Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NHNo&PTNT – chi nhánh Láng Hạ Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp
khoa: Tài chính
- Vốn khác
Ngoài những nguồn huy động trên, NH còn tạo lập vốn từ các nguồn khác
như vốn ủy thác (ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, cấp phát, giải ngân, thu hộ…),
nguồn vốn trong thanh toán và các khoản phải trả khác. Những nguồn vốn này
đã góp phần qua trọng vào thị trường nguồn vốn của NH, giúp NH thực hiện các
nghiệp vụ và hoạt động kinh doanh dễ dàng hơn.
1.1.2. Các nghiệp vụ huy động vốn của NHTM
1.1.2.1 Huy động tiền gửi
a.Huy động tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là hình thức tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất
cứ lúc nào. Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi nào
gồm:
- Tiền gửi thanh toán: là các khoản tiền gửi không kỳ hạn, trước hết được
sử dụng để tiến hành thanh toán chi trả cho các hoạt động hàng hóa, dịch vụ và
các khoản phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn
và thuận lợi. Tiền gửi thanh toán thường được quản lý tại ngân hàng trên tài
khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai.
- Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy: là khoản tiền được ký gửi với mục
đích đảm bảo an toàn tài sản. Khi cần khách hàng có thể rút ra để chi tiêu. Cũng
giống như trường hợp trên, NH phải thỏa mãn yêu cầu của KH khi họ có nhu
cầu rút tiền và chỉ được phép sử dụng tài khoản khi đã đảm bảo khả năng thanh
toán, tri trả. Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt, để khuyến khích thanh
toán qua NH, các NHTM Việt Nam trả lãi cho loại tiền gửi này như tiền gửi
không kỳ hạn khác.
Đây là nguồn huy động có chi phí thấp tuy nhiên, việc sử dụng nguồn tiền
này gặp nhiều bất lợi do nó mang tính chất không ổn định, khách hàng có thể rút
ra bất cứ khi nào, điều này đặt NH trước rủi ro về thanh khoản. Do đó, muốn sử
SV: Trịnh Thị Phương Liên
MSSV: 08A10084N
3
Luận văn tốt nghiệp
khoa: Tài chính
dụng hiệu quả nguồn vốn này, NH phải tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc
điểm kinh doanh, thu nhập, nhu cầu chi tiêu…của khách hàng để có kế hoạch
khai thác hiệu quả nguồn vốn này trong từng thời kỳ.
b.Huy động tiền gửi có kỳ hạn
Đây là nguồn vốn ổn định, NH có thể sử dụng loại nguồn vốn này một
cách chủ động làm vốn kinh doanh. Vì vậy các NHTM luôn tìm cách đa dạng
hóa huy động loại tiền gửi này nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng.
c.Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là phần thu nhập của dân cư gửi vào NH với mục đích
tích lũy tiền một cách an toàn và hưởng một phần tiền lãi từ số tiền đó. Tiền gửi
tiết kiệm là một dạng đặc biệt để tích lũy tiền tệ trong lĩnh vực tiêu dùng cá
nhân. Trên thực tế, tiền gửi tiết kiệm được phát triển dưới hai hình thức:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đây là khoản tiền gửi tiết kiệm thông
thường. Đối với khoản tiền này, chủ tài khoản có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào
mà không cần báo trước. Tuy nhiên, số dư tài khoản này thường không lớn,
nhưng có ưu điểm hơn so với các khoản tiền gửi giao dịch ở chỗ: số dư này ít
biến động. Vì vậy, NH trả lãi suất cho khoản tiền này cao hơn so với tiền gửi
thanh toán. Đó là điều kiện để các NHTM có thể huy động dễ dàng nguồn vốn
này
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là tiền gửi có sự thỏa thuận về thời hạn
gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngắn: Về nguyên tắc khách hàng chỉ được
rút ra khi đến hạn. Song, để tăng tính cạnh tranh các NHTM vẫn cho phép khách
hàng rút trước thời hạn với những quy định cụ thể.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dài: Loại tiền gửi này chỉ được rút ra khi
đến hạn. Nó tạo nên nguồn vốn ổn định cho hoạt động cấp tín dụng dài hạn của
NHTM
Tiền gửi tiết kiệm được coi là một công cụ huy động vốn truyền thống của các
NHTM. Vốn huy động từ tài khoản tiền gửi tiết kiệm thường chiếm tỷ trọng
đáng kể trong tổng nguồn vốn của NHTM.
SV: Trịnh Thị Phương Liên
MSSV: 08A10084N
4
Luận văn tốt nghiệp
khoa: Tài chính
1.1.2.2. Phát hành các công cụ nợ
Các NHTM có thể phát hành các công cụ nợ (nếu đủ điều kiện theo quy
định) như: kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn trong một
thời gian nhất định.
- Chứng chỉ tiền gửi là những giấu tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở một NH
hay một định chế tài chính. Người sở hữu giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi
theo kỳ và nhận đủ số tiền vốn khi hết hạn. Các NH phát hành chứng chỉ này
chủ yếu cho mục đích thanh khoản.
- Kỳ phiếu NH là một công cụ ngắn hạn do NH phát hành theo từng đợt
để huy động vốn một cách linh hoạt nhằm giúp nhu cầu vốn cho những kế hoạch
kinh doanh xác định của NH. Việc phát hành kỳ phiếu tùy thuộc theo thời gian
và tình hình cụ thể của nguồn vốn NH. Vốn này chỉ được huy động trong thời
gian nhất định, khi đã huy động đủ khối lượng theo dự kiến, NH sẽ dừng việc
huy động kỳ phiếu. Đây là hình thức huy động nhanh vì có lãi suất cao hơn lãi
suất tiết kiệm trong cùng thời gian, lại có thể chuyển nhượng dễ dàng nên thu
hút khối lượng vốn tương đối lớn.
- Trái phiếu NH là một công cụ nợ dài hạn của NH, với các cam kết thanh
toán gốc vào ngày đáo hạn và thanh toán vào những thời gian xác định. Trái
phiếu dùng để huy động vốn trung dài hạn phục vụ cho những kế hoạch phát
triển có quy mô lớn và dài hạn. Trái phiếu được phát hành với quy mô lớn, đồng
loạt trong hệ thống mỗi NH.
1.1.2.3. Các nghiệp vụ huy động vốn khác
Ngoài các nghiệp vụ huy động vốn trên, NHTM còn có thể sử dụng
những nghiệp vụ huy động vốn khác để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, từ
nên kinh tế, từ nước ngoài thông qua các hoạt động ủy thác hoặc đứng ra làm đại
lý phát hành chứng khoán cho các công ty, làm trung gian thanh toán…
SV: Trịnh Thị Phương Liên
MSSV: 08A10084N
5
Luận văn tốt nghiệp
khoa: Tài chính
1.1.3. Vai trò của vốn kinh doanh đối với NHTM
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động
động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Trong tổng nguồn vốn của NHTM thì vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ
trong lớn nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của NH. Vai trò của vốn kinh
doanh được thể hiện như sau:
Thứ nhất: Vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động kinh doanh thì đều cần
phải có vốn, vốn phản ảnh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh.
Đối với các NHTM thì vốn vừa là phương tiên, vừa là đối tượng kinh doanh.
Vốn giúp cho NH chủ động trong kinh doanh, những NH có nguồn vốn dồi dào,
ổn định sẽ có thế mạnh trong kinh doanh, chứng minh được khả năng tài chính
tốt, có thể hoàn toàn tự quyết định trong hoạt động kinh doanh.
Thứ hai: Vốn quyết định quy mô hoạt động và khả năng mở rộng kinh
doanh của NHTM
Những NH có lượng vốn lớn thường có những khoản mục cho vay và đầu
tư lớn, đa dạng, có phạm vi rộng hơn nhiều những NH có quy mô vốn nhỏ. Các
NHTM lớn có thể cho vay trên thị trường trong nước, thậm chí có thể cho vay cả
trên thị trường quốc tế thì những NH có quy mô vốn nhỏ bị giới hạn trong phạm
vi hẹp hơn, thị trường là khu vực, địa phương. Hơn nữa, các NHTM có lượng
vốn nhỏ sẽ không phản ứng nhanh nhạy trước sự biến động của lãi suất thị
trường, từ đó tác động đến khả năng thu hút nguồn vốn của NH.
Để tồn tại và phát triển thì NH phải không ngừng mở rộng quy mô và đa
dạng hóa hoạt động kinh doanh để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách
hàng. Việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh giúp NH có thể phân tán rủi ro,
mở rộng phạm vi hoạt động.
SV: Trịnh Thị Phương Liên
MSSV: 08A10084N
6
Luận văn tốt nghiệp
khoa: Tài chính
Thứ ba: Đảm bảo khả năng thanh toán và uy tín của ngân hàng
Trong hoạt động NH, uy tín có thể nói là yếu tố quan trọng quyết định
trực tiếp đến sự sống còn của NH. Uy tín của NH trong kinh doanh được thể
hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng ở mức tối
ưu nhất.
Các NH có nguồn vốn lớn thì dự trữ thực tế cao do đó sẽ đảm bảo khả
năng thanh toán các khoản vay không đúng dự kiến. Mặt khác, tiềm năng vốn
lớn của NH sẽ có điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh có lợi cho NH, từ
đó hạn chế được các rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Uy tín của NH cũng
được nâng cao, tạo điều kiện cho NH có thế huy động và sử dụng vốn tốt nhất.
Thứ tư: Vốn kinh doanh quyết định đến khả năng cạnh tranh của
NHTM
Cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt nhất là cạnh tranh thông
qua lãi suất, phí dịch vụ và qua chất lượng của sản phẩm. NH có nguồn vốn lớn
có ưu thế cạnh tranh về lãi suất: lãi suất tiền gửi cao hơn, lãi suất cho vay thấp
hơn so với các NH khác nhưng vẫn đảm bảo lợi nhuận do chi phí trên một đơn
vị tiền gửi thấp. Điều này sẽ giúp NH thu hút được ngày càng nhiều khách hàng,
doanh số tăng lên và NH sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Vốn của NH lớn sẽ
giúp cho NH có đủ khả năng tài chính để chủ động đa dạng hóa các hoạt động
kinh doanh, không chỉ cho vay đơn thuần mà còn mở rộng các hình thức liên
doanh, liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê mua, mua bán nợ, kinh doanh chứng
khoán…các hình thức kinh doanh này sẽ giúp cho NH phân tán rủi ro trong kinh
doanh, thu được lợi nhuận cao, có điều kiện cải tiến, hiện đai hóa công nghệ và
do đó tăng khả năng cạnh tranh trên thương trường.
Với những vai trò hết sức quan trọng như trên các NHTM cần quan tâm,
nghiên cứu nhằm đa dạng hóa các hình thức huy động vốn sao cho nghiệp vụ
huy động vốn đạt hiệu quả tốt nhất.
SV: Trịnh Thị Phương Liên
MSSV: 08A10084N
7
Luận văn tốt nghiệp
khoa: Tài chính
1.2. HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU
QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả huy động vốn
Hiệu quả huy động vốn là tập hợp các tiêu chí chỉ rõ sự tăng trưởng bền
vững của doanh số vốn huy động với chi phí thấp nhất, tỷ lệ vốn được sử dụng
cao nhất và rủi ro thấp nhất.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn
1.2.2.1. Doanh số huy động vốn, mức tăng trưởng và tính bền vững
Doanh số vốn huy động của NH phả có sự tăng trưởng ổn định về số
lượng để thỏa mãn nhu cầu tín dụng, thanh khoản cũng như các hoạt động kinh
doanh ngày càng gia tăng của NH. Nếu NH huy động được một số lượng lớn
nhưng lại không ổn định, thường xuyên có những dòng tiền lớn bị rút ra thì
lượng vốn dành cho đầu tư sẽ không hiệu quả, thường xuyên phải đối mặt với
vấn đề thanh khoản.
Chỉ tiêu này được đánh giá qua mức độ tăng giảm nguồn vốn huy động và
doanh số vốn huy động có kỳ hạn. Nguồn vốn tăng đều qua các năm, có độ gia
tăng đều đặn, đạt mục tiêu nguồn vốn đặt ra là nguồn vốn tăng trưởng ổn định.
Tăng trưởng vốn huy động =
1.2.2.2. Chi phí vốn huy động
Quản lý chi phí vốn là hoạt động thường xuyên và quan trọng của mỗi
NH, vì mỗi sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn hay lãi suất đều có thể làm thay đổi
chi phí phải trả lãi, từ đó làm ảnh hưởng đến thu nhập ròng của NH.
SV: Trịnh Thị Phương Liên
MSSV: 08A10084N
8
Luận văn tốt nghiệp
khoa: Tài chính
Chi phí huy động vốn
Trong đó:
C là tổng chi phí bao gồm:
- Lãi trả cho người gửi tiền
- Chi phí quản lý
- Lương trả cán bộ công nhân viên
- Chi phí tiếp thị, quảng cáo
- Chi phí khác
V là tổng số vốn huy động
Trả lãi tiền gửi là một chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất, nó là yếu tố quyết
định đến việc hoạt định lãi suất cho vay, do vậy ngân hàng cần phân tích cụ thể
chỉ tiêu lãi suất bình quân đầu vào.
1.2.2.3. Tỷ lệ vốn được sử dụng
Tỷ lệ vốn được sử dụng
Số lượng vốn được sử dụng trong tổng nguồn vốn huy động càng tăng thì
tỷ lệ sử dụng vốn càng lớn điều này cho thấy số vốn huy động được quay vòng
nhanh và có hiệu quả từ đó làm cho lợi nhuận thu được cũng tăng theo. Vì vậy,
tỷ lệ vốn sử dụng cũng là một phần quan trọng khi đánh giá hiệu quả huy động
vốn.
1.2.2.4. Các loại rủi ro liên quan đến huy động vốn
Rủi ro trong huy động vốn được biểu hiện khi nguồn vốn huy động được
sử dụng ít (ứ đọng vốn); hoặc chi phí huy động vốn cao nhưng cho vay với lãi
suất thấp. Các loại rủi ro chính trong huy động vốn
- Rủi ro tỷ giá
- rủi ro lãi suất
SV: Trịnh Thị Phương Liên
MSSV: 08A10084N
9
Luận văn tốt nghiệp
khoa: Tài chính
Rủi ro lãi suất là khoản tổn thất mà NH sẽ phải gánh chịu khi lãi suất thị
trường có sự biến động. Những thay đổi khó đoán trước của lãi suất có thể làm
tăng khả năng sinh lời của NH hoặc quá trình này có thể gây ra tổn thất cho NH.
Vì vậy, song song với việc quản lý rủi ro lãi suất các NH còn quan tâm đến cơ
hội đầu tư nếu lãi suất biến động theo hướng có lợi.
Để phân tích rủi ro lãi suất có nhiều mô hình được sử dụng trong đó có
mô hình định giá lại. Nội dung của mô hình này là vệc phân tích các luồng tiền
dựa trên nguyên tắc giá trị kế toán nhằm xác định chênh lệch giữa lãi suất thu
được từ tài sản có và lãi suất thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian
nhất định. Việc đo lường rủi ro lãi suất theo mô hình đánh giá lại được tiến hành
như sau:
Một là: Phân loại tài sản có và tài sản nợ
Hai là: Xác định chênh lệch tài sản có và tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất (GAP)
GAP = Tài sản có nhạy cảm với lãi suất – tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất
Sử dụng nhưng thông tin về GAP để phân tích độ nhạy cảm với lãi suất, các nhà
quản lý có thể điều chỉnh được cơ cấu nguồn vốn cần huy động.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn
1.2.3.1. Nhân tố khách quan
- Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn của
NHTM, có thể thấy trước hết là các bộ luật. Một số bộ luật tác động trực tiếp
đến hoạt động kinh doanh của NHTM như: Luật các tổ chức tín dụng, Luật
NHNN…những luật này quy định tỷ lệ huy động vốn của NH so với vốn tự có,
quy định việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu. Ngoài ra, còn có những bộ luật tác
động gián tiếp tới hoạt động của NHTM như: Bộ luật dân sự, Luật đầu tư nước
ngoài, chính sách tiền tệ…
Bên cạnh những bộ luật thì các chính sách tiền tệ, hệ thống luật pháp của
Nhà Nước cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM. Nếu
SV: Trịnh Thị Phương Liên
MSSV: 08A10084N
10
Luận văn tốt nghiệp
khoa: Tài chính
các bộ luật đồng bộ, hoàn thiện, không chồng chéo nhau thì sẽ tại điều kiện cho
các NH hoạt động kinh doanh thuận lợi.
- Tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước
Khi nền kinh tế ở thời kỳ tăng trưởng, sản xuất phát triển từ đó tích lũy sẽ
tăng lên, tiết kiệm trong dân cư tăng, khả năng huy động vốn của NH cũng tăng
lên. Mặt khác, khi nền kinh tế không tăng trưởng, sản xuất bị kìm hãm, nền kinh
tế suy thoái, lạm phát làm cho môi trường đầu tư của NH bị thu hẹp do sản xuất
đình trệ, đồng tiền mất giá…gây ảnh hưởng đến nghiệp vụ huy động vốn của
NH.
- Tâm lý, thói quen tiêu dùng của người gửi tiền
Nghiệp vụ huy đống vốn của NH chịu ảnh hưởng rất nhiều của tập quán
tiêu dùng. Nếu ở những nơi mà người dân có thói quen sử dụng tiền nhàn rỗi
dưới hình thức cất trữ là chính thì việc huy động tiền tiết kiệm của NH sẽ gặp rất
nhiều khó khăn. Khi người dân có nhu cầu hưởng lãi hoặc đảm bảo tài sản thì
khả năng huy động vốn của NH sẽ tăng lên. Ở những nước phát triển, nhu cầu
giao dịch thanh toán qua NH rất phát triển. Tuy nhiên, ở những nước kém phát
triển thu nhập của người dân còn thấp, nhu cầu giao dịch thanh toán qua NH còn
hạn chế nên ít người mở tài khoản tại NH. Điều này sẽ hạn chế khả năng tạo tiền
của hệ thông NHTM.
- Công nghệ thông tin
Trước đây, CNTT còn lạc hâu khách hàng chủ yếu thanh toán bằng tiền
mặt. Ngày nay, do hệt thống CNTT ngày càng càng phát triển, thanh toán
không chỉ dừng lại ở tiền mặt mà thay vào đó là hệ thống thanh toán bằng séc,
bằng thẻ…Những tiến bộ về CNTT đã cho phép các NH thay đổi cách cung ứng
dịch vụ. Chính sự thay đổi này đã tạo ra rất nhiều các hệ thông dich vụ như thẻ
ATM, Home banking…
1.2.3.2 Nhân tố chủ quan
SV: Trịnh Thị Phương Liên
MSSV: 08A10084N
11
Luận văn tốt nghiệp
khoa: Tài chính
- Lãi suất huy động
Đây là yếu tố đầu tiên, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn
của NHTM. Đối với những khách hàng gửi tiền vào NH với mục đích thanh
toán thì lãi suất không phải là vấn đề chính mà họ quan tâm, điều họ quan tâm là
việc sử dụng các dịch vụ của NH (tiền gửi không kỳ hạn). Tuy nhiên, bên cạnh
tiền gửi không kỳ hạn thì vốn huy động của NH còn bao gồm cả tiền gửi có kỳ
hạn và tiền gửi tiết kiệm từ dân cư. Bộ phận tiền gửi này múc đích là hưởng lãi
suất. Vì vậy, hiện nay một số NH để thu hút khách hàng gửi tiền đã sử dụng lãi
suất linh hoạt theo nhiều thời hạn khác nhau.
- Hình thức huy động vốn và các dịch vụ mà NH cung cấp
Hình thức huy động vốn và các dịch vụ mà NH cung cấp càng đa dạng,
phong phú, hấp dẫn thì NH càng có khả năng huy động vốn nhiều. Do vậy, các
NH luôn tìm cách đa dạng hóa các hình thức huy động để thu hút cạnh tranh.
NH có thể đưa ra nhiều loại hình tiết kiệm với nhiều kỳ hạn, các hình thức tiết
kiệm trả lãi bậc thanh theo thời hạn gửi và quy mô tiền gửi.
- Năng lực, trình độ và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ NH
Năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ Nh cao thì trong quá trình hoạt
động kinh doanh mọi thao tác nghiệp vụ đều thực hiện một cách nhanh chóng,
chính xác và có hiệu quả. Từ đó, giúp NH có điều kiện mở rộng kinh doanh,
giảm chi phí hoạt động, thu hút được khác hàng.
Trong môi trường kinh doanh hiện nay, thái độ phục vụ của cán bộ NH có
ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn của NH. Một NH có độ ngũ cán
bộ có thái độ phục vụ nhiệt tình, thân thiện, lịch sự với khách hàng sẽ tạo được
một hình ảnh tốt, gây được lòng tin và thiện cảm đối với khách hàng, từ đó làm
hài lòng khách hàng cũ, tiếp cận được khách hàng mới. Vì vậy, để thi hút được
lượng khách hàng lớn đến với NH thì ngoài năng lực và trình độ chuyên môn ra,
NH còn phải chú trọng đến thái độ phục vụ khách hàng của đội ngủ cán bộ NH.
- Vị thế, uy tín của ngân hàng
SV: Trịnh Thị Phương Liên
MSSV: 08A10084N
12

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét