Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Cơ sở lý luận để xác định quan điểm công nghiệp hóa- hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ ở Việt Nam

LờI NóI ĐầU
Từ đại hội Đảng lần thứ VIII đến nay Đảng ta luôn xác định công nghiệp hóa
là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ. Thực hiện nhiệm vụ đó trong những năm
qua, nhất là những năm đổi mới chúng ta đã thu đợc nhiều thành tựu quan trọng tạo
ra thế và lực mới chuyển sang một thời kỳ phát triển cao hơn đẩy tới một bớc công
nghiệp hoá nớc nhà. Tuy nhiên trong quá trình công nghiệp hóa những năm trớc
đây, do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân nóng vội chủ quan, đốt nóng
giai đoạn mà chúng ta đã mắc phải một số khuyết điểm sai lầm mà Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ VI và lần thứ VII đã vạch ra.
Muốn tiếp tục phát huy thành tích, khắc phục yếu kém đẩy lùi nguy cơ tụt hậu
về kinh tế,sớm đa đất nớc ra khỏi tình trạng một nớc nghèo, cải thiện đời sống
nhân dân, tăng cờng tiềm lực quốc phòng an ninh, củng cố vững chắc độc lâp dân
tộc và chủ quyền quốc gia, tạo điêù kiện cho lực lợng sản xuất ra đời phù hợp với
quan hệ sản xuất mới thì không còn con đờng nào khác là chúng ta phải đẩy mạnh
quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa là một vấn đề rất rộng gồm nhiều nội
dung khác nhau, không thể nói hết trong phạm vi môt bài viết. Vì vậy, em hy vọng
bài viết này có thể giúp bạn đọc hiểu thêm về quá trình công nghiệp hóa- hiện đại
hóa ở nớc ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
1

I. Nội dung, mục tiêu của đờng lối công nghiệp hóa- hiện
đại hóa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ
1. Công nghiệp hóa-hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm
a. Thế nào là công nghiêp hóa- hiện đại hóa
Trớc đây, vào thế kỷ XVII, XVIII, khi cuộc cách mạng công nghiệp đợc tiến
hành ở Tây Âu, công nghiệp hóa đợc hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công
bằng lao động sử dụng máy móc. Nhng theo dòng thời gian, khái niệm công
nghiệp hóa luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của
khoa học công nghệ, tức là khái niệm công nghiệp hóa mang tính lịch sử. Dựa trên
việc kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại và rút kinh
nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp hóa, Hội nghị Ban chấp hành Trung -
ơng lần thứ bẩy khoá VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng Sản
Việt Nam xác định: công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các
nền hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế- xã hội từ sử dụng
sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng
2
với công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển
của công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội
cao.
Nh vậy, công nghiệp hóa theo t tởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình
độ các lực lợng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ
công thành lao động cơ khí nh trớc đây mà bao hàm cả về các hoạt động sản xuất
kinh doanh, cả về ngành dịch vụ và quản lí kinh tế- xã hội, đợc sử dụng bằng các
phơng tiện và các phơng pháp tiên tiến hiện đại cùng với kỹ thuật và công nghệ
cao.
Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa còn cần phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức
và vận hành xã hội, nâng cao chất lợng sống của ngời dân trong cả nớc, tích cực
xoá đói giảm nghèo, phấn đấu tăng mức thu nhập bình quân đầu ngời cả nớc
b. Sự cần thiết phải tiến hành công nghiệp hóa- hiên đại hóa ở Việt Nam
Trong những năm 1986-1988, cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội ở nớc ta đã trở
nên gay gắt nhất, khi lạm phát lên tới mức phi mã(3 con số), những cơ sở sản
xuất kinh doanh của nhà nớc bị đình đốn, thua lỗ, sản xuất cầm chừng, thậm chí
phải đóng cửa; bội chi ngân sách lớn; giá cả thì tăng vọt; tiền lơng thực tế giảm
khiến cho đời sống nhân dân giảm sút nghiêm trọng, khó khăn chồng chất khó
khăn, có lúc tởng chừng không thể vợt qua. Trong khi đó, công cuộc cải tổ ở
Liên Xô- ngời anh của chủ nghĩa xã hội trên thế giới- đang ngày càng đi vào con đ-
ờng bế tắc. Điều này có ảnh hởng không nhỏ tới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội của nớc ta. Bên cạnh đó, nớc ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nớc nông
nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất- kỹ thuật thấp kém, trình độ của lực lợng sản xuất
cha phát triển, cha đợc hoàn thiện, sản xuất nhỏ lẻ, lao động thủ công là chủ yếu.
Vì vậy, quá trình công nghiệp hoá chính là con đờng duy nhất để đất nớc ta có thể
thoát ra khỏi cảnh đói nghèo, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho nền sản xuất
lớn hiện đại. Có tiến hành công nghiệp hóa thì chúng ta mới: xây dựng đợc cơ sở
vật- chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở nớc ta; tiến hành tái sản xuất mở rộng
nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân; tăng cờng phát triển lực lợng
3
giai cấp công nhân; củng cố quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội;
góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc, xây dựng con ngời mới ở
Việt Nam. Mỗi bớc tiến của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa là một bớc
tăng cờng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực l-
ợng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa để nớc ta
có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng và thành công.
2. Nội dung đờng lối công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở Việt Nam trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội
a. Nội dung cơ bản
Phát triển lực lợng sản xuất-cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội- trên
cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa
học- công nghệ hiện đại
Muốn cho dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, đất nớc từng bớc đi
lên chủ nghĩa xã hội, đi đôi với việc củng cố hoàn thiện quan hệ sản xuất tiên tiến,
chúng ta phải phát triển lực lợng sản xuất với năng suất lao động ngày càng cao.
Không có lực lợng sản xuất hùng hậu thì không thể nói đến công nghiệp hóa- hiện
đại hóa nền kinh tế.Trớc hết, quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa là một quá
trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, tức là
phải cơ khí hóa nền kinh tế quốc dân. Đó là bớc chuyển đổi rất căn bản từ nền kinh
tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp. Đi liền với cơ khí hóa là điện khí hóa
và tự động hóa sản xuất từng bớc và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự nghiệp
công nghiệp hóa-hiện đại hóa đòi hỏi phải xây dựng và phát triển mạnh mẽ các
nghành công nghiệp, then chốt là nghành chế tạo t liệu sản xuất bởi vì theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tái sản xuất mở rộng của khu vực sản xuất t liệu
sản xuất, đặc biệt là của nghành sản xuất t liệu sản xuất để sản xuất t liệu sản xuất,
quyết định qui mô tái sản xuất mở rộng của toàn bộ nền kinh tế. Sự phát triển của
các nghành chế tạo t liệu sản xuất là cơ sở để cải tạo, phát triển nền kinh tế quôc
dân, phát triển khu vực nông-lâm-ng nghiệp.
4
Đồng thời, mục tiêu của công nghiệp hóa-hiện đại hóa còn là sử dụng kỹ thuật,
công nghệ ngày càng tiên tiến hiện đại nhằm đạt đợc năng suất lao động xã hội
cao. Khi mà nền khoa học của thế giới đang có sự phát triển nh vũ bão, khoa học
đang trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp tức là trở thành nhân tố quyết định đến
khả năng cạnh tranh của hàng hoá, hiệu quả của sản xuất, kinh doanh thì khoa
học- công nghệ phải là động lực của công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Vì thế, phát
triển khoa học- công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp công
nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nớc. Để có thể phát triển khoa học- công nghệ trong
điều kiện Việt Nam hiện nay cần phảI xác định đợc những phơng hớng đúng đắn
cho sự phát triển của khoa học- công nghệ, ví dụ nh phát huy những lợi thế của đất
nớc, tận dụng mọi khả năng để đạt đợc trình độ tiên tiến, tranh thủ ứng dụng nhiều
hơn thành tựu về khoa học- công nghệ và phải tạo dựng đ ợc những điều kiện
cần thiết cho sự phát triển của khoa học- công nghệ nh đảm bảo đội ngũ cán bộ
khoa học có số lợng lớn , chất lợng cao, các chính sách kinh tế- xã hội phù hợp.
Trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa, ngời lao động- lực lợng sản xuất
thứ nhất- phải đợc nâng cao trình độ văn hoá và kỹ thuật vì họ vừa là kết quả sự
phát triển lực lợng sản xuất, vừa là ngời tạo ra sự phát triển đó.
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hớng hiện đại hóa, hợp lý và hiệu quả
Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hóa không chỉ đơn thuần là phát triển
công nghiệp, cũng không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của nghành
công nghiệp. Quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa cũng là quá trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế. Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân bao gồm các nghành kinh tế, các
vùng kinh tế, các thành phần kinh tế và các mối quan hệ hữu cơ giữa chúng.
Trong cơ cấu của nền kinh tế, cơ cấu của nghành kinh tế là quan trọng nhất vì nó
quyết định các hình thức cơ cấu kinh tế khác. Vì vậy, công nghiệp hóa-hiện đại
hóa đòi hỏi phải xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại. Và xu hớng chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đợc coi là hợp lý, tiến bộ là tỷ trọng khu vực xây dựng và công
nghiệp, đặc biệt là tỷ trọng khu vực dịch vụ ngày càng tăng; tỷ trọng khu vực nông-
lâm-ng nghiệp và khai khoáng ngày càng giảm trong tổng giá trị sản phẩm xã hội.
5
Cơ cấu kinh tế hợp lý trong một nền kinh tế thị trờng hiện đại đòi hỏi công nghiệp-
nông nghiệp- dịch vụ phát triển mạnh mẽ hợp lý và đồng bộ.Một cơ cấu kinh tế đ-
ợc gọi là hợp lý khi nó đáp ứng đợc các yêu cầu sau: nông nghiệp phải giảm tỷ
trọng, công nghiệp, dich vụ và xây dựng phải tăng dần tỷ trọng; trình độ kỹ thuật
của nền kinh tế không ngừng tiến bộ; khai thác tối đa tiềm năng đất nớc; cơ cấu
kinh tế đợc tạo dựng theo cơ cấu mở.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nớc ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đợc
thực hiện theo phơng châm: kết hợp công nghệ với nhiều trình độ, tranh thủ công
nghệ mũi nhọn- tiên tiến vừa tận dụng đợc nguồn lao động dồi dào, vừa cho phép
rút ngắn khoảng cách lạc hậu, vừa phù hợp với nguồn vốn có hạn ở trong nớc; lấy
quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, có tính đến quy mô lớn nhng phải là quy mô hợp
lý và có điều kiện; giữ đợc tốc độ tăng trởng hợp lý Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nớc ta những năm trớc mắt cần thực hiện theo định hớng chung sau đây:
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu t dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh
của đất nớc, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trờng trong nớc và ngoài n-
ớc, đẩy mạnh xuất khẩu.
Nh vậy, công nghiệp hóa tất yếu gắn liền với hiện đại hóa để từng bớc tạo ra
những giá trị vật chất mới với trình độ công nghệ cao, hoàn thành cơ bản việc xây
dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Công nghiệp hóa ở nớc ta nhằm mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do
đó,công nghiệp hoá không chỉ phát triển lực lợng sản xuất mà còn là quá trình
thiết lập, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp theo định hớng xã hội
chủ nghĩa. Theo quy luật, quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lợng sản xuất, bất cứ sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất cũng đều là kết
quả tất yếu của sự phát triển lực lợng sản xuất.
Trình độ xã hội hoá cao của lực lợng sản xuất hiện đại tất yếu đòi hỏi phải xác
lập chế độ công hữu về những t liệu sản xuất chủ yếu. Vì vậy, khi cơ sở vật chất-
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội đợc xây dựng xong về căn bản thì chế độ công hữu t
6
liệu sản xuất sẽ chiếm u thế tuyệt đối. Ngoài ra, trong khi phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần phải luôn luôn bảo đảm thành phần quốc doanh là chủ đạo, kinh
tế quốc doanh cùng với kinh tế hợp tác dần trở thành nền tảng. Nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trờng nhng có sự quản lý của Nhà nớc- Nhà nớc của dân, do
dân và vì dân. Đặc biệt phải coi trọng việc bồi dỡng nguồn nhân lực để phát huy
sức manh quyết định của nhân tố con ngời, chăm lo giảI quyết việc làm cho ngời
lao động, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Và
điều quyết định nhất là phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ tiến
trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa.
b. Nội dung cụ thể
Đối với nớc ta, một nớc nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiến
hành công nghiệp hóa- hiện đại hóa càng là một yêu cầu cấp bách, là nhiệm vụ
trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Hội nghị Trung ơng 7( khoá VII) tháng 7/1994, sau khi phân tích những thuận
lợi, khó khăn, thực trạng của đất nớc và tính toán các mặt, đã chỉ ra mục tiêu công
nghiệp hóa- hiện đại hóa đến năm 2000 là: phấn đấu đạt và vợt các chỉ tiêu đã đạt
ra trong chiến lợc kinh tế- xã hội, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho bớc phát
triển cao hơn trong thập kỷ sau. Và hớng u tiên phát triển công nghiệp và công
nghệ trong những năm trớc mắt là:
Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
Phát triển toàn diện nông- lâm- ng nghiệp gần với công nghiệp chế biến nông-
lâm- thuỷ sản nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông- lâm- ng
nghiệp,b ảo đảm vững chắc yêu cầu an toàn lơng thực cho xã hội; tạo nguồn
nguyên liệu có khối lợng lớn, chất lợng cao, giá thành hạ, đủ tiêu chuẩn đáp ứng
yêu cầu của công nghiệp chế biến;tăng giá trị và khối lợng hàng xuất khẩu; tăng
thêm việc làm và thu nhập cho ngời lao động; mở mang thị trờng sản phẩm và dịch
vụ cho công nghiệp. Để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông
nghiệp và nông thôn cần chú trọng đến vấn đề thuỷ lợi, áp dụng khoa học- công
7
nghệ vào trồng trọt, chăn nuôi, phát triển mạnh công, thơng nghiệp, dịch vụ, du
lịch , tăng c ờng xây dựng kết cấu hạ tầng
Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng
Hớng u tiên phát triển công nghiệp là: các nghành chế biến lơng thực- thực
phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ
thông tin. Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trong những
nghành trọng yếu mà nhu cầu đòi hỏi bức bách và có điều kiện về vốn, công nghệ,
thị trờng để phát huy tác dụng nhanh và có hiệu quả( năng lợng- nguyên liệu, vật
liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, đóng và sửa chữa tàu thuỷ, luyện kim, hoá chất).
Cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng
vật chất của nền kinh tế
Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, kết cấu hạ tầng
của nền kinh tế nớc ta hết sức thấp kém, không đáp ứng đợc yêu cầu của sản xuất
kinh doanh và của đời sống dân c.Do vậy, việc xây dựng kết cấu hạ tầng của nền
kinh tế đợc coi là một nội dung của công nghiệp hóa- hiện đại hóa.
Những năm trớc đây, do khả năng tài chính có hạn nên việc xây dựng kết cấu hạ
tầng phải tập trung vào khâu cải tạo nâng cấp. Việc xây dựng mới chỉ có mức độ và
phải tập trung vào những khâu trọng điểm có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh
tế.
Phát triển nhanh du lịch, các nghành dịch vụ
Phát triển nghành du lịch và các nghành dịch vụ trớc hết nhằm đáp ứng nhu cầu
về dịch vụ của nhân dân. Mức thu nhập, mức sống càng cao, nhu cầu về các loại
dịch vụ của nhân dân càng lớn. Phát triển dịch vụ không những góp phần nâng cao
chất lợng cuộc sống của dân c mà còn nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh
doanh. Sự phát triển của nghành du lịch một mặt cho phép khai thác tiềm năng du
lịch, tăng thu nhập cho dân c, mặt khác sự phát triển của nghành du lịch còn góp
phần mở rộng giao lu, phát triển kinh tế đối ngoại, mở cửa nền kinh tế.
Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ
8
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các lợi
thế, tiềm năng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau, làm cho tất cả các vùng cùng
nhau phát triển. Về phơng hớng phát triển vùng lãnh thổ ở nớc ta trong thời gian
tới, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng
điểm có mức tăng trởng cao, tích luỹ lớn; đòng thời tạo điều kiện phát triển các
vùng khác trên cơ sở phát huy thế manh của từng vùng, liên kết với trọng điểm tạo
mức tăng trởng khá. Có chính sách hỗ trợ cho các vùng khó khăn để phát triển kết
cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo
Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, mở cửa nền kinh tế là cần thiết với tất cả các n-
ớc. Sau thời gian khá dài đóng cửa nền kinh tế, hiện nay, mở cửa nền kinh tế là một
nhu cầu cấp bách đối với nền kinh tế nớc ta, là một nội dung của công nghiệp hóa-
hiện đại hoá ở nớc ta trong những năm trớc mắt. Trong việc mở cửa, hội nhập, phải
đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hớng u tiên và là trọng điểm. Chuyển hớng
chiến lợc, xây dựng nền kinh tế mở đòi hỏi phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế để vừa
hội nhập khu vực, vừa hội nhập toàn cầu.
9
3. Kết quả của đờng lối công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
a. Về kinh tế- xã hội
Đất nớc ta không những đã thoát ra khỏi khủng hoảng chỉ sau 10 năm đổi mới,
ngay cả khi còn bị Mỹ bao vây, cấm vận, tạo những tiền đề cần thiết để chuyển
sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nớc, mà còn đạt đợc tôc
độ tăng trởng khá. Thời kỳ 1991-2000, tốc độ tăng trởng bình quân hàng năm đạt
hơn 7,5%, đa GDP tăng gấp đôi, trong khi phải chịu những tác động tiêu cực của
cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu á và trên thế giới vào cuối thập niên 90 của thế
kỷ 20. Nền kinh tế định hớng xã hội chủ nghĩa từng bớc đợc khẳng định và xây
dựng một cách đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn; đời sống vật chất của đại bộ phận
nhân dân đợc cải thiện, đồng thời chú trọng thực hiện chính sách xóa đói giảm
nghèo với những kết quả đợc thế giới đánh giá cao. Chỉ trong 5 năm 1993-1998,
thu nhập bình quân đầu ngời trên cả nớc đã tăng gấp 2,45 lần; tỷ lệ hộ đói nghèo về
cả lơng thực, thực phẩm và phi lơng thực, thực phẩm đã giảm từ trên 50% giai đoạn
1992- 1993 xuống còn trên 30% giai đoạn 1997- 1998. Đi đôi với phát triển kinh
tế, Đảng và Nhà nớc ta luôn chăm lo xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân
tộc. Đời sống tinh thần trong xã hội đợc cải thiện rõ rệt, nhân dân đợc quyền tự do
tín ngỡng ( Báo Lý luận và chính trị số 1- 2005, tr.22)
b. Về chính trị
Trên lĩnh vực chính trị, hệ thống chính trị từng bớc đợc đổi mới. Tình hình
chính trị- xã hội cơ bản đợc ổn định, nh Đại hội IX đã nhấn mạnh: đó vừa là điều
kiện rất cơ bản, vừa là kết quả của đổi mới kinh tế- xã hội. Quan hệ đối ngoại
không ngừng đợc mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế đợc tiến hành chủ động và đạt
nhiều kết quả tốt. Với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc, đến
nay chúng ta đã thiết lập đợc quan hệ toàn diện với hầu hết các nớc trên thế giới, là
thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực. Ngoài ra, tình hình chính trị trong
nớc cũng cực kì ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu t nớc
10
ngoài vào Việt Nam. Với những ngời lỡ bị kẻ xấu dụ dỗ, Đảng và Nhà nớc ta luôn
dang tay đón họ trở về, tạo điều kiện cho họ đợc làm ăn, sinh sống, đợc hòa đồng
trong cuộc sống với mọi ngời, với xã hội ( Báo Lý luận và chính trị số 1- 2005,
tr.23).
II. Cơ sở lý luận triết học của đờng lối công nghiệp
hóa- hiện đại hóa ở việt nam trong thời kỳ quá độ
1. Lực lợng sản xuất
a.Khái niệm
Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên trong quá
trình sản xuất. Lực lợng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con ngời trong
quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lợng sản xuất bao gồm ngời lao động
với kỹ năng lao động của họ và t liệu sản xuất, trớc hết là công cụ lao động.
Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con ngời và t liệu sản xuất, trớc hết
là công cụ lao động, kết hợp với nhau tạo thành lực lợng sản xuất. ( Giáo
trình Triết học Mác- Lênin, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2004, tr. 351)
Theo quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, lịch sử sản xuất vật chất
của nhân loại đã hình thành mối quan hệ khách quan, phổ biến: một mặt,con ngời
phải quan hệ với giới tự nhiên nhằm biến đổi giới tự nhiên đó, quan hệ này đợc
biểu hiện ở lực lợng sản xuất, mặt khác, con ngời phải quan hệ với nhau để tiến
hành sản xuất, quan hệ này đợc biểu biệ ở quan hệ sản xuất. Lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập biện chứng của một thể thống nhất không thể
tách rời- phơng thức sản xuất. Trong mỗi phơng thức sản xuất thì lực lợng sản xuất
đóng vai trò quyết định. Lực lợng sản xuất chẳng những là thớc đo thực tiễn của
con ngời trong quá trình cải tạo tự nhiên nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của
xã hội loài ngời mà còn làm thay đổi quan hệ giữa ngời với ngời trong sản xuất,
thay đổi các quan hệ trong xã hội .
b. Các yếu tố của lực lợng sản xuất
11
Trong các yếu tố của lực lợng sản xuất, ngời lao động là chủ thể của quá trình
lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng t liệu lao
động, trớc hết là công cụ lao động, tác động vào đối tợng lao động để sản xuất ra
của cải vật chất. Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao
động của con ngời ngày càng đợc tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của con ngời không
ngừng phát triển, hàm lợng trí tuệ của lao động ngày càng cao. Ngày nay, với cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò chính
yếu. Cùng với ngời lao động, công cụ lao động cũng là môt yếu tố cơ bản của lực l-
ợng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong t liệu sản xuất. Công cụ lao động do
con ngời sáng tạo ra, là sức mạnh của tri thức đã đợc vật thể hóa, nó nhân sức
mạnh của con ngời trong quá trình lao động sản xuất. Qua thời gian, công cụ lao
động không ngừng đợc cải tiến và hoàn thiện. Chính sự cải tiến và hoàn thiện
không ngừng công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ t liệu sản xuất. Trình độ
phát triển của công cụ lao động là thớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của con ng-
ời, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế lịch sử. Trong sự phát triển của lực l-
ợng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngay càng to lớn. Sự phát triển của khoa học
gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Có thể
nói: khoa học và công nghệ hiện đại là đăc trng cho lực lợng sản xuất hiện đại
( Giáo trình Triết học Mác- Lênin, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2004, tr.352).
2. Cơ sở lý luận để xác định công nghiệp hóa- hiện đại hóa là nhiệm vụ trung
tâm trong suốt thời ký quá độ ở Việt Nam
Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đờng lối
công nghiệp hóa và coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bởi vì sao Đảng và Nhà nớc ta lại coi trọng việc thực
hiện quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hóa đến nh vậy? Muốn trả lời đợc câu hỏi
này chúng ta sẽ phải cùng nhau đi tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa của vấn đề
này.
12
Để có một xã hội nh ngày nay không phải do tự nhiên mà có, nó do quá trình
tích luỹ về lợng ngay từ khi loài ngời xuất hiện, khi mà sản xuất thô sơ, đời sống
không ổn định, cơ sở vật chất hầu nh không có gì nhng bằng sự nỗ lực, con ngời
tác động vào giới t nhiên, cải biến nó thông qua lao động và traỉ qua nhiều thăng
trầm của lịch sử, giờ đây con ngời đã tạo ra đợc những thành công đáng kể. Thành
tựu đạt đợc là do quy luật phát triển, do tự thân vận động của con ngời trong toàn
xã hội. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng kinh tế, các nớc đã cố gắng rất nhiều
trong cuộc chạy đua về kinh tế. Thể hiện ở các chính sách, đờng lối về phát triển
kinh tế ngày một toàn diện hơn, về các mặt quan hệ sản xuất, lực lợng sản xuất,
nền văn hóa và con ngời của xã hội đó. Muốn xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật,
phát triển lực lợng sản xuất thì công nghiệp hóa- hiện đại hóa chính là con đờng
duy nhất và tất yếu để đạt đợc điều đó. Công nghiệp hoá là xu hớng mang tính quy
luật của các nớc đi từ nền sản xuất nhỏ lên một nền sản xuất lớn nh nớc ta hiện
nay. Tuy nhiên, tuỳ từng nớc khác nhau, do điểm xuất phát tiến lên khác nhau,
mục tiêu phát triển không giống nhau nên cách thức tiến hành cơ sở vật chất- kỹ
thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại không giống nhau. Đối với những nớc có nền
kinh tế kém phát triển nh nớc ta (nền sản xuất nhỏ, kỹ thuật thủ cônglà chủ yếu )
công nghiệp hóa là quá trình mang tính quy luật, tất yếu để tồn tại và phát triển
nhằm tạo ra cơ sở vật chất- kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều nớc dù thắng hay bại đều trở thành n-
ớc kiệt quệ đã trở thành một trong những nguyên nhân cho bớc khởi động của cuộc
khoa học công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật diễn
ra không đồng đều ở các nớc do nhiều nguyên nhân dễ dẫn đến sự chênh lệch về
kinh tế.
Việt Nam là một nớc có nền kinh tế nhỏ, ngời dân chủ yếu làm nông nghiệp, lai
lạc hậu về khoa học- kỹ thuật, lực lợng sản xuất còn non nớt cha phù hợp với quan
hệ sản xuất của chủ nghĩa xã hội. Để có cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất lớn, không
còn con đờng nào khác là công nghiệp hóa, cơ khí hóa cân đối và hiện đại trên
trình độ khoa học kỹ thuật phát triển cao. Muốn vậy, công nghiệp hóa- hiện đại
13
hóa phải phát triển tuần tự và phát triển nhảy vọt, cùng lúc thực hiện hai cuộc cách
mạng đó là chuyển lao động thô sơ sang lao động bằng máy móc và chuyển lao
động máy móc sang lao động tự động hoá có sự chỉ đạo của Nhà nớc theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, trên phạm vi toàn thế giới, công nghiệp hóa vẫn đang đợc coi là ph-
ơng hớng chủ đạo, phải trải qua của các nớc đang phát triển. Đối với nớc ta, khi
những t tởng cơ bản trong học thuyết Mác về hình thái kinh tế- xã hội đợc nhận
thức lại một cách khoa học và sâu sắc với t cách là cơ sở lý luận của công nghiệp
hóa- hiện đại hóa đất nớc thì chúng ta phải đẩy mạnh sự nghiệp này trong tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội để nhanh chóng tạo ra lực lợng sản xuất, hiện đại
cho chế độ xã hội mới. Công nghiệp hóa phải đi đôi với hiện đại hóa, kết hợp
những bớc tiến tuần tự về công nghệ với việc tranh thủ những cơ hội đi tắt, đón
đầu, hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học
công nghệ trên thế giới.
Vì vậy có thể khẳng định công nghiệp hóa- hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm
trong thời kỳ quá độ.
3. Cơ sở lý luận để xác định quan điểm công nghiệp hóa- hiện đại hóa là
nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ ở Việt Nam
Công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nớc phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc
lập tự chủ, trớc hết là độc lập tự chủ về đờng lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực
kinh tế đủ mạnh: có mức tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế; có cơ cấu
kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh; kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và có một số
nghành công nghiệp nặng then chốt; có năng lực nội sinh về khoa học và công
nghệ; giữ vững ổn định kinh tế- tàI chính vĩ mô Xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; kết hợp nội lực với ngoại lực
thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nớc.
Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động theo hớng công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Chuyển dịch cơ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét