầu cơ.
Điểm yếu của thị trờng chứng khoán là giá của các chứng khoán có thể bị
đẩy lên hoặc dìm xuống bởi các thơng gia chứng khoán lớn để nhằm mục đích
kiếm lợi. Các nhà đầu t nhỏ sẽ bị thiệt hại. Ví dụ nh các nhà đầu cơ thờng đa ra
những thông tin lệch lạc làm rối loạn thông tin tới công chúng đầu t từ đó làm rối
loạn mất ổn định quan hệ cung cầu chứng khoán trên thị trờng nhân cơ hội đó mà
kiếm lợi.
Tình trạng đầu cơ có thể dẫn tới sự khan hiếm giả tạo trên thị trờng, làm
cho giá chứng khoán tăng vọt lên so với giá trị thực của nó. Lúc này hàng loạt
chứng khoán này đợc tung ra trên thị trờng nhng giá quá cao nên không có ngời
mua dễ dẫn đến sự sụp đỏ của thị trờng chứng khoán .
2. Thị trờng chứng khoán làm cho mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt hơn.
Do sự tập trung t bản làm cho một số ngời ngày càng giàu có, khống chế
nhiều chứng khoán hơn và có thể trở thành cổ đông lớn nhấn chìm những cổ
đông nhỏ khác , dẫn đến khống chế thị trờng, lũng đoạn giá cả và phá hoại sự ổn
định của thị trờng chứng khoán. Trong khi đó nhiều ngời bị thôn tính trở nên
nghèo hơn, gây nên mâu thuẫn xã hội ngày thêm gay gắt.
3. Thị trờng chứng khoán làm cho nền kinh tế dễ mất ổn định.
Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng không ổn định, sản xuất trì trệ, thị trờng
tiêu điều, vay vốn khó khăn doanh nghiệp và ngân hàng bị phá sản. Lúc này giá
cả của thị trờng chứng khoán bị đảo lộn nghiêm trọng, đầu cơ điên cuồng, gây
nên khủng hoảng kinh tế.
V. Cơ cấu tổ chức thị trờng chứng khoán
1. Uỷ ban chứng khoán quốc gia (UBCKQG)
UBCKQG là cơ quan Nhà nớc điều hành hoạt động thị trờng chứng khoán.
UBCKQG ở các nớc khác nhau có các cách thức tổ chức và hoạt động khác nhau
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
nhng về bản chất là cơ quan có chức năng đặt ra các qui định thị trờng, khuôn
khổ pháp lý cho thị trờng chứng khoán. Nó cũng là cơ quan điều hành cao nhất,
kiểm tra, giám sát các hoạt động thị trờng. Trong UBCKQG, các thành viên của
Chính phủ chiếm số đông và giữ các chức vụ chủ yếu.
2. Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK).
SGDCK có thể có tên là Trung tâm giao dịch chứng khoán với nghĩa hẹp
hơn. SGDCK đợc tổ chức dới dạng công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu
hạn và hoạt động vói mục đích phi lợi nhuận. Đây là trung tâm đầu não của thị tr-
ờng chứng khoán. Đại diện cho SGDCK trớc pháp luật là ban quản lý sở giao
dịch chứng khoán, họ đợc các thành viên trong SGD bầu ra. Các thành viên của
SGD là các công ty chứng khoán. Ban quản lý SGD có trách nhiệm điều hành
SGD để thực hiện đúng các qui định về giao dịch mà pháp luật và các qui định
chung của các thành viên đẵ đặt ra.
3. Các nhà đầu t.
Đối với các nhà đầu t tham gia trên SGDCK, thông thờng là các tổ chức
đầu t, các quĩ hu trí, các quĩ bảo hiểm, cac ngân hàng Việc tham gia giao dịch
tại SGD phải thông qua các công ty chứng khoán thành viên. Các tổ chức này do
có nguồn vốn to lớn từ dân c và các nhà đầu t uỷ thác nên mới có thể đáp ứng đ-
ợc các yêu cầu của SGD. Đối với các nhà đầu t cá nhân, họ tham gia váo thị trờng
chứng khoán chủ yếu trên thị trờng giao dịch qua quầy hoặc thông qua các tổ
chức đầu t để tham mua các lô chứng khoán trên thị trờng.
4. Các đơn vị phát hành chứng khoán .
Họ là ngời tạo ra hàng hoá cho thị trờng chứng khoán bao gồm Nhà nớc,
các loại hình DN phát hành chứng khoán Hàng hoá chứng khoán có phong phú
hay không là phụ thuộc vào các đơn vị phát hành. Việc khuyến khích một thi tr-
ờng năng động và có hiệu quả không thể thiếu đợc các chính sách khuyến khích
phát triển các DN hoạt động mạnh mẽ và có triển vọng phát triển lớn trên thị tr-
ờng.
5. Các trung gian tài chính (TGTC).
Bao gồm các công ty chứng khoán , các Ngân hàng, các tổ chức tài chính
phi ngân hàng Vai trò của chúng là làm chức năng l u chuyển vốn và chứng
khoán từ các nhà đầu t tới những DN phát hành chứng khoán tại thị trờng thứ cấp.
Mặt khác, các TGTC gồm vốn từ dân chúng nhỏ lẻ tạo ra nguồn vốn lớn, có thời
hạn dài để mua chứng khoán từ các nhà phát hành-các DN cần vốn lớn. Mặt
khác, các TGTC cũng là ngời đứng ra bảo lãnh phát hành cho các DN cần phát
hành và đem bán lại cho các nhà đầu t , hay TGTC là bạn hàng của cả hai bên
(nhà đầu t ,DN) trong hoạt động chứng khoán.
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
Đối với các nhà đầu t , không phải ai cũng có kiến thức và kinh nghiệm về
đầu t chứng khoán. Qua các TGTC họ có thể mua đợc những loại chứng khoán có
chất lợng cao, rủi ro thấp. Đối với các đơn vị phát hành, việc gia nhập thị trờng
chứng khoán thông qua huy động vốn từ thị trờng này đòi hỏi phải sự t vấn hỗ trợ
từ phía các TGTC.
6. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán .
Với sự tham gia đa dạng của các TGTC trên thị trờng chứng khoán, cần
thiết phải có một tổ chức đứng ra định chế, điều hành và giám sát ngoài cơ quan
nhà nớc. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự định chế, có tính
hiệp hội đợc thành lập ở hầu hết các nớc và nhiệm vụ là đặt ra qui định nghề
nghiệp bọc các tổ chức TGTC phải tuân theo, cao hơn là bảo vệ các nhà đầu t.
Ngoài ra, còn có nhiệm vụ tập hợp thị trờng, không để tình trạng xé lẻ và kinh
doanh lộn xộn trên thị trờng mà phải theo trình tự, địa điểm, phơng thức về nghề
nghiệp do hiêp hội đặt ra.
VI. Hoạt động của thị trờng chứng khoán .
Hoạt động của thị trờng chứng khoán có thể chia làm 3 loại hoạt động chủ
yếu: Các nghiệp vụ chủ yếu của thị trờng chứng khoán, các nghiệp vụ liên quan
và các nghiệp vụ kỹ thuật.
1. Các nghiệp vụ trực tiếp của thị trờng chứng khoán.
1.1. Phát hành chứng khoán:
Là nghiệp vụ của các đơn vị phát hành chứng khoán, còn các phơng thức,
trình tự phát hành phải tuân thủ theo qui định của thị trờng chứng khoán. Để đợc
phát hành chứng khoán, đơn vị phải có đơn xin kèm theo hồ sơ phát hành gửi
UBCKQG xem xét. Chỉ khi đợc sự chấp thuận thì đơn vị mới đợc phát hành
chứng khoán ra thị trờng. Nghiệp vụ phát hành liên quan đến việc tính toán phức
tạp, nên phát hành chứng khoán nào, số lợng, thời hạn, giá cả, việc trả lãi suất, lãi
tức đòi hỏi không chỉ các chuyên gia của các công ty phát hành mà còn cần tới
sự hỗ trợ của các chuyên gia từ các công ty chứng khoán hoặc các TGTC khác
với t cách là t vấn và trợ giúp phát hành.
1.2. Nghiệp vụ trợ giúp phát hành.
Đây là nghiệp vụ của các công ty chứng khoán và các trung gian tài chính
khác. Nghiệp vụ trợ giúp phát hành bao gồm hai loại: Đại lý phát hành và t vấn
phát hành.
Đại lý phát hành: các công ty chứng khoán hoặc các trung gian tài chính
khác đứng ra mua số chứng khoán của công ty phát hành và đem bán lại cho nhà
đầu t trên thị trờng. Trong nghệp vụ này, công ty trợ giúp phát hành là ngời gánh
chịu rủi ro trong việc bán chứng khoán nhng bù lại họ đợc hởng phần chênh lệch
từ giá mua và bán chứng khoán.
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
T vấn phát hành: là các công ty trợ giúp phát hành đơn thuần là t vấn cho
công ty phát hành về các vấn đề quan trọng trong hoạt động phát hành và đợc h-
ởng một khoản phí dịch vụ do công ty phát hành trả.
1.3. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán.
Đây là việc các công ty chứng khoán làm trung gian giữ ngời mua và ngời
bán chứng khoán. Môi giới là việc đa ngời cần bán một loại chứng khoán nào đó
với giá đa ra đến với ngời mua loại chứng khoán đó với giá đó. Trên thị trờng có
rất nhiều cung và cầu về chứng khoán, nhng để họ gặp nhau ở một mức giá, với
một khối lợng cụ thể là công việc rất khó khăn đối với mỗi cá nhân cần mua và
bán. Để giảm bớt chi phí này, các nhà môi giới là ngời nắm chắc đợc những ai
cần mua và cần bán với số lợng và giá cả cụ thể. Từ đó, họ làm trung gian để môi
giới, liên hệ cho những ngời này gặp nhau và để bù đắp cho việc dàn xếp này, ng-
ời môi giới chứng khoán đợc hởng một khoản phí hay là hoa hồng trong môi giới
giao dịch.
1.4. Nghiệp vu kinh doanh chứng khoán.
Đây là nghiệp vụ của các công ty chứng khoán tiến hành giao dịch mua
bán chứng khoán bằng tài khoản của mình và tự gánh chịu rủi ro. Chỉ có công ty
chứng khoán mới đợc phép thực hiện nghiệp vụ này.
Mục đích của nghiệp vụ này là thu lợi nhuận và làm ổn định thị trờng. Tại
thời điểm thị trờng đang lên cơn sốt về giá chứng khoán, ngoài các biện pháp
khác, thì công ty chứng khoán tham gia bán chứng khoán để bình ổn giá cả,
nhằm giảm sự căng thẳng của thị trờng cũng nh để kiếm lời. Trong những thời
điểm suy giảm, giá chứng khoán giảm thì các công ty chứng khoán mua vào để
tăng sự sôi động của thị trờng. Vì vậy công ty chứng khoán là lực lợng dự bị làm
đối trọng với các áp lực thị trờng.
2. Các nghiệp vụ khác liên quan.
2.1. Nghiệp vụ tín thác đầu t chứng khoán.
Đây là việc các cá nhân, tổ chức cùng gom vốn và thành lập một công ty
hoặc dới dạng các quỹ và họ uỷ thác quyền sử dụng vốn cho hội đồng quản trị
công ty tín thác đầu t hoặc uỷ ban quản lý tín thác đầu t. Số lợng vốn góp trên đợc
đầu t vào chứng khoán, lãi và vốn gốc sẽ đợc thanh toán cho các cổ đông khi kết
thúc hợp đồng.
2.2. T vấn đầu t.
Đây là nghiệp vụ của các công ty chứng khoán, các công ty tài chính khác.
Hoạt động t vấn đầu t là việc cung cấp thông tin, cách thức, đối tợng chứng
khoán, thời hạn, khu vực các vấn đề có tính qui định của luật pháp về hoạt động
chứng khoán.
Các loại dịch vụ t vấn bao gồm:
+ T vấn đầu t mua bán chứng khoán .
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
+ T vấn quản lý doanh mục đầu t.
+ T vấn thông tin về hoạt động chứng khoán.
Mục đích của hoạt động t vấn nhằm thúc đẩy các nhà đầu t trên thị trờng
hiểu biết về thị trờng chứng khoán để đầu t và quản lý hoạt động đầu t của mình
có hiệu quả nhất.
2.3. Nghiệp vụ tín dụng chứng khoán.
Đây là nghiệp vụ của các công ty chứng khoán, các công ty tài chính khác
nhằm cho các nhà đầu t vay tiền để mua chứng khoán. Vì không phải nhà đầu t
nào cũng có đủ tiền mới đi mua chứng khoán hoặc lúc nào cũng đủ tiền để mua
một loại chứng khoán mong muốn. Vậy nghiệp vụ này là để đáp ứng nhu cầu của
nhà đầu t . Điều kiện của loại tín dụng này cũng nh loại tín dụng thông thờng tức
là phải có năng lực trả nợ, phải có tài sản để thế chấp. Ngoài ra, các chứng khoán
mua đợc phải dùng để thế chấp cho khoản vay của khách hàng cho đến khi các
chứng khoán này đợc bán trên thị trờng.
Tại một số nớc, tỷ lệ cấp tín dụng chứng khoán của các tổ chức này cho
khách hàng đợc pháp luật giới hạn ở mức tối đa là 60 % tổng giá trị chứng khoán
cần mua. Mục đích của nghiệp vụ này là nhằm thu lợi dựa trên mức hoa hồng thu
đợc, kích thích các nghiệp vụ khác hoạt động và nhằm tạo sự sôi động, sự phong
phú về cầu hàng hoá chứng khoán.
3. Các yếu tố kỹ thuật nghiệp vụ.
3.1. Phân tích chỉ số chứng khoán.
Đó là việc sử dụng các công thức toán học để tính toán và xác định độ biến
động của giá cả chứng khoán dựa trên tiêu chuẩn và điều kiện thị trờng nhất định.
Đòi hỏi là các chuyên gia về chứng khoán, có đầy đủ thông tin chính xác về thị
trờng, có các kỹ thuật thiết bị tiên tiến và đòi hỏi phải nghiên cứu thờng xuyên,
liên tục, sâu sắc để đa các số liệu chính xác về các chỉ số chứng khoán và tình
hình thị trờng.
Vai trò:
+ Cung cấp cho nhà đầu t những thông tin trung thực nhất về tình hình thị
trờng và có các quyết định đầu t đúng đắn.
+ Giúp các cơ quan chứng khoán Nhà nớc xác định đợc các giới hạn biến
động từ đó có thể đa ra các chính sách phù hợp.
+ Giúp các nhà đầu t chứng khoán đối phó với những thay đổi của thị tr-
ờng hiện tại cũng nh trong tơng lai.
3.2. Xác định giá chứng khoán.
Bao gồm việc xác định giá phát hành và giá bán trên thị trờng. Nghiệp vụ
này ảnh hởng đến khả năng hấp đẫn đối với nhà đầu t cũng nh khả năng thu hút
vốn của doanh nghiệp. Đó là việc tính toán yếu tố có lợi nhuận chứng khoán tạo
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
ra và các yếu tố rủi ro của chứng khoán đó. Ngoài ra, để mua chứng khoán trên
thị trờng, các nhà đầu t, các tổ chức môi giới, kinh doanh và t vấn đầu t chứng
khoán cũng phải xác định đợc mức giá cụ thể mua đợc của loại chứng khoán đó
trên cơ sở đánh giá hiện tại cũng nh tơng lai về giá chứng khoán đó.
Ngoài các nghiệp vụ trên, còn có các nghiệp vụ nh đánh giá rủi ro chứng
khoán, các loại chỉ số khác giúp cho mọi đối t ợng có thể tham gia thị trờng
chứng khoán một cách dễ dàng nhất.
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
Chơng II
Thực trạng của thị trờng chứng khoán việt nam
I. sự cần thiết của thị trờng chứng khoán Việt Nam
1. Nền kinh tế Việt Nam hơn 10 năm đổi mới.
Chủ trơng của Đảng và Nhà Nớc ta đã đề ra trong Đại hội VI là phát triển
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản
lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Từ những thành tựu đã đạt đợc
của công cuộc đổi mới nền kinh tế hơn 10 năm qua đã chứng tỏ chủ trơng trên là
hoàn toàn đúng đắn.
Trong thời kỳ 1986 -1990 nền kinh tế nớc ta có nhịp độ tăng trởng bình
quân thấp (thấp hơn cả thời kỳ 5 năm trớc đó). Cụ thể thời kỳ này chỉ tăng trởng
3,9 % còn thời kỳ 1981-1985 là 6,4 %.
Chỉ số lạm phát năm 1986 lên tới 774,4 %, năm 1990 lạm phát tuy đã đợc
kiềm chế nhng vẫn ở mức cao (67%).
Từ năm 1991 đến nay nền kinh tế nớc ta đã có những bớc phát triển vợt
bậc, tốc độ tăng trởng trong nhiều năm liền khá cao (hơn 8%/năm), lạm phát đợc
kiềm chế ở mức độ cho phép, đời sống nhân dân đợc cải thiện rõ rệt.
Bảng: Tốc độ tăng trởng GDP và lạm phát. Đơn vị: %
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Tốc độ tăng GDP 5,96 8,65 8,07 8,84 9,54 9,34 8,15 5,83 4.99 6,7
Tốc độ lạm phát 67,5 17,5 5,2 14,4 12,7 4,5 3,6 9,2 0,1 -
Để đẩy mạnh CNH-HĐH đất nớc đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn. Nghị
quyết Đại hội VIII đã đề ra cho giai đoạn 1996-2000 đòi hỏi một nguồn vốn 40-
45 tỷ USD, bình quân mỗi năm phải đạt 8 tỷ USD để thúc đẩy CNH-HĐH nhằm
từng bớc tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, góp phần chống nguy cơ tụt hậu xa hơn về
kinh tế với nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới.
2. Nhu cầu về vốn trung hạn và dài hạn cho các doanh nghiệp Việt Nam là
rất lớn.
Về quy mô vốn: Qua điều tra gần đây với 273 DN thì có khoảng 50 % có
số vốn chủ sở hữu trên 10 tỷ đồng và hầu hết là các DN Nhà nớc.
Về cơ cấu vốn: Đối với khối DNNN thì tỷ lệ vốn vay trên tổng vốn kinh
doanh thờng chiếm trên 70 %. Tỷ lệ vốn Nhà nớc chiếm trên 30 % trong tổng số
vốn. Còn các công ty cổ phần có tỷ trọng phần vốn tự có trong tổng số vốn kinh
doanh cao hơn (60%). Tuy nhiên, họ cũng gặp khó khăn trong vấn đề vay Ngân
hàng.
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
Về tình hình huy động vốn của các DN: Mục đích huy động vốn chủ yếu
vào bổ sung vốn lu động và đổi mới công nghệ. Mà nguồn vay vốn chủ yếu lại từ
vay vốn ngắn hạn Ngân hàng, và lợng vay lại không đợc đáp ứng đầy đủ. Do vậy,
hiệu quả của đồng vốn vay phục vụ sản xuất kinh doanh của các DN bị hạn chế
nhiều. Một xu hớng khá phổ biến là huy động vốn trong nội bộ DN thông qua
phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Theo thống kê, trong năm 2000, nhu cầu vốn hoạt động kinh doanh của
các DN cần khoảng 20 nghìn tỷ đồng Việt Nam, tính bình quân mỗi DN cần
khoảng 84 tỷ đồng. Nếu tính đến 2005 con số này vào khoảng 30 nghìn tỷ đồng,
trung bình mỗi DN cần khoảng 100 tỷ đồng. Tóm lại, nhu cầu về vốn trung hạn,
dài hạn của các DN là rất lớn. Với những khó khăn về lãi suất cao, khó khăn về
thủ tục và điều kiện vay vốn, nếu DN chỉ huy động vốn từ các NHTM nh hiện
nay thì chắc chắn không thể đáp ứng đợc nhu cầu về vốn hiện nay của các DN.
Vậy cần thiết phải có một thị trờng chứng khoán có tổ chức và đợc quản lý chặt
chẽ để tạo kênh huy động vốn trung hạn, dài hạn rất lớn cho các DN, đặc biệt là
những DN có nhu cầu về vốn lớn. Mặt khác, theo các tài liệu cho biết thì các
nguồn vốn trong dân là không nhỏ, (trên 20 000 tỷ Đồng-TBKT 40/97). Số vốn
này chủ yếu là để gửi tiết kiệm hoặc tích trữ còn để đầu t là rất thấp. Vậy nếu có
thị trờng chứng khoán sẽ kích thích dân chúng có ý thức tiết kiệm, đầu t sinh lợi
từ những khoản này.
3. Thị trờng chứng khoán là sự đòi hỏi khách quan của nền kinh tế nớc ta.
Thứ nhất, thị trờng chứng khoán góp phần giải quyết bài toán về sự thiếu
vốn trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc. Nh trên, thị trờng chứng khoán có thể
đáp ứng đợc những nguồn vốn trung hạn, dài hạn rất lớn cho các DN. Việc hình
thành và phát triển thị trờng chứng khoán sẽ giúp Nhà nớc ta có đợc một công cụ
để phát huy nội lực đồng thời giúp nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.
Thứ hai, sự phát triển thị trờng chứng khoán là tất yếu khách quan khi nớc
ta chuyển sang cơ chế thị trờng, vì cho phép các chủ thể kinh tế mở rộng quyền tự
chủ tài chính với các hình thức huy động vốn da dạng.
Nh vậy, việc thiết lập thị trờng chứng khoán ở Việt Nam là hết sức cần
thiết, nó có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc huy động vốn đầu t phát triển kinh
tế xã hội và đặc biệt là tạo điều kiện thuận lợi cho các luồng vốn ở trong và ngoài
nớc lu chuyển thông suốt, góp phần tích cực vào việc đáp ứng nhu cầu về vốn nền
kinh tế.
II. Những thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành và phát
triển thị trờng chứng khoán
1. Thuận lợi.
Thứ nhất, nớc ta có một hệ thống chính trị ổn định. Thu nhập của dân c
gần đây đợc cải thiện rõ rệt. Uy tín của Đảng, Nhà nớc đối với nhân dân ngày
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
càng cao. Đây là tiền đề vững chắc mà mọi nền kinh tế đều cần đến thể hiện
thông qua mối liên hệ biên chứng giữa chính trị và kinh tế.
Thứ hai, nền kinh tế nớc ta đã thoát ra khỏi khủng hoảng, tăng trởng cao và
liên tục trong những năm gần đây. Đây là tiền đề quan trọng cho các DN làm ăn
có hiệu quả và có đủ điều kiện tham gia niêm yết chứng khoán. Mức tăng trởng
cao sẽ góp phần tăng mức tiết kiệm, đầu t trên cơ sở đó tăng mức cầu về chứng
khoán trên thị trờng.
Thứ ba, Đảng và Chính phủ ta đã có tầm nhìn đúng đắn và quan tâm thoả
đáng về thị trờng chứng khoán. Nh đa ra chính sách đa dạng hoá các hình thức sở
hữu, cải cách hệ thống tài chính, cải cách Ngân hàng, cải cách hệ thống các
DNNN. Cụ thể ngày 28/11/1996 Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc đợc ra đời và đến
ngày 20/7/2000 thị trờng chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động.
Thứ t, đối với lĩnh vực tài chính Ngân hàng, trong những năm cải cách và
đổi mới đã cho ra đời khá nhiều NHTM, các tổ chức Bảo hiểm và các định chế tài
chính khác. Đây là các nhân tố và điều kiện quan trọng đối với sự phát triển của
thị trờng tài chính nói chung và đối với sự phát triển của thị trờng chứng khoán
nói riêng.
Thứ năm, hệ thống pháp luật của nớc ta không ngừng đợc bổ sung và ngày
càng hoàn thiện. Điều này đã tạo ra môi trờng pháp lý ngày càng thuận lợi cho thị
trờng chứng khoán Việt Nam. Các văn bản pháp luật quan trọng là: Nghị quyết
số 75/CP ngày 28/11/1996 về việc thành lập Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc và
Nghị định số: 48/1998 NĐ-CP ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trờng
chứng khoán Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng và căn bản đối với quá
trình xây dựng và phát triển thị trờng chứng khoán ở nớc ta.
Thứ sáu, chế độ kế toán DN mới đợc sửa đổi và ban hành, áp dụng gần gũi
hơn đối với các chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó hệ thống kiểm toán, kể cả kiểm
toán Nhà nớc, phi Nhà nớc, kiểm toán nớc ngoài đã đợc hình thành và phát triển.
Đây cũng là những mắt xích, đầu mối quan trọngkhông thể thiếu đợc trong quá
trình hình thành và phát triển chứng khoán và thị trờng chứng khoán.
Thứ bảy, hệ thống thông tin liên lạc, truyền thông ở nớc ta đang trên đà
phát triển mạnh. Chiến lợc tăng tốc độ Bu điện là điều kiện hỗ trợ quan trọng để
hình thành và phát triển thị trờng chứng khoán. Có thể nói, trình độ và năng lực
của ngành tin học Việt Nam đã đủ khả năng tham gia vào tham gia vào việc xây
dựng các chơng trình của hệ thống giao dịch điện tử thị trờng chứng khoán.
Cuối cùng, một yếu tố thuận lợi khác quan trọng đó là Việt Nam là nớc
phát triển sau nên có thể tranh thủ học hỏi kinh nghiệm các nớc đi trớc. Nhờ
chính sách kinh tế mở cửa, hội nhập với bên ngoài, làm cho quan hệ kinh tế trong
nớc cũng nh quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng thu đợc những kết quả rất đáng
khích lệ. Bên cạnh đó, cũng có sự giúp đỡ nhiệt tình và hiệu quả của các quốc

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét