1. Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì các chủ
nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
A) Ngày, tháng, năm làm đơn;
B) Tên, địa chỉ của người làm đơn;
C) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;
D) Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đến hạn mà
không được doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán;
Đ) Quá trình đòi nợ;
E) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.
3. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải được gửi cho Toà án có thẩm quyền quy
định tại Điều 7 của Luật này.
Điều 14. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động
1. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được lương, các khoản nợ
khác cho người lao động và nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản thì người lao động cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
Đại diện cho người lao động được cử hợp pháp sau khi được quá nửa số người
lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ
ký; đối với doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô lớn, có nhiều đơn vị trực thuộc thì đại
diện cho người lao động được cử hợp pháp phải được quá nửa số người được cử làm
đại diện từ các đơn vị trực thuộc tán thành.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
A) Ngày, tháng, năm làm đơn;
B) Tên, địa chỉ của người làm đơn;
C) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;
D) Số tháng nợ tiền lương, tổng số tiền lương và các khoản nợ khác mà doanh
nghiệp, hợp tác xã không trả được cho người lao động;
Đ) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.
3. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải được gửi cho Toà án có thẩm quyền
quy định tại Điều 7 của Luật này.
4. Sau khi nộp đơn, đại diện cho người lao động hoặc đại diện công đoàn được coi
là chủ nợ.
5
Điều 15. Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
1. Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì chủ
doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
A) Ngày, tháng, năm làm đơn;
B) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã;
C) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.
3. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải được gửi cho Toà án có thẩm quyền
quy định tại Điều 7 của Luật này.
4. Phải nộp kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản các giấy tờ, tài liệu sau
đây:
A) Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã, trong đó
giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả năng thanh toán;
nếu doanh nghiệp là công ty cổ phần mà pháp luật yêu cầu phải được kiểm toán thì báo
cáo tài chính phải được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận;
B) Báo cáo về các biện pháp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện, nhưng
vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến
hạn;
C) Bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa điểm nơi có tài
sản nhìn thấy được;
D) Danh sách các chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ tên, địa
chỉ của các chủ nợ; ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo
đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và không có bảo
đảm;
Đ) Danh sách những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ tên,
địa chỉ của họ; ngân hàng mà họ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và
không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm;
E) Danh sách ghi rõ tên, địa chỉ của các thành viên, nếu doanh nghiệp mắc nợ là
một công ty có các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về những khoản nợ của doanh
nghiệp;
G) Những tài liệu khác mà Toà án yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải cung
cấp theo quy định của pháp luật.
5. Trong thời hạn ba tháng, kể từ khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản, nếu chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp
tác xã không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì phải chịu trách nhiệm theo quy
định của pháp luật.
Điều 16. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu doanh nghiệp
nhà nước
1. Khi nhận thấy doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng phá sản mà doanh
nghiệp không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì đại diện chủ sở
6
hữu của doanh nghiệp có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh
nghiệp đó.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu
được thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này.
Điều 17. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các cổ đông công ty cổ
phần
1. Khi nhận thấy công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản thì cổ đông hoặc
nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của điều lệ
công ty; nếu điều lệ công ty không quy định thì việc nộp đơn được thực hiện theo nghị
quyết của đại hội cổ đông. Trường hợp điều lệ công ty không quy định mà không tiến
hành được đại hội cổ đông thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần
phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản đối với công ty cổ phần đó.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu
được thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này, trừ các giấy tờ, tài liệu quy định
tại các điểm d, đ và e khoản 4 Điều 15 của Luật này.
Điều 18. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của thành viên hợp
danh
1. Khi nhận thấy công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản thì thành viên hợp
danh có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty hợp danh đó.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu
được thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này.
Điều 19. Nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản
1. Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản quy định tại các điều 13, 14, 15,
16, 17 và 18 của Luật này có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu do pháp
luật quy định và theo yêu cầu của Toà án trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản.
2. Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản do không khách quan gây ảnh hưởng
xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc có sự
gian dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản thì tuỳ theo tính chất, mức độ mà bị xử lý
kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 20. Thông báo doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
1. Trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, nếu nhận thấy doanh nghiệp, hợp
tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan thanh tra, cơ
quan quản lý vốn, tổ chức kiểm toán hoặc cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp
mà không phải là chủ sở hữu nhà nước của doanh nghiệp có nhiệm vụ thông báo bằng
văn bản cho những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản biết để họ
xem xét việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
2. Cơ quan thông báo phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông báo đó.
7
Điều 21. Phí phá sản và tạm ứng phí phá sản
1. Phí phá sản được dùng để tiến hành thủ tục phá sản. Toà án quyết định việc nộp
phí phá sản trong từng trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
2. Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp tiền tạm ứng phí phá sản
theo quyết định của Toà án, trừ trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
là người lao động quy định tại Điều 14 của Luật này.
3. Phí phá sản do ngân sách nhà nước tạm ứng trong các trường hợp sau đây:
A) Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc trường hợp không phải nộp
tiền tạm ứng phí phá sản;
B) Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp tiền tạm ứng phí phá sản
không có tiền để nộp, nhưng có các tài sản khác.
Phí phá sản do ngân sách nhà nước tạm ứng được hoàn trả lại cho ngân sách nhà
nước lấy từ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Điều 22. Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
1. Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu thấy cần sửa đổi
đơn, bổ sung tài liệu thì Toà án yêu cầu người nộp đơn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung
trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Toà án.
2. Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, kể từ ngày người nộp đơn xuất
trình biên lai nộp tiền tạm ứng phí phá sản. Trường hợp người nộp đơn không
phải nộp tiền tạm ứng phí phá sản thì ngày thụ lý đơn là ngày Toà án nhận được đơn.
Toà án phải cấp cho người nộp đơn giấy báo đã thụ lý đơn.
Điều 23. Thông báo việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
1. Trường hợp người nộp đơn không phải là chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp
pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì trong thời hạn năm
ngày, kể từ ngày thụ lý đơn, Toà án phải thông báo cho doanh nghiệp, hợp tác xã đó
biết.
2. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án,
doanh nghiệp, hợp tác xã phải xuất trình cho Toà án các giấy tờ, tài liệu quy định tại
khoản 4 Điều 15 của Luật này; nếu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
là người bảo lãnh cho người khác thì trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được
thông báo của Toà án, doanh nghiệp, hợp tác xã phải thông báo việc mình bị yêu cầu mở
thủ tục phá sản cho những người có liên quan biết.
Điều 24. Trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Toà án ra quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong những trường
hợp sau đây:
1. Người nộp đơn không nộp tiền tạm ứng phí phá sản trong thời hạn do Toà án
ấn định;
8
2. Người nộp đơn không có quyền nộp đơn;
3. Có Toà án khác đã mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản;
4. Có căn cứ rõ ràng cho thấy việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản do không
khách quan gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, hợp tác xã hoặc có sự gian dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản;
5. Doanh nghiệp, hợp tác xã chứng minh được mình không lâm vào tình trạng
phá sản.
Điều 25. Khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
1. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được quyết định của Toà án trả lại
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, người làm đơn có quyền khiếu nại với Chánh án Toà
án đó.
2. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại đối với quyết
định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Chánh án Toà án phải ra một trong các
quyết định sau đây:
A) Giữ nguyên quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
B) Huỷ quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và thụ lý đơn theo quy
định của Luật này.
Điều 26. Chuyển việc giải quyết phá sản cho Toà án khác; giải quyết tranh
chấp về thẩm quyền
1. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nếu thấy việc giải quyết phá sản
không thuộc thẩm quyền của mình thì Toà án đã thụ lý đơn chuyển việc giải quyết phá sản
cho Toà án có thẩm quyền và thông báo cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
biết.
2. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện trong cùng
một tỉnh do Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.
Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh
khác nhau hoặc giữa các Toà án nhân dân cấp tỉnh do Chánh án Toà án nhân dân tối cao
giải quyết.
Điều 27. Tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản thực hiện nghĩa vụ về tài sản
Kể từ ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, việc giải quyết các yêu
cầu sau đây đòi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện nghĩa vụ
về tài sản phải tạm đình chỉ:
1. Thi hành án dân sự về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi
hành án;
2. Giải quyết vụ án đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản;
9
3. Xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với các chủ nợ có bảo
đảm, trừ trường hợp được Toà án cho phép.
Điều 28. Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản
1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản, Toà án phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.
2. Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản khi có các căn cứ chứng minh doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Trong trường hợp cần thiết, trước khi ra
quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của
người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp
của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ chức có liên
quan để xem xét, kiểm tra các căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản.
3. Quyết định mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
A) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
B) Tên của Toà án; họ và tên Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản;
C) Ngày và số thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; tên, địa chỉ của người làm
đơn yêu cầu;
D) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;
Đ) Thời gian, địa điểm khai báo của các chủ nợ và hậu quả pháp lý của việc
không khai báo.
4. Toà án ra quyết định không mở thủ tục phá sản nếu xét thấy doanh nghiệp, hợp
tác xã chưa lâm vào tình trạng phá sản.
Điều 29. Thông báo quyết định mở thủ tục phá sản
1. Quyết định của Toà án về mở thủ tục phá sản được gửi cho doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản, Viện kiểm sát cùng cấp và đăng trên báo địa phương nơi
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có địa chỉ chính, báo hàng ngày
của trung ương trong ba số liên tiếp.
2. Quyết định của Toà án về mở thủ tục phá sản phải được thông báo cho các chủ
nợ, những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
3. Thời hạn gửi và thông báo quyết định mở thủ tục phá sản quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này là bảy ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.
Điều 30. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi có
quyết định mở thủ tục phá sản
1. Mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi có quyết định
mở thủ tục phá sản vẫn được tiến hành bình thường, nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm
tra của Thẩm phán và Tổ quản lý, thanh lý tài sản.
2. Trong trường hợp xét thấy người quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã không có
khả năng điều hành hoặc nếu tiếp tục điều hành hoạt động kinh doanh sẽ không có lợi cho
10
việc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã thì theo đề nghị của Hội nghị chủ nợ,
Thẩm phán ra quyết định cử người quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, hợp tác xã.
Điều 31. Các hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm hoặc bị hạn chế
1. Kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, nghiêm cấm doanh
nghiệp, hợp tác xã thực hiện các hoạt động sau đây:
A) Cất giấu, tẩu tán tài sản;
B) Thanh toán nợ không có bảo đảm;
C) Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;
D) Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản
của doanh nghiệp.
2. Sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, các hoạt động sau đây
của doanh nghiệp, hợp tác xã phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán trước
khi thực hiện:
A) Cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng cho, cho thuê tài sản;
B) Nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng;
C) Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
D) Vay tiền;
Đ) Bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản;
E) Thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, hợp tác xã và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã.
Điều 32. Khiếu nại quyết định không mở thủ tục phá sản
1. Quyết định không mở thủ tục phá sản phải được Toà án gửi cho người làm đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
không mở thủ tục phá sản, người làm đơn yêu cầu có quyền khiếu nại với Chánh án
Toà án đó.
2. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại đối với quyết định
không mở thủ tục phá sản, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:
A) Giữ nguyên quyết định không mở thủ tục phá sản;
B) Huỷ quyết định không mở thủ tục phá sản và ra quyết định mở thủ tục phá sản.
CHƯƠ N G I II
NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢ N
Điều 33. Xác định nghĩa vụ về tài sản
Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
được xác định bằng:
11
1. Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản được xác
lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà nghĩa vụ này không có bảo
đảm;
2. Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản có bảo
đảm được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng quyền
ưu tiên thanh toán đã bị huỷ bỏ.
Điều 34. Xử lý các khoản nợ chưa đến hạn
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp,
hợp tác xã thì các khoản nợ chưa đến hạn vào thời điểm mở thủ tục thanh lý được xử lý
như các khoản nợ đến hạn, nhưng không được tính lãi đối với thời gian chưa đến hạn.
Điều 35. Xử lý các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm
cố
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp,
hợp tác xã thì các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác
lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán
bằng tài sản đó; nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ thì
phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh
lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Điều 36. Hoàn trả lại tài sản cho Nhà nước
Doanh nghiệp đã được Nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản để phục
hồi hoạt động kinh doanh, nhưng vẫn không phục hồi được mà phải áp dụng thủ tục
thanh lý thì phải hoàn trả lại giá trị tài sản đã được áp dụng biện pháp đặc biệt cho Nhà
nước trước khi thực hiện việc phân chia tài sản theo quy định tại Điều 37 của Luật này.
Điều 37. Thứ tự phân chia tài sản
1. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã thì việc phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo
thứ tự sau đây:
A) Phí phá sản;
B) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của
pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã
ký kết;
C) Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ
nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ
đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán
các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ
lệ tương ứng.
12
2. Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán
đủ các khoản quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:
A) Xã viên hợp tác xã;
B) Chủ doanh nghiệp tư nhân;
C) Các thành viên của công ty; các cổ đông của công ty cổ phần;
D) Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước.
3. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanh đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì việc thanh toán được thực hiện theo thứ tự
quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Điều 38. Xác định giá trị của nghĩa vụ không phải là tiền
Trường hợp đối tượng nghĩa vụ không phải là tiền thì theo yêu cầu của người có
quyền hoặc của doanh nghiệp, hợp tác xã, Toà án xác định giá trị của nghĩa vụ đó vào
thời điểm ra quyết định mở thủ tục phá sản để đưa vào nghĩa vụ về tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã.
Điều 39. Nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh
1. Trường hợp nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ liên đới về một khoản
nợ mà một hoặc tất cả các doanh nghiệp, hợp tác xã đó lâm vào tình trạng phá sản thì
chủ nợ có quyền đòi bất cứ doanh nghiệp, hợp tác xã nào trong số các doanh nghiệp,
hợp tác xã đó thực hiện việc trả nợ cho mình theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp người bảo lãnh lâm vào tình trạng phá sản thì người được bảo lãnh
phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh.
3. Trường hợp người được bảo lãnh hoặc cả người bảo lãnh và người được bảo
lãnh đều lâm vào tình trạng phá sản thì người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản
đối với người nhận bảo lãnh.
Điều 40. Trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp
dụng thủ tục thanh lý
1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định mở thủ tục
thanh lý, chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý
thuê hoặc mượn tài sản để dùng vào hoạt động kinh doanh phải xuất trình giấy tờ
chứng minh quyền sở hữu, hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn với Tổ trưởng Tổ quản
lý, thanh lý tài sản để nhận lại tài sản của mình. Trong trường hợp có tranh chấp thì yêu
cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý đã trả trước
tiền thuê nhưng chưa hết thời hạn thuê thì chủ sở hữu chỉ được nhận lại tài sản sau khi
đã thanh toán lại số tiền thuê còn thừa do chưa hết thời hạn để Tổ quản lý, thanh lý tài
sản nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
3. Trường hợp tài sản thuộc quyền đòi lại đã bị doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp
dụng thủ tục thanh lý chuyển nhượng cho người khác thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu
bồi thường đối với tài sản đó như khoản nợ có bảo đảm.
13
Điều 41. Cấm đòi lại tài sản
Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào đã giao tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đều không
được đòi lại nếu việc giao tài sản đó nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình đối
với doanh nghiệp, hợp tác xã.
Điều 42. Nhận lại hàng hoá đã bán
Người bán đã gửi hàng hoá cho người mua là doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản nhưng chưa được thanh toán và người mua cũng chưa nhận được
hàng hoá thì người bán được nhận lại hàng hoá đó.
CHƯƠ N G I V
CÁC B I ỆN PHÁP B Ả O TOÀN TÀI SẢN
Điều 43. Các giao dịch bị coi là vô hiệu
1. Các giao dịch sau đây của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
được thực hiện trong khoảng thời gian ba tháng trước ngày Toà án thụ lý đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu:
A) Tặng cho động sản và bất động sản cho người khác;
B) Thanh toán hợp đồng song vụ trong đó phần nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác
xã rõ ràng là lớn hơn phần nghĩa vụ của bên kia;
C) Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn;
D) Thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khoản nợ;
Đ) Các giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
2. Khi các giao dịch quy định tại khoản 1 Điều này bị tuyên bố vô hiệu thì những
tài sản thu hồi được phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Điều 44. Quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu
1. Trong quá trình Toà án tiến hành thủ tục phá sản, chủ nợ không có bảo đảm,
Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố các giao dịch của doanh
nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này là vô hiệu.
2. Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định
của Toà án tuyên bố giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã là vô hiệu để thu hồi lại tài sản
cho doanh nghiệp, hợp tác xã.
Điều 45. Đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực
1. Trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản nếu xét thấy việc đình chỉ thực hiện
hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện sẽ có lợi
hơn cho doanh nghiệp, hợp tác xã thì hợp đồng đó bị đình chỉ thực hiện.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét