khách du lịch còn tiêu dùng những dịch vụ bổ sung nhằm làm phong phú cho
chuyến đi và gây hứng thú cho họ. Vì vậy để đáp ứng những nhu cầu cần phải
xây dựng một hệ thống đồng bộ các công tình, cơ sở phục vụ, các trang thiết
bị có chất lợng cao. Phải đầu t khách sạn ngay từ đầu để khách sạn không lạc
hậu theo thời gian, thoả mãn đợc nhu cầu của khách. Làm đợc điều đó thì
khách sạn phải đầu t một dung lợng vốn lớn.
Ngoài lợng vốn trên, khách sạn còn cần một lợng vốn cho chi phí tiền
đất, giải phóng mặt bằng, chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, cấp thoát nớc, bu
chính viễn thông, đờng xá, khắc phục tính thời vụ (đối với các khách sạn có
tính thời vụ), rồi vốn để duy trì hoạt động ban đầu cho tới khi thu đợc lãi
Đầu t cơ bản thuộc chi phí cố định gồm sửa chữa lớn, sửa chữa nhỏ. Tỷ
trọng chi phí cơ bản cao. Chi phí biến đổi trong một đêm không lớn nhng chi
phí cố định ở mọi lúc, mọi nơi nó chịu sức ép của cạnh tranh. Vì điều kiện vật
chất tham gia vào quá trình kinh doanh không đợc sai sót mà nó phải tuyệt vời
ngay từ đầu.
Vậy kinh doanh khách sạn đòi hỏi chi phí đầu t cơ bản liên tục do đây là
loại chi phí cho chất lợng. Ngành kinh doanh khách sạn phải làm cho cái áo
luôn luôn hợp mốt trong mọi trờng hợp.
- Hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lợng lao động trực tiếp t-
ơng đối cao.
Do nhu cầu của con ngời rất phong phú, đa dạng và có tính cao cấp, hay
nói một cách khác sản phẩm khách sạn không có tính khuôn mẫu. Cho nên
không thể dùng ngời máy để thay thế con ngời đợc mà phải sử dụng chính
con ngời để thoả mãn tối đa nhu cầu của khách và mức độ phục vụ phải cao.
Mà dịch vụ thì chủ yếu dùng lao động sống đó là con ngời. DO yêu cầu cao
cấp của khách cho nên các nhà kinh doanh khách sạn phải nâng cao chất lợng
sản phẩm đặc biệt là thái độ của nhân viên phục vụ. Vì sự thoả mãn bằng sự
cảm nhận, sự mong chờ. Hay ta có công thức tơng đơng:
S = P - E
Trong đó E là một đại lợng tơng đối ổn định chịu ảnh hởng của nhân tố
khách quan và chỉ phụ thuộc vào nhân tố chủ quan. Vậy muốn tăng S thì phải
đẩy P lên. Mà P là sự cảm nhận. Đó là sự cảm nhận bằng cơ quan giác quan
5
của khách khi bắt đầu đến khách sạn. Muốn tăng P thì các nhà kinh doanh
khách sạn tập trung vào 2 yếu tố: con ngời và cơ sở vật chất kỹ thuật. Cho nên
con ngời là một trong những nhân tố để nâng cao chất lợng sản phẩm cụ thể
là thái độ phục vụ của nhân viên trong quá trình kể từ khi khách đến khách
sạn cho đến khi khách rời khỏi khách sạn. Để thoả mãn nhu cầu của khách du
lịch thì cần có sự chuyên môn hoá trong phân công lao động dẫn đến đòi hỏi
nhiều lao động trực tiếp hơn. Hơn nữa thời gian kinh doanh phụ thuộc vào
tiêu dùng của khách do đó lao động phải làm việc 24/24 giờ tạo thành những
ca kíp làm việc và do thiên hớng là nâng cao tính đa dạng của sản phẩm nên
có xu hớng số lao động ngày càng tăng.
- Hoạt động kinh doanh khách sạn chịu sự tác động của tính quy luật.
Do khách sạn xây dựng thờng gắn với tài nguyên du lịch, mà tài nguyên
du lịch phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu nên việc kinh doanh diễn ra theo mùa.
Ví dụ đối với khách sạn xây dựng ở vùng ven biển thì công việc kinh doanh
diễn ra chủ yếu vào mùa hè. Do quy luật tâm sinh lý của con ngời nh: ăn ngủ
chỉ diễn ra ở một số thời điểm trong ngày, do đó yêu cầu về các dịch vụ cũng
diễn ra ở một số thời điểm do đó yêu cầu các nhà quản lý phải chấp nhận quy
luật mà có cách đối ứng cho phù hợp.
2. Đặc điểm lao động trong kinh doanh khách sạn.
2.1. Đặc điểm của bản thân lao động trong kinh doanh khách sạn.
- Lao động trong khách sạn thờng là quá trình sử dụng lao động thủ
công, chủ yếu là lao động chân tay, trực tiếp phục vụ khách. Các khâu trong
quá trình phục vụ rất khó áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nh cơ giới
hoá, tự động hoá. Nói nh vậy, có nghĩa là ngoài lao động sản xuất chế biến
món ăn là lao động sản xuất vật chất, lao động sản xuất trong khách sạn chủ
yếu là thực hiện các dịch vụ. Các dịch vụ này đợc tạo ra nhằm thoả mãn nhu
cầu thiết yếu cũng nh nhu cầu đặc trng của khách du lịch. Đặc trng của dịch
vụ đợc biểu hiện rõ nét ở sản phẩm lao động trong khách sạn. Để đánh giá
chất lợng phục vụ còn phụ thuộc vào ngời tiêu dùng.
Sản phẩm dới dạng dịch vụ không phải là sản phẩm đợc thiết kế từ trớc
và không có tính lặp lại. Do đó khó khăn trong đánh giá kết quả làm việc, ng-
ời ta không thể đếm đợc số lợng khách hàng trong một ca làm việc của một
6
nhân viên để đánh giá mà phải xem trong số khách hàng mà nhân viên phục
vụ có bao nhiêu ngời hài lòng.
- Lao động trong khách sạn đòi hỏi độ chuyên môn hoá tơng đối cao.
Tính chuyên môn hoá hiểu theo cách 1: Đó là tính chuyên môn hoá theo các
bộ phận. Trong khách sạn có nhiều bộ phận mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm
vụ khác nhau. Cho nên khi tuyển dụng nhân viên phải theo chuyên ngành và
đợc đào tạo chuyên sâu. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc thay thế lẫn
nhau giữa các nhân viên trong các bộ phận. Vậy có nghĩa là định mức lao
động trong khách sạn cao.
Do vấn đề chủ quan khác mà gây ra thiếu hụt đột xuất của khách sạn.
Mà các nhà kinh doanh khách sạn mong muốn chi phí lao động giảm. Vậy
khách sạn cần đảm bảo một số lợng nhân viên hợp lý và có khả năng lấp chỗ
trống khi khách sạn hoạt động vào thời điểm đông khách.
+ Tính chuyên môn hoá theo cách 2: Theo thao tác kỹ thuật: Tức là ngời
ta có xu hớng chuyên môn hoá theo cung đoạn phục vụ. Vì muốn chất lợng
phục vụ cao thì khả năng mắc lỗi phải giảm. Cho nên ngời nhân viên phải làm
quen với một công việc. Điều này gây khó khăn cho nhà kinh doanh khách
sạn khi mà nhân viên cứ phải làm 1 công việc sẽ rất nhàm chán.
Khi tính chuyên môn hoá càng cao thì định mức lao động càng cao. Điều
này ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh. Muốn tăng hiệu quả kinh doanh thì
giảm chi phí lao động.
- Thời gian lao động trong khách sạn phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng
của khách.
Thời gian làm việc trong khách sạn thờng tơng ứng với việc đến và đi
của khách. Khách sạn dờng nh làm việc 365 ngày trên 1 năm, 24h trên 1 ngày
và không có thời gian đóng cửa. Đặc điểm này gây khó khăn trong quản trị
nhân sự: đòi hỏi ngốn lợng lao động lớn cho nên khó khăn trong công tác
phân công lao động, ảnh hởng tới việc tính lơng, giờ công một cách chính
xác, công bằng. Ngoài ra còn ảnh hởng trực tiếp đến đời sống riêng của ngời
lao động khiến họ không có điều kiện tham gia nhiều vào các hoạt động xã
hội. Do đó, khách sạn phải có chế độ lơng thởng hợp lý để đảm bảo quyền lợi
cho ngời lao động, giúp họ hoàn thành tốt công việc đợc giao.
7
- Cờng độ lao động cao đồng thời phải chịu môi trờng tâm lý phức tạp.
Đại đa số lao động trong khách sạn đều có quan hệ trực tiếp với khách,
từ lễ tân cho đến các bộ phận buồng, bàn, bar, họ phải thờng xuyên tiếp xúc
với nhiều đối tợng khách với các đặc điểm khác nhau về dân tộc, sở thích, cơ
cấu xã hội (giới tính, tuổi, vị trí xã hội), nhận thức phong tục tập quán và lối
sống. Khi tiếp xúc với nhiều dạng khách khác nhau, khách khó tính cũng có,
khách dễ tính cũng có, hơn nữa không phải lúc nào ngời lao động cũng ở
trong trạng thái thoải mái. Do vậy để phục vụ đạt chất lợng cao ngời lao động
phải có sức chịu đựng về tâm lý để luôn làm vừa lòng khách. Ngoài ra ở một
số nghiệp vụ điều kiện lao động tơng đối khó khăn họ phải làm việc trong
những môi trờng cám dỗ về mặt vật chất và có khả năng mắc bệnh truyền
nhiễm vao ví dụ nh massage, tắm hơi. Tính phức tạp đó đòi hỏi ngời lao động
phải rèn luyện phẩm chất tâm lý xã hội cần thiết và có lòng yêu nghề để điều
chỉnh tình cảm của mình trong quá trình phục vụ khách. Nhận thức đợc điều
này các nhà quản lý cần có chính sách u đãi về lơng thởng đối với những ngời
lao động làm việc trong môi trờng lao động phức tạp để giúp họ yên tâm làm
việc.
Tóm lại yêu cầu của khách đối với các dịch vụ khách sạn cũng rất khác
nhau. Do vậy đòi hỏi khách sạn phải nghiên cứu nắm bắt đợc yêu cầu của
khách để làm thoả mãn tối đa nhu cầu của họ. Nếu không coi trọng vấn đề
này sẽ dẫn tới việc sử dụng lãng phí sức lao động và cơ sở vật chất kỹ thuật,
giảm sút chất lợng phục vụ và cũng chính là nguyên nhân làm giảm hiệu quả
kinh doanh.
2.2. Đặc điểm về cơ cấu lao động trong khách sạn.
Cơ cấu lao động trong khách sạn là tập hợp những nhóm xã hội của ngời
lao động trong tập thể cũng nh các mối quan hệ giữa các nhóm đó. Có hai loại
cơ cấu cơ bản trong tập thể ngời lao động, đó là:
Cơ cấu dân c
Cơ cấu về trình độ nghiệp vụ.
- Đặc điểm về cơ cấu dân c: Cơ cấu dân c là tập hợp nhóm ngời lao động
theo tuổi tác, giới tính, dân tộc và thành phần xã hội.
8
+ Cơ cấu lao động theo độ tuổi: Trong khách sạn độ tuổi trung bình của
ngời lao động tơng đối thấp. Lao động nữ thờng ở tầm tuổi từ 20-30 tuổi, tập
trung chủ yếu ở các bộ phận lễ tân, bàn, bar. Nam giới ở độ tuổi 20-40 tuổi th-
ờng đợc bố trí ở các bộ phận lái xe, bảo vệ, bếp. Tuy nhiên độ tuổi lao động
còn phụ thuộc vào từng nghiệp vụ và từng chức vụ lao động có độ tuổi trung
bình cao thờng đợc bố trí ở bộ phận quản lý vì có sự đòi hỏi nhiều kinh
nghiệm trong nghề, còn ở những khu vực cần giao tiếp trực tiếp với khách ng-
ời ta sử dụng lao động có độ tuổi tơng đối thấp. Tuy nhiên khi lựa chọn lao
động ngời ta thờng tuyển chọn lao động có độ tuổi khá chênh lệch để có khả
năng xếp xen kẽ trong quá trình làm việc chẳng hạn những ngời có kinh
nghiệm lâu năm trong nghề khi làm việc với những ngời trẻ tuổi sẽ truyền đạt
kinh nghiệm cho những ngời trẻ.
+ Cơ cấu lao động theo giới tính: Trong kinh doanh khách sạn lao động
nữ thờng chiếm tỷ lệ cao hơn lao động nam nhng xu hớng hiện nay việc tuyển
có chiều hớng ngợc lại.
Cũng nh cơ cấu lao động về độ tuổi, cơ cấu giới tính của lao động trong
khách sạn cũng thay đổi theo từng nghiệp vụ và từng chức vụ. ở bộ phận
ngoại cảnh thì thờng 100% là nữ, ở tổ bảo vệ, bảo dỡng thì thờng 100% là
nam. Nói chung tuỳ theo tính chất kinh doanh của khách sạn mà có sự phân
chia lao động theo giới tính khác nhau. Xu hớng cơ cấu lao động hiện nay
cũng có nhiều thay đổi là sự trẻ hoá lực lợng lao động trong khách sạn, cũng
nh trình độ văn hoá và ngoại ngữ ngày càng đợc nâng cao. - Cơ cấu về trình
độ nghiệp vụ: là tập hợp những nhóm ngời lao động theo trình độ nghiệp vụ,
theo nghề nghiệp, theo thâm niên công tác. Xuất phát từ nhu cầu của khách
du lịch, kinh doanh khách sạn sử dụng nhiều ngành nghề, do đó mà cơ cấu
nghiệp vụ trong khách sạn có thể chia thành 2 nhóm:
+ Nghiệp vụ đặc trng cho hoạt động kinh doanh khách sạn và du lịch nh
lễ tân, buồng, bàn, bếp, bar.
+ Nghiệp vụ chuyên môn của một số ngành khác có liên quan đến hoạt
động kinh doanh du lịch: kế toán, ngân hàng, bu điện, bác sĩ và một số ngành
nghề chuyên môn kỹ thuật: lái xe, sửa chữa điện nớc. So với các hoạt động
kinh doanh khác, cơ cấu xã hội theo trình độ nghiệp vụ trong kinh doanh
khách sạn có một số nét cơ bản.
9
Trong kinh doanh khách sạn có hai nhóm xã hội lớn nhất đó là trí thức
và công nhân, trong đó công nhân chiếm tỷ trọng lớn hơn.
Trình độ văn hoá của ngời lao động trong khách sạn không đòi hỏi cao
lắm vì khách sạn sử dụng nhiều lao động chân tay là chủ yếu. Lao động có
trình độ đại học thờng bố trí ở bộ phận lễ tân và quản lý.
Riêng về trình độ nghiệp vụ luôn đòi hỏi ngời lao động ở mức độ thuần
thục có phong cách ứng xử và giao tiếp tốt.
Tóm lại, nghiên cứu kỹ những đặc điểm này sẽ cho phép khách sạn xây
dựng đợc cơ cấu lao động hợp lý trong toàn bộ hoạt động kinh doanh cũng
nh trong toàn khâu, từng bộ phận và đó cũng là điều kiện tiền đề cho công tác
quản lý và sử dụng lao động đạt hiệu quả cao.
2.3. Đặc điểm của quá trình tổ chức và quản lý.
- Tính chu kỳ
Tính chu kỳ của quá trình tổ chức và quản lý lao động thể hiện ở chỗ là
việc phân công bố trí lao động không phải lúc nào cũng nh nhau, mà nó thờng
diễn ra ở một số thời điểm du lịch khi đó khách sạn sẽ phải tuyển thêm nhân
viên hoặc cũng có thể cho nhân viên nghỉ việc nếu đó không phải là thời vụ
du lịch, điều này đặc biệt thấy rõ ở những khách sạn ven biển. Hơn nữa tính
thời vụ còn bị ảnh hởng tâm lý của con ngời đó là con ngời ta chỉ có thể ăn,
ngủ, vui, chơi giải trí ở một số thời điểm trong ngày, tháng, năm do đó việc
quản lý lao động phải hết sức đợc chú trọng và đáng quan tâm.
- Tính luân chuyển:
Tính luân chuyển lao động trong khách sạn thể hiện ở chỗ, một nhân
viên đợc tuyển vào một bộ phận nào đó và sau một số năm công tác, hay ứng
với một số tuổi nhất định thì họ sẽ phải chuyển sang bộ phận khác. Ví dụ nh
một nhân viên làm ở bàn, bếp đến một độ tuổi nào đó (30 tuổi trở lên) thì họ
sẽ chuyển làm nhân viên buồng hoặc bếp. Tuy nhiên, ứng với mỗi lần luân
chuyển nh vậy họ phải đợc đào tạo nghiệp vụ một cách khoa học để có thể
đảm bảo đợc chất lợng sản phẩm.
10
3. Phân loại lao động trong khách sạn.
Nh ta đã biết xuất phát điểm để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động là
chi phí và kết quả lao động. Qua nghiên cứu đặc điểm lao động ở khách sạn ta
thấy đợc với từng bộ phận, từng hoạt động kinh doanh cụ thể thì các chi phí
lao động bỏ ra và kết quả đạt đợc là khác nhau.
Vậy để có biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động chung ở khách
sạn, ta phải nâng cao hiệu quả sử dụng lao động ở từng bộ phận. Các bộ phận
này đợc phân chia theo các tiêu thức sau:
- Căn cứ vào hoạt động kinh doanh, lao động trong khách sạn đợc phân
chia thành các bộ phận.
+ Lao động thực hiện hoạt động kinh doanh lu trú: bao gồm các lao
động thực hiện các dịch vụ về lu trú.
+ Lao động thực hiện các hoạt động kinh doanh ăn uống: bao gồm lao
động ở các bộ phận bếp, bàn, bar
+ Lao động thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ khác bao gồm
massage, karaoke
- Căn cứ vào mức độ tác động vào quá trình kinh doanh của khách sạn. +
Lao động gián tiếp: Gồm những lao động hỗ trợ cho quá trình sản xuất kinh
doanh nh cán bộ quản lý: ban giám đốc nhân viên hành chính, thống kê, tài
vụ, kế hoạch kế toán
+ Lao động trực tiếp: gồm những lao động thuộc bộ phận nghiệp vụ
trong khách sạn, bao gồm lao động trong các tổ.
Tổ lễ tân: bao gồm nhân viên tiếp tân, nhân viên quản lý hành lý, nhân
viên chỉ dẫn
Tổ buồng: nhân viên phục vụ phòng
Tổ bàn: nhân viên phục vụ bàn
Tổ chế biến: nhân viên chế biến món ăn, giải khát
Tổ sửa chữa: nhân viên điện nớc
Tổ dịch vụ: nhân viên phục vụ các dịch vụ khác
- Căn cứ vào yêu cầu của công tác quản lý lao động trong khách sạn.
11
+ Lao động trong biên chế
+ Lao động ngoài biên chế.
4. Hiệu quả sử dụng lao động trong kinh doanh khách sạn.
4.1. Khái niệm:
Hiệu quả sử dụng lao động là một chỉ tiêu chất lợng quan trọng trong
hoạt động kinh tế của mọi ngành kinh tế quốc dân nói chung và ngành kinh
doanh khách sạn nói riêng. Nó phản ánh kết quả và trình độ sử dụng lao động
của từng đơn vị, qua đó mà thấy đợc hiệu quả lao động chung của từng ngành
và của toàn xã hội.
Hiệu quả sử dụng lao động đợc hiểu là chỉ tiêu biểu hiện trình độ sử
dụng lao động thông qua quan hệ so sánh giữa kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh với chi phí lao động để đạt đợc kết quả đó chỉ tiêu nay có thể đợc
mô tả bằng công thức sau:
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
H =
Trong đó: H là hiệu quả sử dụng lao động.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh biểu hiện ở các chỉ tiêu về số l-
ợng sản phẩm, mức doanh thu, lợi nhuận.
Chi phí lao động biểu hiện ở thời gian lao động, tiền lơng
Vậy bản chất của việc sử dụng lao động có hiệu quả trong kinh doanh
khách sạn là cùng với một chi phí lao động bỏ ra làm sao tạo ra đợc nhiều lợi
nhuận tăng doanh thu và đảm bảo đợc chất lợng phục vụ. Hay nói một cách
khác là phải tiết kiệm và mọi sự tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm thời gian.
Thời gian lao động ở đây không chỉ là thời gian lao động trong doanh nghiệp
mà còn tiết kiệm thời gian lao động cho toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả lao
động trong ngành kinh doanh khách sạn, không thể phục vụ kém ngời tiêu
dùng không để khách mất nhiều thời gian chờ đợi với ý nghĩa toàn bộ nền
kinh tế quốc dân, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động trong ngành phải đảm
bảo tiết kiệm chi phí tiêu dùng của khách, tiết kiệm thời gian cho ngời tiêu
dùng phải phù hợp với lợi ích của xã hội, nhng cũng phải đảm bảo lợi ích cho
doanh nghiệp tức là doanh thu phải bù đắp chi phí và doanh nghiệp có lãi.
12
Mâu thuẫn này thể hiện một cách khách quan, đòi hỏi phải có phơng hớng
giải quyết nhất là trong cơ chế thị trờng hiện nay.
4.2. Các chỉ tiêu cụ thể đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
* Yêu cầu đối với các chỉ tiêu:
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng trong mỗi doanh nghiệp là cần thiết, thông
qua chỉ tiêu về hiệu quả lao động của doanh nghiệp mình so sánh với kỳ trớc,
so sánh với các doanh nghiệp khác trong ngành các doanh nghiệp trong cùng
địa bàn, để thấy rõ việc sử dụng lao động của doanh nghiệp mình đã tốt hay
cha, từ đó phát huy những điểm mạnh khắc phục những điểm yếu trong việc
tổ chức, quản lý và sử dụng lao động để đạt đợc hiệu quả sử dụng lao động
cao hơn. Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong từng doanh nghiệp không
thể nói một cách chung chung mà phải thông qua một hệ thống các chỉ tiêu
đánh giá năng suất lao động bình quân, lợi nhuận bình quân trên một nhân
viên, hiệu quả sử dụng thời gian lao động ngoài các chỉ tiêu trên, dựa trên cơ
sở chi phí lao động ta còn có hiệu quả sử dụng lao động qua các chỉ tiêu
doanh thu trên 1000đ tiền lơng, lợi nhuận thu đợc trên 1000 đ tiền lơng. Tuy
nhiên các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động phải đảm bảo các yêu
cầu sau:
+ Các chỉ tiêu phải đợc hình thành trên cơ sở nguyên tắc chung của
phạm trù hiệu quả kinh tế. Nó phải phản ánh đợc tình hình sử dụng lao động
sống thông qua quan hệ so sánh về kết quả kinh doanh với chi phí về lao động
sống.
+ Các chỉ tiêu phải cho phép đánh giá một cách chung nhất toàn diện
nhất, bao quát nhất, hiệu quả sử dụng lao động trong khách sạn. Vì vậy phải
có chỉ tiêu tổng hợp trong hệ thống. Mặt khác nhằm đánh giá một cách cụ thể
hơn sâu sắc hơn đòi hỏi trong hệ thống chỉ tiêu phải có các chỉ tiêu bộ phận
qua những chỉ tiêu này có thể đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trên từng
bộ phận. Từ đó rút ra đợc những biện pháp đúng đắn để nâng cao hiệu quả sử
dụng lao động ở toàn doanh nghiệp.
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải có mối quan hệ khăng khít để thông qua hệ
thống chỉ tiêu đó, doanh nghiệp có thể rút ra những kết luận đúng đắn về tình
hình sử dụng lao động.
13
+ Hệ thống các chỉ tiêu này phải thống nhất với nhau để đảm bảo tính
chất so sánh đợc hiệu quả sử dụng lao động giữa các bộ phận trong một doanh
nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp trong ngành với nhau.
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động.
- Các chỉ tiêu đánh giá chung.
+ Chỉ tiêu về năng suất lao động (W)
W = (1)
Trong đó: W: Năng suất lao động
TR: Tổng doanh thu
T: Tổng số lao động
Năng suất lao động bình quân là một chỉ tiêu tổng hợp, cho phép đánh
giá một cách chung nhất của hiệu quả sử dụng lao động của toàn bộ doanh
nghiệp. Qua năng suất lao động bình quân ta có thể so sánh giữa các kỳ kinh
doanh với nhau.
Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân cho ta thấy, trong một thời gian
nhất định (tháng, quý, năm) thì trung bình một lao động tạo ra doanh thu là
bao nhiêu.
+ Chỉ tiêu về lợi nhuận bình quân (N):
N = (2)
Trong đó: N: Lợi nhuận bình quân 1 lao động
LN: Tổng lợi nhuận
T: Tổng số lao động
Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động ở
khách sạn, nó cho ta thấy một lao động của doanh nghiệp tạo ra đợc bao nhiêu
đồng lợi nhuận (tháng, quý, năm) nó phản ánh mức độ cống hiến của mỗi ng-
ời lao động trong doanh nghiệp trong việc tạo ra lợi nhuận để tích luỹ tái sản
xuất mở rộng trong đơn vị và đóng góp vào ngân sách nhà nớc. Chỉ tiêu này
có thể tính cho toàn bộ doanh nghiệp hoặc là từng bộ phận để có thể đánh
giá, so sánh hiệu quả sử dụng lao động ở từng bộ phận, từ đó có biện pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng lao động ở từng bộ phận.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét