Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Thực trạng văn hoá doanh nghiệp ở nước ta

PHỤ LỤC
Lời mở đầu Trang 2
Chương 1: Văn hoá Doanh nghiệp Trang 3
1.1 Khái niệm văn hoá doanh nghiệp Trang 3
1.2 Vai trò văn hoá doanh nghiệp Trang 6
Chương 2: Thực trạng văn hoá doanh nghiệp ở nước ta Trang 8
Chương 3: Xây dựng văn hoá doanh nghiệp mạnh Trang
12
Kết luận Trang 18
Tài liệu tham khảo Trang 19
LỜI NÓI ĐẦU
Các doanh nghiệp nước ta đang phải đối mặt với khá nhiều thách
thức trong thời kỳ hội nhập, phải hoạt động năng động hơn, hiệu quả hơn để
1
dành vị trí cao trong thị trường trong nước và ngoài nước. Đièu này đũi hỏi
chỳng ta phải tạo ra một cuộc cỏch mạng trong quản lý, tạo ra một thay đổi
lớn và toàn diện để đáp ứng với xu thế của thời đại. Phát triển nhưng phải như
thế nào cho đúng đúng luật pháp, như thế nào cho bền vững để không chỉ làm
giàu cho doanh nghiệp mà còn góp phần làm giàu cho xà hội, nâng cao đời sống
vật chất, đời sống tinh thần cho người lao động, tất cả điều đố đều cần đến văn
hoá doanh nghiệp.
Văn hoá doanh nghiệp chính là tài sản vô hỡnh của mỗi doanh nghiệp.
Cựng với sự phỏt triển của nền kinh tế thị trường thỡ việc xõy dựng văn hoá
doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết nhưng cũng không ít khó
khăn.
Xây dựng và phát triển văn hoá doanh nghiệp có tác dụng rất quan
trọng trong việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp theo
yêu cầu phát triển kinh tế đất nước, cuả kinh tế quốc tế.
Từ thực tiễn đó bài viết này đề cập tới văn hoá doanh nghiệp và phát
huy văn hoá doanh nghiệp trong thể chế kinh tế thị trường ở nước ta hiện
nay.
CHƯƠNG 1: VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP
2
1.1 Khái niệm văn hoá doanh nghiệp:
Chưa bao bao giờ khái niệm văn hoá được đề cập nhiều trong học
thuật cũng như trong thực tế đời sống như hiện nay. Bởi vỡ, núi tới văn hoá
là nói tới ý thức, cỏi gốc tạo nờn 'tớnh người' cùng những gỡ thuộc về bản
chất nhất làm cho con người trở thành chủ thể năng động, sáng tạo trong
cuộc sống, trong lao động sản xuất. Nói tới văn hoá cũn là núi tới những
nguồn nội lực để con người có thể sáng tạo, xây dựng và cải tạo cuộc sống
của mỡnh theo định hướng vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ. Được
xem là nền tảng, là mục tiêu vừa là động lực làm cho sự phát triển của con
người và xó hội ngày càng thăng bằng và bền vững hơn, văn hoá có tác
dụng tích cực đối với sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như toàn bộ cộng
đồng.
Vậy văn hoá doanh nghiệp là gỡ? Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ
các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trỡnh tồn tại và phỏt
triển của một doanh nghiệp, trở thành cỏc giỏ trị, cỏc quan niệm và tập quỏn,
truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tỡnh
cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong
việc theo đuổi và thực hiện các mục đích. Hay văn hoá doanh nghiệp là toàn
bộ những giá trị tinh thần mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trỡnh sản xuất
kinh doanh tỏc động tới tỡnh cảm, lý trớ và hành vi của cỏc thành viờn cũng
như sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Văn hoá doanh nghiệp thể hiện thông qua các mối quan hệ sau đây:
− Quan hệ giữa các thành viên trong doanh nghiệp: Nó thể hiện rất rõ
thông qua nội qua và điều lệ hoạt động của Công ty, trong cách ứng xử,
giao tếp hàng ngày giữa các nhân viên với nhau: Thứ nhất đó là mối quan
hệ hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ, học hỏi và tôn trọng lẫn nhau giưa các đồng
nghiệp. Thứ hai, đó là sự tuân thủ nguyên tắc làm việc của từng thành
viên đối với công việc cùng như đối với cấp trên, đó là sự đối xử, đánh giá
một cách công bằng của cấp trên đối với cấp dưới Tất cả nhằm tạo nên
một môi trường làm việc lành mạnh, hiệu quả nhằm phát huy tối đa khả
3
năng cũng như khuyến khích được người lao động không nhừng vươn
lên.
− Quan hệ với xã hội: Bản thân từng doah nghiệp phải xác định rõ mình là
ai, mình được làm gì và mình phải có nghĩa vụ như thế nào trong xã hội.
Họ phải biết rằng luật pháp là chung và không có tính chất loại trừ bất kỳ
ai. Và quan hệ tốt với xã hội là môt trong những thành công lớn trong quá
trình kinh doanh. Do đó, thực hiện trách nhiệm công ích đối với xã hội
khoong chỉ là nghiã vụ mà còn là quyền lợi của mỗi doanh nghiệp.
− Quan hệ với đối tác: đó là sự hợp tác hai bên cùng có lợi, phải biết tôn
trọng lẫn nhau. Không nên vì quyền lợi của mình mà dẫm đạp lên quyền
lợi của người khác.
− Quan hệ với đối thủ: Dù mang tính chất cạnh tranh tuy nhiên chúng ta
phải biết thực hiện theo đúng nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh, không
dùng thủ đoạn để tiêu diệt lẫn nhau. Bên cạnh đó nhưng bản thân mỗi
doanh nghiệp phải biết mình là ai, đối thủ là ai để từ đó có những biện
pháp và chiến lược cạnh tranh cho phù hợp, không nên áp đặt theo kiểu
phải thắng và phải cạnh tranh bất kỳ lúc nào, bất kỳ lĩnh vực nào và bằng
bất kỳ giá nào mà phải biết lựa chọn. Bởi cạnh tranh không hợp lý không
những không thành công mà còn tự làm tổn thương chính mình. Và cạnh
trạnh lành mạnh là một nét đẹp rất rõ trong văn hoá doanh nghiệp.
Văn hoá doanh nghiệp thể hiện trên hai mặt: mục đích kinh doanh và
phương pháp kinh doanh, trong đó mục đích kinh doanh là quyết định.
Về mục đích kinh doanh, thường có hai điểm chung như sau:
- Đạt hiệu quả cao, tức là lợi nhuận tối đa cho cá nhân và cho cộng
đồng và hiệu quả xó hội. Điều cần phải coi trọng là mục đích lợi nhuận và
hiệu quả cỏ nhõn, vỡ đó là động lực trực tiếp của mỗi doanh nhân khi tiến
hành kinh doanh; nhưng cũng có trường hợp mục đích lợi nhuận và hiệu quả
cá nhân mâu thuẫn với mục đích và hiệu quả xó hội; muốn đảm bảo sự
thống nhất giữa mục đích cá nhân và mục đích cộng đồng thỡ cần phải xỏc
4
định đúng mức độ của từng mục đích và phương pháp để đạt cả hai phần
mục đích. Xác định cho đúng mức độ và phương pháp, đó chính là văn hoá
doanh nhân.
- Có tính nhân văn, thể hiện về hai mặt: đối với con người và đối với
thiên nhiên. Đối với con người (là quan trọng nhất ) đó là đáp ứng đến mức
cao nhất nhu cầu của con người; là tôn trọng phẩm giá, nhân cách con
người, loại trừ việc xây dựng sự giầu có của mỡnh trờn sự khỏnh kiệt của
người khác; cũng là không chơi xấu, dùng những thủ đoạn, mánh khoé, cạm
bóy để hại nhau trong kinh doanh. Đối với thiên nhiên, đó là gắn kinh doanh
với bảo vệ môi trường sinh thái, không làm ô nhiễm, huỷ hoại môi trường
cũng tức là bảo đảm sự bền vững của mỗi doanh nhiệp cũng như của toàn
bộ nền kinh tế.
Về phương pháp kinh doanh (phong cách kinh doanh) cũng tức là
doanh nghịêp đạt tới mục đích bằng con đường nào với những nguồn lực
nào. Tuy mục đích kinh doanh là nhân tốa quyết định nhưng phương pháp
kinh doanh lại liên quan chặt chẽ đối với việc thực hiện mục đích, có nghĩa là
không thể đạt mục đích băng bất cứ mục đích nào mà phải tuân theo những
nguyên tắc luật pháp và đạo đức trong khi thực hiện các phương pháp kinh
doanh, đó chính là văn hoá trong phương pháp kinh doanh của doanh
nghiệp.
Trong thực tế, có những điểm chung về phương pháp kinh doanh, đó
là:
- Tuân thủ pháp luật (kể cả pháp luật quốc gia, quốc tế cũng như điều
lệ, nội quy của từng doanh nghiệp); bảo đảm minh bạch, công khai trong kinh
doanh.
- Chỳ trọng khoa học quản lý, tuõn theo cỏc nguyờn lý quản lý khoa
học, dựa vào khoa học mà tổ chức bộ mỏy quản lý, thực hiện cỏc phương
pháp kinh doanh.
5
- Dựa vào vào khoa học, kỹ thuật, vận dụng công nghệ tiên tiến trong
điều hành sản xuất kinh doanh.
- Chú trọng quan hệ con người (đây cũng là một khuynh hướng mới
của phương pháp kinh doanh hiện đại); phát huy năng lực xó hội (cũng cũn
gọi là vốn xó hội) bao gồm năm nhân tố: giới lónh đạo chính trị, quan chức
quản lý, trí thức, doanh nhân, và người lao động; quan trọng nhất là khơi dậy
và phát huy tổng hợp các tiềm năng, thực hiện sự cố kết của các nhân tố đó
vỡ mục tiờu chung.
Có thể coi đó là những điểm chung nhất của văn hoá doanh nghiệp.
Những điểm chung đó được vận dụng cụ thể trong từng thời kỳ nhất định,
chịu ảnh hưởng của chế độ sở hữu , hệ thống thể chế (trong đó chủ yếu là
thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế hành chính, thể chế văn hoá) của
từng nước mà có những thay đổi theo những chiều hướng khác nhau. Điều
quan trọng cần nhấn mạnh là mục đích kinh doanh quyết định phương pháp
kinh doanh; mục đích kinh doanh nói lên tầm vóc cao, thấp của văn hoá
doanh nghiệp.
1.2 Vai trũ của văn hoá doanh nghiệp:
Văn hoá doanh nghiệp gắn với đặc điểm từng dân tộc, trong từng giai
đoạn phát triển cho đến từng doanh nhân, từng người lao động, do đó, rất
phong phú, đa dạng. Song văn hoá doanh nghiệp cũng không phải là vô
hỡnh, khú nhận biết mà rất hữu hỡnh, thể hiện rừ một cỏch vật chất, chẳng
những trong hành vi kinh doanh giao tiếp của cụng nhõn, cỏn bộ trong doanh
nghiệp, mà cả trong hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp, từ mẫu mà, kiểu
dáng đến nội dung và chất lượng. Văn hoá doanh nghiệp là cơ sở của toàn
bộ các chủ trương, biện pháp cụ thể trong sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, chi phối kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Sự thắng thế của bất
cứ một doanh nghiệp nào khụng phải ở chỗ là cú bao nhiờu vốn và sử dụng
cụng nghệ gỡ mà nú được quyết định bởi việc tổ chức những con người như
thế nào. Con người ta có thể đi lên từ tay không về vốn nhưng không bao giờ
từ tay không về văn hoá. Văn hoá chỉ có nền tảng chứ không có điểm mốc
6
đầu cuối. Do vậy, xuất phát điểm của doanh nghiệp có thể sẽ là rất cao nếu
như nó được xây dựng trên nền tảng văn hoá. Các doanh nghiệp khi xây
dựng đều phải có nhận thức và niềm tin triệt để, lúc đó văn hoá sẽ xuất hiện.
Mọi cải cỏch chỉ thực sự cú tớnh thuyết phục khi nú tỏch ra khỏi lợi ớch cỏ
nhõn, cũn văn hoá doanh nghiệp thỡ phải bảo vệ cho mọi quyền lợi và lợi
ớch của cỏ nhõn.
Văn hoá doanh nghiệp có vai trũ:
- Tạo ra nhận dạng riờng cho doanh nghiệp
- Truyền tải ý thức, giỏ trị của tổ chức tới cỏc thành viờn
- Văn hoá tạo nên một cam kết chung vỡ mục tiờu và giỏ trị của doanh
nghiệp.
- Văn hoá tạo nên sự ổn định của doanh nghiệp, là chất keo kết dính
các thành viên.
- Văn hoá tạo ra như một cơ chế khẳng định mục tiêu của doanh
nghiệp, hướng dẫn và uốn nắn những hành vi và ứng xử của các thành viên
trong doanh nghiệp.
Vậy nên, văn hoá doanh nghiệp có vị trí và vai trũ rất quan trọng trong
sự phỏt triển của mỗi doanh nghiệp. Nếu thiếu đi yếu tố văn hoá, ngôn ngữ,
tư liệu, thông tin nói chung được gọi là tri thức thỡ doanh nghiệp khú cú thể
đứng vững và tồn tại được. Trong khuynh hướng xó hội ngày nay thỡ cỏc
nguồn lực của một doanh nghiệp là con người mà văn hoá doanh nghiệp là
cái liên kết và nhân lên nhiều lần các giá trị của từng nguồn lực riêng lẻ. Do
vậy, có thể khẳng định văn hoá doanh nghiệp là tài sản vô hỡnh của mỗi
doanh nghiệp.
7
CHƯONG 2: THỰC TRẠNG VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC TA
Công cuộc đổi mới được khẳng định từ Đại hội toàn quốc lền thứ VI
của Đảng (12-1986) và thể chế kinh tế thị trường được công nhận đó mở ra
cho cỏc doanh nghiệp, doanh nhõn nước ta những điều kiện mới có ý nghĩa
quyết định để từng bước hỡnh thành văn hoá doanh nghiệp phù hợp với đặc
điểm kinh tế, xó hội ở nước ta, đó là văn hoá doanh nghiệp Việt Nam. Công
cuộc đổi mới đó đem lại sự giải phóng các lực lượng sản xuất, quyền tự do
kinh doanh của mọi công dân trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm.
Đó cũng là phát huy sức mạnh của toàn dân tộc cho công cuộc trấn hưng đất
nước; mọi người được tự do phát huy tài năng, trí tuệ trong kinh doanh, làm
giàu cho mỡnh và cho đất nước, như Đại hội IX của Đảng đó quyết định.
Chính công cuộc đổi mới đó mở đường cho sự ra đời và phát triển văn hoá
doanh nhân mới, mở đường cho sự hỡnh thành và phỏt triển văn hoá doanh
nghiệp Việt Nam.
Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam được hỡnh thành là một phần quan
trọng của văn hóa Việt Nam được lưu truyền và bồi đắp từ thế hệ này đến
thế hệ khác mà chúng ta cần gỡn giữ và bồi đắp tiếp trong giai đoạn công
nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Văn
hoá doanh nghiệp nước ta tiếp thu những nhân tố văn hoá trong kinh doanh
hỡnh thành qua nhiều năm của các nền kinh tế hàng hoá trên thế giới, đồng
thời tíêp thu và phát huy những tinh hoa văn hoá trong kinh doanh của cha
ông, vận dụng phù hợp với đặc điểm của xó hội ngày nay, đó là hiện đại hoá
truyền thống đi đôi với sự truyền thống hoá hiện đại. Chỉ có như vậy mới kết
hợp được tốt truyền thống và hiện đại, đó là sự kết hợp có chọn lọc và nâng
cao, từng bước hỡnh thành văn hoá doanh nghiệp mang đặc sắc Việt Nam.
8
Có thể nêu lên một số điểm nổi bật về văn hoá doanh nghiệp nước ta
trong giai đoạn hiện nay như sau:
Trước hết, từ công cuộc đổi mới được bắt đầu đến nay, ở nước ta đó
dần dần hỡnh thành mục đích kinh doanh mới, đó là kinh doanh vỡ lợi ớch
của mỗi doanh nghiệp và lợi ớch của cả dõn tộc. Đương nhiên, tranh thủ lợi
nhuận tối đa là động cơ thúc đẩy ý trí kinh doanh của các doanh nghiệp, của
mỗi doanh nhân, chúng ta cần đặc biệt quan tõm, khụng vỡ nhấn mạnh lợi
ớch chung mà coi nhẹ mục đích kinh doanh của mỗi cá nhân doanh nhân
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng mục đích kinh doanh của mỗi doanh
nhân ở nước ta hiện nay cũng rất đa dạng về tính chất, bởi vỡ lẽ sống của
con người là đa dạng, phong phú, nhiều màu vẻ, nhất là trong điều kiện nền
kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi, thể chế kinh tế cũng đang được
chuyển đổi từng bước. Qua các cuộc kiểm tra xó hội học, cú thể thấy một số
khuynh hướng nổi bật như: có những người chỉ mong kiếm được nhiều tiền;
cũng có người muốn qua kinh doanh mà, có danh tiếng lớn, uy tín và địa vị
xó hội cao; cú người muốn vươn lên, tiếp nỗi truyền thống gia đỡnh, bỏo
hiếu cha mẹ; lại cú những người kinh doanh vỡ khao khỏt tự hoàn thiện bản
thõn, cú ý chớ mạnh về sự phỏt triển tự do của con người trong chế độ xó
hội mới.
Hai là, văn hoá doanh nghiệp đũi hỏi gắn bú chặt chẽ hiệu quả kinh
doanh và tớnh nhõn văn trong kinh doanh; không thể đạt hiệu quả bằng bất
cứ giá nào mà coi nhẹ những giá trị nhân văn (tôn trọng con người, bảo vệ
môi trường). Điều đặc biệt quan trọng là nâng cao tinh thần cộng đồng dân
tộc trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, một đặc
điểm của văn hoá doanh nghiệp mà chúng ta cần xây dựng: chúng ta đề cao
ý chí tự lập, tự cường, sức vươn lên của mỗi doanh nghiệp, đồng thời huy
động tính cộng đồng, tính truyền thống "chị ngó, em nõng" của dõn tộc. Đồng
thời chúng, khuyến khích doanh nghiệp tham gia các hoạt động xó hội, như
xoá đói giảm nghèo, cứu trợ đồng bào gặp thiên tai, tham gia các hoạt động
từ thiện.v.v…
9
Điều cần nhấn mạnh hiện nay là khắc phục chủ nghĩa thực dụng, dùng
mọi thủ đoạn để đoạt lợi nhuận cao, thậm chí siêu lợi nhuận, bất kể việc làm
đó có hại cho người khác, các thủ đoạn làm giàu bất chấp tỡnh nghĩa, thậm
chớ làm giàu trờn sự đau khổ của đối tác, trên sự phá sản của những doanh
nghiệp yếu thế. Có thể thấy rừ nhược điểm về mặt này của doanh nghiệp
nước ta trong nhiều trường hợp như cạnh tranh bất hợp pháp, tranh giành thị
trường, đáng phê phán nhất là những thủ đoạn hạ giá, phá giá khi xuất khẩu
hàng hoá. Trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực hiện nay, khi cuộc cạnh
tranh về chất lượng và giá cả hàng hoá diễn ra gay gắt, chúng ta đề cao việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp lại càng phải đề cao
tính tập thể, truyền thống đoàn kết dân tộc trong kinh doanh.
Do vậy, cần đặc biệt phát huy vai trũ của cỏc hiệp hội doanh nghiệp.
Đó là những tổ chức xó hội – nghề nghiệp nhằm khai thỏc mọi nguồn lực của
xó hội, kể cả thu hỳt tài trợ từ bên ngoài, để phát triển các hoạt động trợ giúp
một cách trực tiếp, có hiệu quả thiết thực, khắc phục những yếu kém của
doanh nghiệp. Các hiệp hội doanh nghiệp có thể cung cấp nhiều loại dịch vụ
đa dạng cho hội viên (như cung cấp thông tin, tư vấn, đào tạo), cùng nhau
thương thảo giải quyết những vấn đề cụ thể mà tung doanh nghiệp riêng lẻ
không tự giải quyết được để bảo đảm lợi ích của mỗi ngành nghề, bảo đảm
văn hoá doanh nghiệp, khắc phục những khiếm khuyết của thị trường.
Đương nhiên, lợi ích của doanh nghiệp phải gắn bú hài hũa với lợi ớch của
cộng đồng, của toàn xó hội, khụng nờn chỉ đơn thuần coi trọng lợi ích của
doanh nghiệp cùng ngành nghề trở thành lợi ích phường hội. Đồng thời hiệp
hội doanh nghiệp cũng được tạo điều kiện để làm tốt vai trũ cầu nối giữa hội
viên với cơ quan của Chính phủ, đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
doanh nghiệp, nhất là trong việc tham gia soạn thảo các văn bản quy phạm
pháp luật liên quan đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ba là, hỡnh thành và phỏt huy văn hoá doanh nghiệp trước hết là phải
dựa vào con người. Đó là vỡ phỏt triển doanh nhõn khụng chỉ tăng vốn, tăng
lợi nhuận, tăng thu nhập cho người lao động mà cũn phải tạo ra mụi trường
văn hoá doanh nghiệp tiến bộ cũng tức là tạo ra một sức mạnh tổng thể cố
10
kết và cổ vũ người lao động trong doanh nghiệp lao động sáng tạo với niềm
tin, một lý tưởng cao đẹp. Văn hoá doanh nghiệp là lý tưởng và các nguyên
tắc chi phối hành động của doanh nghiệp cũng như của mỗi thành viên là hệ
giá trị tạo nên nguồn lực cho sự phát triển bền vững của một doanh nghiệp,
do vậy, càng cần thiết phát huy nhân tố con người trong doanh nghiệp.
Trỡnh độ nhân lực của ta hiện nay đang cũn thấp so với yờu cầu (kể cả
trỡnh độ của người lao động cũng như của người quản lý doanh nghiệp)
càng làm nổi bật ý nghĩa hết sức cấp bỏch của việc bồi dưỡng và phát huy
nhân tố con người trong khi xây dựng văn hoá doanh nghiệp.
Bốn là, văn hoá doanh nghiệp của từng doanh nghiệp Việt Nam có
những nét chung của văn hoá doanh nghiệp Việt Nam và những nét riờng
của từng doanh nghiệp. Những nột riờng ấy là của quý đặc sắc, là truyền
thống tốt đẹp, độc đáo của từng doanh nghiệp. Ví dụ, nét độc đáo của doanh
nghiệp A là rất nhó nhặn, chu đáo với khách hàng và đối tác, nét độc đáo của
doanh nghiệp B là nhiều sáng kiến vận dụng công nghệ cao, nét độc đáo,
của doanh nghiệp C là tận tỡnh bồi dưỡng, đào tào nguồn nhân lực và phát
triển con người.
Mỗi doanh nghiệp phải hỡnh thành được những nét chung của văn
hoá doanh nghiệp Việt Nam và tạo lập được một số nét riêng. Không trộn lẫn
dược của văn hoá doanh nghiệp mỡnh. Cú thể núi văn hoá doanh nghiệp là
cái nhón hiệu, cỏi "mỏc" vinh quang của doanh nghiệp, niềm tự hào của
doanh nghiệp (và cú thể của cả ngành, cả địa phương, cả đất nước) được
lưu truyền và bồi đắp từ thế hệ này sang thế hệ khác các công nhân và cán
bộ của doanh nghiệp. Chúng ta đang nhấn mạnh việc tạo dựng và bảo vệ
thương hiệu của doanh nghiệp; đó là vỡ thương hiệu là một bộ phận không
thể thiếu của văn hoá doanh nghiệp, thể hiện uy tín, vị thế của sản phẩm,
của doanh nghiệp, là tài sản được xây dựng, tích tụ một cách có ý thức trong
quỏ trỡnh phỏt triển của doanh nghiệp. Thương hiệu là niềm tự hào của
doanh nghiệp, tạo ra niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch
vụ mà doanh nghiệp cung ứng; trong quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay việc xõy dựng và bảo vệ thương hiệu càng có ý nghĩa cấp bỏch.
11
Nhỡn nhận một cỏch tổng quỏt, chỳng ta thấy văn hoá trong các cơ
quan và doanh nghiệp ở nước ta cũn cú những hạn chế nhất định: Đó là một
nền văn hoá được xây dựng trên nền tảng dân trí thấp và phức tạp do những
yếu tố khác ảnh hưởng tới; môi trường làm việc có nhiều bất cập dẫn tới có
cái nhỡn ngắn hạn; chưa có quan niệm đúng đắn về cạnh tranh và hợp tác,
làm việc chưa có tính chuyên nghiệp; cũn bị ảnh hưởng bởi các khuynh
hướng cực đoan của nền kinh tế bao cấp; chưa có sự giao thoa giữa các
quan điểm đào tạo cán bộ quản lý do nguồn gốc đào tạo; chưa có cơ chế
dùng người, có sự bất cập trong giáo dục đào tạo nên chất lượng chưa cao.
Mặt khác văn hoỏ doanh nghiệp cũn bị những yếu tố khỏc ảnh hưởng tới
như: Nền sản xuất nông nghiệp nghèo nàn và ảnh hưởng của tàn dư đế
quốc, phong kiến.
12
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP MẠNH
Cú thể thấy rừ: văn hoá doanh nghiệp bao gồm các yếu tố pháp luật
và đạo đức. Văn hoá doanh nghiệp không thể hỡnh thành một cỏch tự phỏt
mà phải được hỡnh thành thụng qua nhiều hoạt động của bản thân mỗi
doanh nghiệp, mỗi doanh nhân, của Nhà nước và các tổ chức xó hội. Thực
tiễn cho thấy hệ thống thể chế, đặc biệt là thể chế chính trị, thể chế kinh tế,
thể chế hành chính, thể chế văn hoá tác động rất sâu sắc đến việc hỡnh
thành và hoàn thiện văn hoá doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là nơi tập hợp, phát huy mọi nguồn lực con người, là
nơi làm gạch nối, nơi có thể tạo ra lực điều tiết, tác động (tích cực hay tiêu
cực) đối với tất cả các yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau cả ở tầng vĩ
mô lẫn vĩ mô nhằm góp phần hỡnh thành nờn một mụi trường sản xuất kinh
doanh phát triển theo một chiều hướng nào đó. Xây dựng nền văn hoỏ kinh
doanh vỡ vậy về thực chất chớnh là việc thực hiện cỏc điều kiện khách quan,
chủ quan trên cơ sở phát huy các nhân tố tích cực, tự giác nhằm đẩy nhanh
quá trỡnh văn hoá hoá trong toàn bộ mọi yếu tố cấu thành nền sản xuất kinh
doanh của đất nước, trước hết tập trung lấy phát triển văn hoá doanh nghiệp
làm điểm tựa đầu tiên. Trong điều kiện thực tế hiện nay, theo cách thức đó
chúng ta có thể tạo ra quá trỡnh tớch hợp và phỏt huy mạnh mẽ những giỏ
trị vốn cú trong nền văn hoá truyền thống của dân tộc kết hợp với các thành
tựu văn hoá thế giới, khoa học kỹ thuật công nghệ, về phương pháp, năng
lực tổ chức quản lý kinh tế - xó hội trong quỏ trỡnh đô thị hoá, công nghiệp
hoá - hiện đại hoá nhằm làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường ở nước ta sẽ ngày càng được trật tự, lành mạnh và đạt
hiệu quả cao hơn, hướng đến những mục tiêu kinh tế - xó hội toàn diện, bền
13
vững lõu dài của đất nước đồng thời vừa có thể đem lại những lợi ích thiết
thực ngay trước mắt cho các doanh nghiệp. Cụ thể hơn, xây dựng văn hoá
doanh nghiệp để góp phần vào chiến lược phát triển văn hoá kinh doanh Việt
Nam hiện nay không thể khác đó là việc nâng cao bản lĩnh, trỡnh độ đội ngũ
doanh nhân theo hướng ngày càng "chuyên nghiệp hoá" nhiều hơn, trước
hết ở cung cách, khả năng sử dụng tốt các phương tiện, các thành tựu khoa
học kỹ thuật trong lao động, tổ chức sản xuất, năn lực cạnh tranh và hội
nhập với thị trường nội địa và quốc tế, trong giao tiếp với khách hàng, tuyên
truyền quảng bá thương hiệu, giới thiệu và bán sản phẩm…Bên cạnh đó việc
nâng cao năng lực và điều kiện, biện pháp để chăm lo đội ngũ nhân viên cả
về đời sống văn hoá cá nhân lẫn đời sống văn hoá tập thể, không ngừng
tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cùng một nề nếp, kỷ cương hoạt động
theo phon cách công nghiệp, hiện đại dựa trên nền tảng phát huy tốt những
giá trị văn hoá truyền thống kết hợp xây dựng bản chất tiên tiến của giai cấp
công nhân cho mọi lực lượng lao động vỡ mục tiờu xõy dựng hệ thống
doanh nghiệp Việt Nam vững mạnh toàn diện cả về chuyên môn lẫn tư
tưởng, tổ chức .Tất cả đều là những công việc có ý nghĩa rất chiến lược.
Khi xây dựng văn hóa doanh nghiệp cần phải có những biện pháp cụ
thể. Trước hết là khơi dậy tinh thần kinh doanh trong nhân dân, khuyến khích
mọi người, mọi thành phần kinh tế cùng hăng hái tỡm cỏch làm giầu cho
mỡnh và cho đất nước. Xoá bỏ quan niệm cho kinh doanh là xấu, coi thường
thương mại, chỉ coi trọng quan chức, không coi trọng thậm chí đố kỵ doanh
nhân. Xoá bỏ tâm lý ỉ lại, dựa vào bao cấp của Nhà nước, đề cao những
nhõn tố mới trong kinh doanh, những ý tưởng sáng tạo, sáng kiến tăng năng
xuất lao động, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá. Tôn vinh những
doanh nhân năng động, sáng tạo, kinh doanh đạt hiệu quả cao, có ý chớ
vươn lên, làm rạng rỡ thương hiệu Việt Nam trên thị trường thế giới.
Trong thực tế, trải qua những năm đổi mới, bằng thể nghiệm của bản
thân cũng như của mỗi gia đỡnh, ngày nay, nhõn dõn ta đó thấy rừ việc
chuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung sang thể chế kinh tế thị trường là tất
yếu; thái độ của dân chúng đối với kinh tế thị trường là thái độ thiện cảm.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét