Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Chăn nuôi đà điểu

Ngô Minh Thành Lớp CNTY
K32
từ cẳng chân xuống ngón cái có màu đỏ phía trước. Cổ và đùi có màu xám
tro nhạt.
Như vậy , trong hệ thống phân loại động vật vị trí phân loại của Đà điểu như
sau:
Lớp chim : Aves
Bộ : Struthioniformes
Phụ bộ : Struthiones
Họ (gia đình) : Struthionidae
Chủng (giống) : Struthio
Loài : Struthio camelus
Phân loài - Struthio Camelus camelus
- Struthio Camelus molyb dophanes
- Struthio Camelus masaicus
- Struthio Camelus Australis
- Struthio Camelus Syriacus. phân loài này đã tuyệt
chủng vào khoảng năm 1941.
2.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SINH TRƯỞNG
2.2.1. Một số chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng
* Sinh trưởng tích luỹ
Sinh trưởng tích luỹ từng thời kỳ là một chỉ tiêu sử dụng để đánh giá sự
sinh trưởng của gia cầm. Tuy nhiên chỉ tiêu này cho phép xác định sự sinh
trưởng ở các thời điểm nhát định của cơ thể, song nó lại không chỉ ra đượch
sự khác nhau về tỷ lệ sinh trưởng của các thành phần cơ thể trong khoảng thời
gian ở các độ tuổi khác nhau. ở đà điểu khối lượng cơ thể được theo dõi bằng
tuần tuổi với đơn vị tính là g/con hoặc kg/con.
* Sinh trưởng tuyệt đối
Sinh trưởng tuyệt đối chính là sự gia tăng về khối lượng sống trung
bình trong một ngày đêm, hay sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích
Báo cáo tốt nghiệp
trong một khoảng thời gian giữa 2 lần kiểm soát .Sinh trưởng tuyệt đối còn
được gọi là năng lực sinh trưởng, đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng
parabol. Sinh trưởng tuyệt đối càng lớn thì hiệu quả chăn nuôi càng cao. Sinh
trưởng tuyệt đối đánh giá được mức độ sinh trưởng nhưng không đánh giá
được cường độ sinh trưởng. Để xem xét khả năng sinh trưởng một cách toàn
diện hơn, người ta phải áp dụng chỉ tiêu sinh trưởng tương đối.
* Sinh trưởng tương đối:
Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, kích
thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát .Đường
cong biểu diễn sinh trưởng tương đối có dạng hình Hypecbol cho thấy sinh
trưởng tương đối giảm theo lứa tuổi. Đơn vị tính sinh trưởng tương đối là %.
2.2.2. Một số yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng
Các tính trạng về sinh trưởng đều là các tính trạng số lượng nên ngoài
phần ảnh hưởng do các yếu tố về bản thân con vật (yếu tố giống, tính biệt)
chúng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, ánh
sáng, phương thức chăn nuôi )
* Ảnh hưởng của giống loài
Tốc độ sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào giống, dòng và bản thân
cá thể. ở các giống gia cầm khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau,
giống gà thịt có tốc độ sinh trưởng cao hơn giống gà kiêm dụng thịt trứng và
giống gà chuyên trứng.
Joap và Monras, 1937 , đã phát hiện những sai khác trong cùng giống
về cường độ sinh trưởng trước 8 tuần tuổi của gà con ở các cặp bố mẹ khác
nhau. Có sự sai khác trên là do di truyền quy định.
Với những tiến bộ trong công tác chọn lọc và tạo giống thì sự khác
nhau về khối lượng cơ thể giữa các giống gia cầm ngày càng lớn. Kết qủa
Ngô Minh Thành Lớp CNTY
K32
nghiên cứu của Nguyễn Huy Đạt và ctv, 1996 , Nguyễn Mạnh Hùng 1994;
Nguyễn Đức Hưng và Ctv, 1994; Phùng Đức Tiến 1996. Cũng đã khẳng định
các giống gia cầm khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau.
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự sai khác nhau về khối lượng cơ thể và
tốc độ sinh trưởng đề cập đến ở phần trên là do yếu tố di truyền. Nhiều tác giả
cho rằng có nhiều đôi gen khác nhau cùng ảnh hưởng tới sinh trưởng và có
nhiều NST thường mang những đôi gen này. Những nghiên cứu sau này cho
rằng có thể có nhiều hơn 15 đôi gen, quy định tốc độ tăng trưởng mặc dù chưa
thật chính xác nhưng cũng cho thấy rõ sự khác nhau về sinh trưởng là do di
truyền và cơ sở là sự di truyền đa gen, trong đó có ít nhất 1 đôi gen về sinh
trưởng liên kết với giới tính. Ưu thế lai có thể có sự đặc biệt đối với tính trạng
khối lượng cơ thể ở giai đoạn gia cầm non và tốc độ sinh trưởng có thể thay
đổi do chọn lọc di truyền.
Marco A.S (1982) cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh trưởng là từ
0,4 - 0,5. Theo tài liệu của Chambers (1990) thì Sirgel và Kiney đã tổng kết
một cách hoàn chỉnh hệ số di truyền về tốc độ sinh trưởng. Kết quả tính toán
qua phân tích phương sai dựa trên thành phần con bố từ 0,4 - 0,6. Theo
Nguyễn Ân và cộng sự (1983) (Dẫn theo Phùng Đức Tiến, 1996) thì hệ số di
truyền về tốc độ sinh trưởng của gà 1 tháng tuổi là 0,33; 2 tháng tuổi là 0,46;
3 tháng tuổi là 0,43.
* Ảnh hưởng của tính biệt
Ở gia cầm, giữa 2 loại tính biệt có sự khác nhau về khả năng sinh
trưởng. Theo Jull M.A (Dẫn theo Phùng Đức Tiến) (1996) thì gà trống có tốc
độ sinh trưởng hơn gà mái 24-32%. Các tác giả này cũng cho biết, sự sai khác
này do gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống (2NST giới tính) hoạt
động mạnh hơn ở gà mái (1 NST). Sự sai khác về mặt sinh trưởng do giới tính
Báo cáo tốt nghiệp
còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng gà phát triển nhanh so với các dòng gà
phát triển chậm
North M.O 1990 (Dẫn theo Nguyễn Khắc Thịnh, 2005) cho biết khối
lượng gà con 1 ngày tuổi tương quan dương với khối lượng trứng giống đưa
vào ấp, song không ảnh hưởng tới khối lượng gà lúc thành thục và cường độ
sinh trưởng ở 4 tuần tuổi. Song lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi
càng tăng sự khác nhau càng lớn ở 2 tuần tuổi hơn 5%, 3 tuần tuổi hơn 11%;
8 tuần tuổi hơn 27%. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1992), Phạm Quang
Hoán và ctv (1994), cho biết khối lượng gà trống và mái Broiler V135 sai
khác nhau từ 1 tuần tuổi.
* Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông
Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học xác định: trong cùng 1
giống, cùng tính biệt ở gà có tốc độ mọc lông nhanh cũng có tốc độ sinh
trưởng, phát triển tốt hơn.
Theo Phùng Đức Tiến (1996) thì Brandsch và Bichel cho biết tốc độ
mọc lông cũng là 1 đặc tính di truyền. Đây là tính trạng có liên quan đến đặc
điểm trao đổi chất sinh trưởng và phát triển của gia cầm và là chỉ tiêu để đánh
giá sự thành thục sinh dục, Kurhner, K.F (1974) cho rằng tốc độ mọc lông có
liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng, thường gà lớn nhanh thì mọc lông
nhanh và đều hơn ở gà chậm lớn. Hayer và Cs (1970) đã xác định trong cùng
một giống thì gà mái mọc lông đều hơn ở gà trống và tác giả cho rằng ảnh
hưởng của Hormon có tác dụng ngược chiều với gen liên kết với giới tính
quy định tốc độ mọc lông.
* Ảnh hưởng của dinh dưỡng
Gia cầm sử dụng thức ăn nhằm bảo đảm các hoạt động duy trì cơ thể
và sản xuất (sinh trưởng, sản xuất trứng). Năng lượng và Protein là 2 yếu tố
Ngô Minh Thành Lớp CNTY
K32
dinh dưỡng quan trọng nhất trong khẩu phần ăn của gia cầm (Rose, S.P,
1997). Ngoài ra trong dinh dưỡng gia cầm các thành phần như axit béo
khoáng, vitamin và nước cũng không thể thiếu được.
- Ảnh hưởng của năng lượng trong thức ăn: gia cầm có khả năng
chuyển hoá năng lượng từ những Carbon hydrate đơn giản, một vài Carbon
hydrate phức tạp như dầu mỡ, nhưng những Carbon hydrate quá phức tạp như
Cellulose thì gia cầm không thể sử dụng được. Nhu cầu về năng lượng cho
các mục đích thay đổi chất rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh
hưởng hầu hết đến quá trình sản xuất. Theo Rose (1997) nếu hàm lượng năng
lượng trong khẩu phần thay đổi thì gia cầm điều chỉnh sự cân bằng năng
lượng bằng cách thay đổi lượng thức ăn tiêu thụ.
- Ảnh hưởng của protein: trong thức ăn Protein thức ăn chứa 22 axit
amin trong đó có một số axit amin cần thiết mà gia cầm không thể tự tổng hợp
được. Khẩu phần ăn của gia cầm đòi hỏi phải có sự cân bằng các Axit amin
cần thiết mới đáp ứng được dinh dưỡng. Kirchge Bner và Cs (1991) đã chứng
minh sự thiếu hụt Protein trong khẩu phần đến năng suất của gà. Để đạt được
năng suất tối ưu và rút ngắn thời gian nuôi dưỡng của gà thịt, trong thí
nghiệm của Vogt (1990) đã tìm ra protein thích hợp trong khẩu phần là 118g
protein/MJ ME, với khẩu phần này khối lượng của gà thịt khi kết thúc thí
nghiệm đạt lớn nhất. Bên cạnh đưa ra hàm lượng protein, năng lượng thích
hợp, người ta phải tính đến tỷ lệ protein/năng lượng. Nếu hàm lượng protein
trong khẩu phần quá cao gây tình trạng tích luỹ mỡ trong cơ thể.
* Ảnh hưởng của cấu trúc cơ thể
Trong chăn nuôi mỗi loại gia súc gia cầm với hưởng sản xuất khác
nhau đều có những đặc điểm về ngoại hình, thể chất khác nhau. Đánh giá con
vật qua ngoại hình phối hợp với kích thước các chiều đo là một nội dung quan
trọng trong công tác giống.
Báo cáo tốt nghiệp
Ở gia cầm kích thước và khối lượng của xương có tầm quan trọng lớn
đối với khối lượng và hình dạng cơ thể, quan hệ giữa khối lượng cơ thể và tốc
độ lớn và chiều dài đùi cũng như chiều dài xương ngực và chiều rộng ngực
với chất lượng thịt có tầm quan trọng đặc biệt. Theo Pingel và Cs, 1969 ở
gia cầm giữa độ dày cơ ngực và tỷ lệ phần trăm thịt lườn có mối tương quan
dương. Negin và Cs 1981 cho biết kích thước các chiều đo có liên quan rõ rệt
đến khối lượng cơ thể.
Ngoài các yếu tố trên, các yếu tố ngoại cảnh: nhiệt độ, ánh sáng, mật độ
nuôi có ảnh hưởng đáng kể tới khả năng sinh trưởng của gia cầm. Các yếu tố
ngoại cảnh trên có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp qua việc thu nhận
thức ăn, tỷ lệ tiêu hoá hấp thụ các chất dinh dưỡng và bệnh tật qua đó ảnh
hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm.
2.2.3. Cơ sở khoa học của hiệu quả sử dụng thức ăn
2.2.3.1. Đặc điểm cấu tạo cơ quan tiêu hoá của Đà điểu
Đà điểu thuộc lớp chim vì thế về mặt giải phẫu học của hệ thống tiêu
hoá của chúng có những đặc điểm chung và có những nét đặc trưng riêng. Đà
điểu là loài dạ dày đơn. Chúng không có diều mà chỉ có thực quản phình to 1
cách đặc trưng. Trong biểu mô có rất nhiều tuyến và quá trình tiết chất nhầy
sẽ di chuyển thức ăn bên trong. Thành thực quản có hệ thống cơ rất chắc (cơ
tròn) (Jaroslaw Olaw Horbanczuk, 2002). Dạ dày của Đà điểu bao gồm 1
phần tuyến và 1 phần cơ (mề). Khác với hầu hết các loài chim, chức năng tiêu
hoá của men hay dịch vị nằm trong giới hạn một vùng ở trên bờ cong lớn của
mề. Diện tích vùng này là 1 × 5 × 24 cm, chiếm 25% diện tích bên trong vùng
dạ dày truyền đồng thời có chức 300 tuyến, tuyến này tiết ra axit Clohydric và
men Pepxin.
Phần nối giữa dạ dày tuyến và dạ dày cơ đủ rộng để cho thức ăn chuyển
từ dạ dày tuyến vào dạ dày cơ (mề) và được nghiền nát trong này.
Ngô Minh Thành Lớp CNTY
K32
Trong phần tuyến, thức ăn phụ thuộc vào hoạt động của các enzyme tiêu hoá
(pH = 2,8 trong cơ quan này) trong khi đó ở mề thức ăn ăn vào và bị tiêu hoá
1 phần tiếp tục bị nghiền với sự hỗ trợ của đá và sỏi mà chúng đã nuốt vào
bụng. Mề của 1 con Đà điểu trưởng thành có thể chứa được 1,5 kg đá
(Jaroslaw Olaw Horbanczuk, 2002). Độ dày của các cơ trong thành dạ dày đạt
92mm và bao gồm chủ yếu các cơ mề và được bao bọc bởi 1 biểu mô có các
nếp gấp sâu. Phần còn lại trong mề tiếp tục di chuyển xuống dưới ruột non
nơi có vô số các tuyến sẽ tiết ra dịch ruột. Màng chất nhầy có hình dạng của
lông thành ruột - sự chuyển của chúng sẽ khiến hấp thụ được 1 phần chất dinh
dưỡng. Tá tràng cuộn tròn với tuyến tuỵ nằm ở giữa chúng. ở đà điểu còn một
đoạn tá tràng nữa với các đoạn gấp khúc nằm phía bên trái (Từ giữa bụng tới
phần cuối bụng). Ở đà điểu nếu rạch một đường giữa bụng ta có thể thấy 2
manh tràng lớn nằm vắt chéo từ bên phải sang trái theo hướng đuôi, chúng có
nhiều nếp gấp tạo nên một cái túi. Đôi manh tràng khá dài (mỗi phần dài 50 –
100 cm) có dạng gấp xoáy trôn ốc bên trong có màng chất nhầy khiến cho quá
trình trộn thành phần tiêu hoá được thực hiện, đồng thời kích thích quá trình
lên men. Ruột già của đà điểu cuộn thành nhiều đoạn gấp khúc nằm ở phần
bên phải của phần dưới bụng (gần đuôi) dài khoảng 10 - 12 m. Ngoài chức
năng hấp thụ nước thì quá trình lên men các thành phần tiêu hoá sẽ xảy ra ở
đó (tương tự như trong manh tràng). Do sự có mặt của các vi thực vật nên
chất sơ cũng được tiêu hoá và sản sinh ra các axit béo không ổn định chủ yếu
là acetic, propionic, butyric và valeric mà sau khi hấp thụ sẽ cung cấp 76% tất
cả các năng lượng có chuyển hoá cần thiết cho nhu cầu của Đà điểu . Khác
với các loại gia cầm khác, Đà điểu thải phân và nước tiểu ra ngoài theo các
đường khác nhau.
Tổng chiều dài trung bình đường tiêu hoá của Đà điểu trưởng thành với
cân nặng 105 - 131 kg sống trong tự nhiên lên tới khoảng 24m (với hầu hết
Báo cáo tốt nghiệp
chiều dài là thực quản và 2 phần của manh tràng). Chiều dài đường tiêu hoá
(không có thực quản) của con non như sau: 1.090cm với trọng lượng cơ thể
7kg ;1.236 cm với 21 kg và 1.562 cm với 46 kg . Ruột non là phần dài nhất
của đường tiêu hoá - khoảng 50% trong tổng số. Ở đà điểu sự kéo dài của
phần ruột sau, nhất là sự phát triển của manh tràng là một biến đổi đặc trưng
của bộ máy tiêu hoá để thích ứng với tiêu hoá thức ăn thô xanh đã so sánh tỷ
lệ phần trăm ruột già và đôi manh tràng so với chiều dài đường tiêu hoá (kể từ
ruột non) ở Đà điểu, Emu và gà lần lượt là: 64%, 11,5%, 10%. Đà điểu 45kg
có chiều dài ruột non là 5,4m, ruột già là 8,6m, chiều dài đôi manh tràng là
1,29m. Sự kéo dài của phần ruột sau của đà điểu cũng như quá trình tiêu hoá vi
sinh vật đã làm chậm tốc độ chuyển hoá thức ăn và vào khoảng 32 - 48h so với 6h
ở Emu và 4h ở gà. ở đà điểu non (5 - 10 kg) có tốc độ tiêu hoá thức ăn rất chậm:
39 h.
Sinh lý tiêu hoá của đà điểu dường như rất khác so với các loại gia cầm
khác. Do đó, việc nghiên cứu sâu hơn các nhu cầu dinh dưỡng để đáp ứng cho
ngành chăn nuôi mới mẻ này là rất cần thiết.
2.2.3.2. Thức ăn xanh trong chăn nuôi đà điểu
Trong tự nhiên, đà điểu chủ yếu ăn cỏ. Sau khi thuần hoá chúng vẫn
được nuôi rộng rãi trên cánh đồng cỏ hoặc thảm cỏ thực vật tự nhiên. Sống
trên vùng Xavan Châu Phi rìa xa mạc với đặc điểm thảm thực vật rất hạn chế
và nghèo nàn nên Ostrich có khả năng tận dụng thức ăn tốt hơn bò Zebu, cừu
hay dê, vì thế lý giải tại sao nhu cầu dinh dưỡng của chúng lại thấp đến như
vậy (Kreibich A.J, Sommer M, 1994).
Những nỗ lực đầu tiên cho chăn nuôi đà điểu chỉ để lấy lông, sau này
da và thịt mới trở thành một ngành công nghiệp đòi hỏi đà điểu phải tăng
trọng , phát triển nhanh cho nên người ta chỉ chú trọng cho ăn thức ăn tinh.
Nhưng cho ăn chuyên sâu trên cơ sở loại thức ăn tinh đắt đỏ có chứa hàm
Ngô Minh Thành Lớp CNTY
K32
lượng thức ăn tinh và cacbon-hydrat cao là phi kinh tế do Ostrich càng trưởng
thành thì khả năng tận dụng hữu hiệu thức ăn có chứa hàm lượng xơ cao.
Thức ăn xanh là loại thức ăn mà đà điểu thường xuyên sử dụng ở dạng
tươi, bao gồm các loại rau, cỏ trồng, cỏ tự nhiên. Thức ăn xanh chiếm tỷ lệ
cao trong khẩu phần của đà điểu…Đây là loại thức ăn dễ tiêu hoá, có tính
ngon miệng, dễ trồng và cho năng suất cao. Đây là loại thức ăn rẻ tiền, có giá
trị dinh dưỡng cao, giầu vitamin, như: vitamin nhóm B, vitamin E, caroten…
ở một số loại cỏ cón có chứa một số axit amin như: arginin, axit glutamic,
lyzin…
Do cấu trúc đặc trưng của hệ thống tiêu hoá nên thức ăn thô xanh đóng
vai trò rất lớn trong chăn nuôi đà điểu. Thức ăn xanh không những cung cấp
cho đà điểu chất dinh dưỡng, nguồn nước tinh khiết, chất khoáng, vitamin mà
còn có tác dụng nhuận tràng, tăng cường nhu động ruột, giúp cho đà điểu
hoàn thiện chức năng tiêu hóa.Theo Swart và cs thì đà điểu có khả năng tiêu
hóa được từ 38-60% chất xơ trong khẩu phần đồng thời cung cấp khoảng
76% tổng nhu cầu năng lượng trao đổi của cơ thể.
Tỉ phần cỏ xanh trong khẩu phần thức ăn của con trưởng thành có thể
đạt tới 60% khẩu phần ăn hàng ngày, do đó chi phí cho thức ăn giảm rõ rệt.
Chính vì vậy việc nghiên cứu và sử dụng nguồn thức ăn thô xanh phù
hợp cho từng lứa tuổi là rất cần thiết.
2.2.3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn
Đối với gia súc, gia cầm thức ăn được ăn một phần để duy trì cơ thể,
còn một phần để tăng trọng và cho sản phẩm.
Tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm của vật nuôi có liên quan trực tiếp
tới đặc điểm, khả năng tiêu hoá và trao đổi chất ở cơ thể con vật. Vì vậy tìm
hiểu về đặc trưng đó giúp các nhà chăn nuôi có thể đưa ra chế độ dinh dưỡng
cho phù hợp.
Báo cáo tốt nghiệp
Hiệu quả sử dụng thức ăn được định nghĩa là mức độ tiêu tốn thức ăn
cho một đơn vị sản phẩm. Trong chăn nuôi gia súc gia cầm lấy thịt, thì tăng
trọng là kết quả của quá trình chuyển hoá thức ăn. Tiêu tốn thức ăn được xác
định bằng khối lượng thức ăn trên một đơn vị sản phẩm. Đây là chỉ tiêu kinh
tế, kỹ thuật quan trọng, vì chi phí thức ăn chiếm tới 70% giá thành sản phẩm.
Bảng 1.1. Kết quả nuôi đà điểu từ 1 – 12 tháng tuổi
Tuổi
(Tháng)
KL
(kg)
STTĐ
(g/con/ngày)
LTĂTN
(g/con/ngày)
HQSDTĂ
(kgTA/con)
1 4,0 105 220 2,10
2 11,0 233 440 1,89
3 19,5 283 680 2,40
4 28,5 300 820 2,73
5 39,5 367 1.220 3,34
6 52,1 420 1.490 3,55
7 63,4 375 1.630 4,35
8 73,3 330 1.710 5,18
9 82,4 305 1.760 5,77
10 91,0 287 1.800 6,27
11 96,3 177 2.160 11,90
12 99,9 120 2.210 18,41
* Ghi chú: KL - Khối lượng
STTĐ - Sinh trưởng tuyệt đối
LTATN - Lượng thức ăn thu nhận
HQSDTA - Hiệu quả sử dung thức ăn.
Nguồn của Niekerk và Muller

Xem chi tiết: Chăn nuôi đà điểu


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét