Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Bộ Câu hỏi và đáp án cuộc thi tìm hiểu Công đoàn Việt nam – 80 năm, Một chặng đường lịch sử

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Bộ Câu hỏi và đáp án cuộc thi tìm hiểu
Công đoàn Việt nam – 80 năm, Một chặng đường lịch sử
***
Phần I. Câu hỏi của TLĐLĐ Việt Nam
Câu hỏi 1: Đồng chí hãy cho biết, tổ chức Công đoàn Việt Nam được
thành lập vào ngày, tháng, năm nào? Do ai sáng lập?
Trả lời: Đại hội V Công đoàn Việt Nam (tháng 2 năm 1983) đã quyết
định lấy ngày 28/7/1929, ngày thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ làm ngày
truyền thống của Công đoàn Việt Nam. Quá trình hình thành và ra đời của tổ
chức Công đoàn Việt Nam gắn liền với tên tuổi và cuộc đời hoạt động của đồng
chí Nguyễn ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) - lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công
nhân vàdântộc Việt Nam.
Những năm tháng hoạt động trong phong trào công nhân và Công đoàn
Quốc tế, Bác đã nghiên cứu hình thức tổ chức Công đoàn ở các nước tư bản,
thuộc địa và nửa thuộc địa. Từ đó rút ra kinh nghiệm thực tiễn, đặt cơ sở lý luận
và hình thức tổ chức cho Công đoàn Việt Nam.
Trong tác phẩm "Đường Kách mệnh”, Bác viết: "Tổ chức Công hội trước
là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với
nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn
là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho
thế giới" .
Có thể nói, trên bước đường đi tới chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập các
tổ chức cộng sản ở Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã quan tâm rất sớm đến
tổ chức quần chúng của giai cấp công nhân. Quá trình Người chuẩn bị về tư
tưởng và tổ chức cho sự thành lập một chính Đảng vô sản cũng là quá trình
Người xây dựng cơ sở lý luận và biện pháp tổ chức Công đoàn Cách mạng.
Từ năm 1925 đến 1928, nhiều Công hội bí mật đã hình thành do sự hoạt
động mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đặc biệt từ năm
1928, khi kỳ bộ Bắc kỳ của Việt Nam Cách mạng Thanh niên đồng chí Hội chủ
trương thực hiện "Vô sản hoá" thì phong trào đấu tranh của công nhân Việt
Nam ngày càng sôi nổi, thúc đẩy sự phát triển của tổ chức công hội lên một
bước mới cả về hình thức lẫn nội dung hoạt động.
1
Năm 1929 là thời điểm phong trào công nhân và hoạt động công hội ở
nước ta phát triển sôi nổi nhất, đặc biệt là ở miền Bắc. Các cuộc đấu tranh của
công nhân nổ ra liên tục ở nhiều xí nghiệp, có sự phối hợp chặt chẽ và thống
nhất hành động giữa các cuộc đấu tranh ở xí nghiệp này với xí nghiệp khác
trong cùng một địa phương và giữa địa phương này với địa phương khác trong
toàn xứ.
Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân và tổ chức công hội đòi
hỏi phải có một tổ chức Mác xít, một Đảng thực sự Cách mạng của giai cấp
công nhân có khả năng tập hợp, lãnh đạo công nhân đấu tranh giành độc lập tự
do. Tháng 3/1929, chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở Hà Nội. Tiếp đến,
ngày 17/6/1929, Đông Dương cộng sản Đảng ra đời. Đông Dương Cộng sản
Đảng giao cho đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, ủy viên lâm thời phụ trách công tác
công vận của Đảng triệu tập Đại hội thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ vào
ngày 28/7/1929 tại nhà số 15, phố Hàng Nón, Hà Nội. Đại hội bầu đồng chí
Nguyễn Đức Cảnh là người đứng đầu Ban Chấp hành lâm thời Tổng Công hội
Đỏ Bắc Kỳ.
Sự kiện thành lập Tổng Công hội đỏ miền Bắc Việt Nam là một mốc son
chói lọi trong lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam. Lần đầu
tiên giai cấp công nhân Việt Nam có một đoàn thể Cách mạng rộng lớn, hoạt
động có tôn chỉ, mục đích, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo
công nhân lao động. Chính vì ý nghĩa đó, theo đề nghị của Tổng Liên đoàn Lao
động Việt Nam, Bộ chính trị TW Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định lấy ngày
28/7/1929 là ngày truyền thống của Công đoàn Việt Nam.
Câu hỏi 2: : Đồng chí hãy cho biết từ khi thành lập đến nay Công đoàn
Việt Nam đã trải qua mấy kỳ Đại hội? Mục tiêu, ý nghĩa của các kỳ Đại hội?
Trả lời: Từ khi thành lập đến nay, Công đoàn Việt Nam đã trải qua 10 kỳ
Đại hội.
Đại hội lần thứ I Công đoàn Việt Nam đã họp từ ngày 1 đến ngày
15/1/1950 tại xã Cao Vân, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, chiến khu Việt Bắc.
Tham dự có gần 200 đại biểu của giai cấp công nhân Việt Nam. Đại hội đã bầu
Đồng chí Hoàng Quốc Việt làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh Tuyên được bầu
làm Tổng Thư ký.
Mục tiêu của Đại hội là: “Động viên công nhân viên chức cả nước, nhất
là công nhân ngành Quân giới sản xuất nhiều vũ khí, khí tài phục vụ cho kháng
chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi”.
2
ý nghĩa:Sự kiện Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ Nhất tháng
01/1950 đánh dấu bước trưởng thành to lớn của giai cấp công nhân và Công
đoàn Việt Nam. Những văn kiện được Đại hội thông qua là sự vận dụng đúng
đắn, cụ thể và sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng vào phong trào đấu tranh
của giai cấp công nhân, là điều kiện thuận lợi cho giai cấp công nhân và tổ chức
Công đoàn hoàn thành những nhiệm vụ mới của cuộc kháng chiến và mở ra một
thời kỳ mới của công tác Công đoàn ở Việt Nam. Đại hội đã giải quyết những
vấn đề lớn trong thống nhất nhận thức và hành động, sửa đổi Điều lệ Công
đoàn, bầu cử chính thức Ban Chấp hành. Đại hội lấy việc thi đua ái quốc làm
trọng tâm công tác
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ II đã họp từ ngày 23 đến ngày
27/2/1961 tại Trường Thương nghiệp, Thủ đô Hà Nội. Tham dự có 752 đại biểu.
Đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh Tuyên
được bầu làm Tổng Thư ký.
Mục tiêu của Đại hội là: “Động viên cán bộ, công nhân, viên chức thi đua
lao động sản xuất, xây dựng CNXH ở miền Bắc, với tinh thần “Mỗi người làm
việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” góp phần đấu tranh thống nhất nước nhà”.
ý nghĩa: Lần đầu tiên trong lịch sử, Đại hội Công đoàn Việt Nam họp ở
Thủ đô Hà Nội, trong bầu không khí hoà bình. Cũng lần đầu tiên trong lịch sử,
Đại hội Công đoàn Việt Nam có các đoàn đại biểu quốc tế được mời và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đến dự. Đại hội đổi tên Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thành
Tổng Công đoàn Việt Nam. Đại hội là cuộc sinh hoạt chính trị quan trọng của
giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn nhằm đưa đường lối của Đảng vào
quần chúng công nhân viên chức. Những vấn đề mà Đại hội quyết định là những
vấn đề quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân
dân ta.
Đại hội lần thứ III Công đoàn Việt Nam đã họp từ ngày 11 đến ngày
14/2/1974 tại Hội trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội. Về dự có 600 đại biểu thay
mặt cho hơn 1 triệu đoàn viên Công đoàn trong cả nước.
Đại hội bầu đồng chí Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà làm Chủ tịch danh dự. Đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ
tịch, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư
ký.
Mục tiêu Đại hội là: “Động viên sức người, sức của chi viện cho chiến
trường, tất cả để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”.
3
ý nghĩa: Đại hội lần thứ III Công đoàn Việt Nam được tiến hành trong lúc
ở nước ta cũng như ở trên khắp năm châu đang diễn ra những chuyển biến lớn
lao có lợi cho phong trào cách mạng của nhân dân các nước.
Đại hội là một sự kiện trọng đại trong đời sống chính trị của đất nước. Đại
hội tiêu biểu cho ý chí của hàng triệu người lao động làm chủ tập thể quyết tâm
biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sản xuất và chiến đấu thời kỳ chống
Mỹ cưú nước thành phong trào sôi nổi thi đua lao động, sản xuất, cần kiệm xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước.
Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ IV đã họp từ ngày 8 đến ngày
11/5/1978 tại Hội trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội. Về dự có 926 đại biểu thay
mặt cho hơn 2 triệu đoàn viên Công đoàn thuộc 39 Liên hiệp Công đoàn địa
phương, 18 Công đoàn ngành Trung ương trong cả nước.
Đại hội đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Linh ( sau này là Tổng Bí thư Ban
Chấp hành Trung ương Đảng ) làm Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được
bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký.
Mục tiêu Đại hội là: “Động viên giai cấp công nhân và những người lao
động khác thi đua lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp
hoá trong cả nước”.
ý nghĩa: Là Đại hội phát huy quyền làm chủ tập thể và ý chí tự lực tự
cường của những người lao động chân tay và lao động trí óc đang hăng say lao
động, tiến công nhằm xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc.
Đại hội là hình ảnh đẹp đẽ của đội ngũ giai cấp công nhân thống nhất, của
tổ chức công đoàn thống nhất, trong nước Việt Nam thống nhất, thành quả của
ngót nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta.
Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng mở đầu một phong
trào cách mạng mới có sức lôi cuốn đông đảo công nhân viên chức và quần
chúng nhân dân trên khắp mọi miền Tổ quốc hăng hái làm việc, thi đua lao động
sản xuất và công tác.
Đại hội lần thứ V Công đoàn Việt Nam tiến hành từ ngày 16 đến ngày
18/11/1983 tại Hội trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội. Về dự có 949 đại biểu thay
mặt cho gần 4 triệu đoàn viên Công đoàn trong cả nước. Đại hội nhất trí lấy
ngày 28/7/1929 ngày thành lập Công hội đỏ Bắc Kỳ là ngày truyền thống Công
đoàn Việt Nam.
4
Đại hội đã bầu Đồng chí Nguyễn Đức Thuận là Chủ tịch, đồng chí Phạm
Thế Duyệt được bầu là Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký. Tháng 2/1987, đồng
chí Phạm Thế Duyệt được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Dương Xuân An được
bầu làm Tổng Thư ký.
Mục tiêu của Đại hội “Động viên công nhân lao động thực hiện 3 chương
trình kinh tế lớn của Đảng. Phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu
dùng, hàng xuất khẩu”.
ý nghĩa: Đại hội lần thứ V Công đoàn Việt Nam diễn ra trong bối cảnh
đất nước ta đang đứng trước một thời kỳ cách mạng hết sức sôi động. Đảng ta,
giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang gánh vác một sứ mệnh trọng đại,
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa. Đây là đại hội hành động của công nhân, viên chức cả nước phát huy
mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, dấy lên các phong trào cách
mạng rộng lớn nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế xã hội tổng quát
trong những năm 80 của thế kỷ XX.
Đại hội lần thứ VI họp từ ngày 17 đến ngày 20/10/1988 tại Hội trường
Ba Đình, Thủ đô Hà Nội. Về dự có 834 đại biểu thay mặt cho gần 4 triệu đoàn
viên Công đoàn trong cả nước. Đại hội đã đổi tên Tổng Công đoàn Việt Nam
thành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam , công đoàn tỉnh, huyện đổi thành
Liên đoàn Lao động. Các chức danh Thư ký Công đoàn gọi là Chủ tịch Công
đoàn. Đại hội VI Công đoàn Việt Nam là đại hội đổi mới của phong trào công
nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam.
Đại hội đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Tư làm Chủ tịch, các đồng chí Cù
Thị Hậu, Dương Xuân An được bầu làm Phó Chủ tịch.
Mục tiêu của Đại hội là: “ Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng vì
“việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội”.
ý nghĩa: Đây là đại hội đầu tiên của giai cấp công nhân và tổ chức Công
đoàn Việt Nam kể từ khi cả nước bước vào thực hiện đường lối đổi mới do Đại
hội lần thứ VI của Đảng khởi xướng. Đại hội đã diễn ra thật sự dân chủ và công
khai theo tinh thần đổi mới của Đảng. “Đại hội đã nêu được ý chí của giai cấp
công nhân Việt Nam trước vận hội mới, thời cơ mới của đất nước… Đại hội đã
ghi một dấu ấn tốt đẹp trong lịch sử Công đoàn Việt Nam và mở ra một giai
đoạn phấn đấu mới, vẻ vang của Công đoàn Việt Nam.
Đại hội đánh dấu một bước sự đổi mới trong tổ chức và hoạt động của
công đoàn nhằm động viên công nhân lao động cả nước phấn đấu thực hiện
5
đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội kêu gọi anh chị em
công nhân, lao động và đoàn viên, cán bộ công đoàn hãy phát huy truyền thống
và bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công nhân, biến Nghị quyết Đại hội
thành hành động thiết thực, biến khẩu hiệu việc làm và đời sống, dân chủ và
công bằng xã hội thành sức mạnh vật chất.
Đại hội VII Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 9 đến ngày 12/11/1993
tại Hội trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội. Về dự có 610 đại biểu thay mặt cho gần
3 triệu đoàn viên Công đoàn thuộc 53 LĐLĐ địa phương, 23 Công đoàn ngành
Trung ương trong cả nước.
Đại hội đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Tư làm Chủ tịch, các đồng chí Cù
Thị Hậu, Hoàng Minh Chúc, Nguyễn An Lương, Hoàng Thị Khánh được bầu
làm Phó Chủ tịch.
Mục tiêu của Đại hội là: “ Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn, góp
phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chăm lo và bảo vệ lợi ích của công nhân
lao động”.
ý nghĩa: Đại hội VII Công đoàn Việt Nam diễn ra trong tình hình đất
nước có nhiều thay đổi lớn. Đại hội đặt ra một vấn đề rất cơ bản là xây dựng,
phát triển giai cấp công nhân về số lượng, nhất là nâng cao về chất lượng; nắm
vững và cụ thể hóa cương lĩnh, chiến lược kinh tế – xã hội và các Nghị quyết
của Đảng, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VIII họp từ ngày 3 đến ngày
6/11/1998 tại Cung Văn hoá Lao động Hữu nghị Việt - Xô, Thủ đô Hà Nội. Về
dự có 898 đại biểu thay mặt cho gần 4 triệu đoàn viên Công đoàn thuộc 61
LĐLĐ địa phương, 18 Công đoàn ngành Trung ương trong cả nước.
Đại hội đã bầu đồng chí Cù Thị Hậu làm Chủ tịch, các đồng chí Nguyễn
An Lương, Đặng Ngọc Chiến, Đỗ Đức Ngọ, Nguyễn Đình Thắng được bầu làm
Phó Chủ tịch.
Mục tiêu của Đại hội là: “Vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, xây dựng giai cấp
công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh”.
ý nghĩa: Đại hội có ý nghĩa rất quan trọng, Đại hội động viên giai cấp
công nhân phát huy truyền thống cách mạng, khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo,
đi tiên phong trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đại hội là cuộc sinh hoạt chính trị quan trọng của giai cấp công nhân và tổ chức
6
Công đoàn nhằm biến những nghị quyết lịch sử của Đại hội Đảng thành khẩu
hiệu phấn đấu hàng ngày của công nhân, viên chức, lao động. Đây là đại hội
chuyển tiếp giữa hai thế kỷ, chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ 21. Sự thành
công của Đại hội tạo ra niềm vui mới, niềm tin mới, động lực mới, sức mạnh
mới, khí thế mới, góp phần đưa khẩu hiệu hành động của Đại hội vào cuộc sống,
vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đối với giai cấp công nhân và tổ chức Công
đoàn, Đại hội mở ra thời kỳ mới, đánh dấu bước ngoặt của phong trào Công
đoàn Việt Nam trong quá trình thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Đại hội IX Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 10 đến ngày 13/10/2003
tại Cung Văn hoá Lao động Hữu nghị Việt - Xô, Thủ đô Hà Nội. Về dự Đại hội
có 900 đại biểu thay mặt cho 4,25 triệu đoàn viên Công đoàn.
Đại hội đã bầu đồng chí Cù Thị Hậu làm Chủ tịch, các đồng chí Đặng
Ngọc Tùng, Nguyễn Hoà Bình, Nguyễn Đình Thắng, Đỗ Đức Ngọ, Đặng Ngọc
Chiến được bầu làm Phó Chủ tịch. Tháng 12/2006, đồng chí Đặng Ngọc Tùng
được bầu làm Chủ tịch. Tháng 9/2007 các đồng chí Hoàng Ngọc Thanh, Mai
Đức Chính, Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn Văn Ngàng được bầu làm Phó Chủ
tịch.
Mục tiêu của Đại hội là: “Xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công
đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
CNVCLĐ, góp phần tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
ý nghĩa: Đại hội lần thứ IX Công đoàn Việt Nam là Đại hội của Đoàn kết,
Trí tuệ, Dân chủ, Đổi mới, thể hiện ý chí, nguyện vọng của giai cấp công nhân
và cán bộ, đoàn viên công đoàn cả nước. Đại hội diễn ra vào những năm đầu thế
kỷ XXI và thiên niên kỷ mới, giữa lúc chúng ta đang tiến hành tổng kết nửa
nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng. Đại hội quyết định mục
tiêu, phương hướng hành động của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn
Việt Nam nhiệm kỳ 2003-2008.
Đại hội X Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 02 đến ngày 05/11/2008 tại
Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt – Xô, Hà Nội với gần 1000 đại biểu
tham dự. Đồng chí Đặng Ngọc Tùng tái đắc cử Chủ tịch và các đồng chí Nguyễn
Hòa Bình, Hoàng Ngọc Thanh, Mai Đức Chính, Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn
7
Văn Ngàng tái đắc cử Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nhiệm
kỳ (2008-2013).
Mục tiêu của Đại hội: “Đổi mới, sáng tạo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động, vì sự phát triển ổn định, bền
vững của đất nước”.
ý nghĩa: Đại hội X Công đoàn Việt Nam thể hiện ý chí quyết tâm, năng
động, sáng tạo của đông đảo CNVCLĐ, đoàn viên và các cấp Công đoàn cả
nước, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, quyết tâm đổi mới toàn diện và
mạnh mẽ tổ chức và phương thức hoạt động công đoàn, góp phần xây dựng giai
cấp công nhân vững mạnh, phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của
Đảng, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”.
Câu hỏi 3: Đồng chí hãy cho biết Đại hội nào được đánh giá là Đại hội
đổi mới? Theo đồng chí quan điểm “ Đổi mới” đó được phát triển như thế nào ở
Đại hội X Công đoàn Việt Nam.
Trả lời:
*Trong các kỳ Đại hội, Đại hội VI Công đoàn Việt Nam được đánh giá là
Đại hội đổi mới, tạo ra bước ngoặt lịch sử cho tổ chức Công đoàn Việt Nam, là
tiền đề đưa phong trào công nhân viên chức lao động và hoạt động Công đoàn
cả nước sang một thời kỳ mới dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội VI của Đảng
cộng sản Việt Nam.
* Kể từ Đại hội VI Công đoàn Việt Nam đến nay quan điểm đổi mới luôn
được kế thừa và phát huy có hiệu quả biểu hiện chung nhất là việc quan tâm xây
dựng GCCN và tổ chức công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ, thông qua nội dung các mục tiêu và khẩu
hiệu hành động từ các kỳ Đại hội:
- Mục tiêu Đại hội VI Công đoàn Việt Nam: Thực hiện đường lối đổi mới
của Đảng vì:” Việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội”.
- Mục tiêu Đại hội VII Công đoàn Việt Nam: “Đổi mới tổ chức và hoạt
động Công đoàn, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc , chăm lo và bảo vệ lợi
ích của công nhân lao động”.
- Mục tiêu Đại hội VIII Công đoàn Việt Nam: “ Vì sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội,
xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh”.
8
- Mục tiêu Đại hội IX Công đoàn Việt Nam:” Xây dựng giai cấp công
nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp chính đáng của CNVCLĐ, góp phần tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc,
thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
- Mục tiêu Đại hội X Công đoàn Việt Nam:” Đổi mới, sáng tạo; bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động; vì sự phát
triển ổn định, bền vững của đất nước”. Đồng thời xác định “Tiếp tục đổi mới
nội dung, phương thức hoạt động của công đoàn các cấp; hướng về cơ sở, lấy cơ
sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy đoàn viên, CNVCLĐ làm đối tượng vận
động; chuyển mạnh hoạt động công đoàn vào việc tổ chức thực hiện chức năng
đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ;
xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ; góp phần thúc đẩy sự phát
triển kinh tế- xã hội của đất nước”.
Câu hỏi 4: Đồng chí hãy nêu quan điểm của Đảng về xây dựng giai cấp
công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước?
Trả lời: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong, lãnh tụ chính trị, bộ
tham mưu của giai cấp công nhân, ngay từ ngày đầu thành lập Đảng đã xác định:
"Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận
giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng" (Văn kiện
Đảng toàn tập, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t 2, tr 4). Qua từng giai
đoạn cách mạng, quan điểm của Đảng ta về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân,
về xây dựng, phát triển giai cấp công nhân ngày càng được bổ sung, hoàn thiện.
Trong suốt quá trình lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền, Đảng ta luôn
coi giai cấp công nhân là lực lượng nòng cốt, lãnh đạo cách mạng và đã đưa ra
nhiều chủ trương, chính sách nhằm tập hợp, xây dựng giai cấp công nhân vững
mạnh, thực sự phát huy được vai trò tiên phong trong cách mạng, góp phần đưa
sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước đi đến thắng lợi.
Khi nước nhà thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề xây
dựng và phát huy vai trò của giai cấp công nhân tiếp tục được Đảng ta đặc biệt
quan tâm. Nghị quyết Đại hội IV của Đảng xác định: xây dựng giai cấp công
nhân không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, xứng đáng với vai trò
giai cấp tiên phong, lãnh đạo cách mạng là nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội.
9
Tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, nhận thức rõ ý nghĩa
quan trọng của vấn đề xây dựng và phát triển giai cấp công nhân trong giai đoạn
cách mạng mới, Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (năm 1986) chỉ rõ: "Đảng cần
có những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ
hiểu biết về mọi mặt để xứng đáng với vị trí giai cấp tiên phong của cách mạng,
đồng thời chăm lo đời sống vật chất và văn hóa, tạo ra những điều kiện cần thiết
để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình" (Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 115)
Hội nghị Trung ương 7 khóa VII khẳng định: "Xây dựng giai cấp công
nhân vững mạnh là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, công đoàn và các tổ chức
chính trị - xã hội, đồng thời là trách nhiệm của mỗi người, mỗi tập thể công
nhân" (Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khúa VII, Hà
Nội, 1994, tr 98). Quan điểm này tiếp tục được khẳng định và phát triển tại Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996).
Bước vào thế kỷ XXI, trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tư duy của Đảng về giai cấp
công nhân ngày càng phát triển và hoàn thiện. Tại Đại hội IX (năm 2001), Đảng
ta khẳng định: "Đối với giai cấp công nhân, coi trọng phát triển về số lượng và
chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề
nghiệp, thực hiện "trí thức hóa công nhân", nâng cao năng lực ứng dụng và sáng
tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng
cao, xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới " (Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr
124 – 125)
Bước vào thời kỳ đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế
thế giới, Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã ban
hành Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/1/2008 về “Tiếp tục xây dựng giai cấp
công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Năm quan điểm của Đảng được thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 6 xuyên
suốt cả về nhận thức và hành động trong quá trình thực hiện chiến lược xây
dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh trong thời kỳ mới. Quan điểm
quan trọng bao trùm là “ Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng
thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp đại diện cho
phương thức sản xuất tiên tiến, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ
10
nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và đội ngũ tri thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sự lớn mạnh của giai cấp
công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi
mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
Đây là quan điểm đầu tiên, quan trọng nhất đề cao vai trò, sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay và các thời kỳ cách mạng sau này.
Nhận thức sâu sắc, đầy đủ quan điểm này của Đảng về giai cấp công nhân vừa là
một yêu cầu bức thiết, vừa là tình cảm, trách nhiệm của toàn Đảng và xã hội
không chỉ đối với giai cấp công nhân, mà còn đối với sự nghiệp phát triển đất
nước, đặc biệt trong cơ chế thị trường và sự phát triển không ngừng của các loại
hình doanh nghiệp, của các thành phần kinh tế chi phối và ảnh hưởng nhiều đến
giai cấp công nhân. Từ quan điểm lớn này, Nghị quyết TW6 nêu ra những quan
điểm chỉ đạo quan trọng, cần được nhận thức đúng, đó là:
- Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây
dựng, phát huy sức mạnh của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, của tất cả các giai cấp, các
tầng lớp xã hội trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc - động lực chủ yếu của sự
phát triển đất nước, đồng thời tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế với
giai cấp công nhân trên toàn thế giới.
- Chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ
với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và chăm lo xây dựng giai cấp
công nhân; đảm bảo hài hoà lợi ích giữa công nhân, người sử dụng lao động,
Nhà nước và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
công nhân, quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của
giai cấp công nhân.
- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không
ngừng trí thức hoá giai cấp công nhân là một nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt
quan tâm xây dựng thế hệ công nhân trẻ có học vấn, chuyên môn và kỹ năng
nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, có lập trường giai cấp và bản
lĩnh chính trị vững vàng, trở thành bộ phận nòng cốt của giai cấp công nhân.
- Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị, của toàn xã hội và sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi người công
11
nhân, sự tham gia đóng góp tích cực của người sử dụng lao động; trong đó, sự
lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, công đoàn có
vai trò quan trọng trực tiếp trong chăm lo xây dựng giai cấp công nhân. Xây
dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng trong sạch,
vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng tổ chức Công đoàn, Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong
giai cấp công nhân vững mạnh.
Câu hỏi 5: Đồng chí hãy cho biết chiến lược xây dựng giai cấp công nhân
của tổ chức Công đoàn trong giai đoạn hiện nay? Liên hệ thực tiễn tại CĐCS nơi
đồng chí sinh hoạt, công tác?
Trả lời: Ngay sau khi có Nghị quyết số 20/NQ-TƯ, Hội nghị lần thứ 6, Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công
nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành Chương trình hành động số 399/Ctr-
TLĐ ngày 7/3/2008. Mục tiêu tổng quát của chương trình là:
1- Nâng cao nhận thức của cán bộ, đoàn viên, công nhân, viên chức, lao
động cả nước về vị trí, vai trò to lớn của GCCN Việt Nam trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước.
2- Góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sức
khỏe của công nhân; nâng cao giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, ý thức tổ
chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, trình độ học vấn, chuyên môn nghề
nghiệp cho công nhân; xây dựng GCCN lớn mạnh.
3- Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, xây dựng tổ
chức công đoàn vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới; nâng cao tinh
thần trách nhiệm, chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ xây dựng GCCN
của tổ chức công đoàn.
Chương trình xác định chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2013 là
- Tham gia cùng với cơ quan quản lý nhà nước phấn đấu đến năm 2013,
có 70% trở lên công nhân qua đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp; giảm 80%
số vụ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; 65% trở lên số công nhân được
tham gia bảo hiểm xã hội.
- Hàng năm có 100% cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước tổ
chức hội nghị cán bộ, công chức; hơn 90% doanh nghiệp nhà nước tổ chức
đại hội công nhân, viên chức, trên 50% số công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn tổ chức hội nghị người lao động.
12
- Trong 5 năm (2008-2013), kết nạp mới ít nhất 1,5 triệu đoàn viên. Đến
năm 2013, có 70% số doanh nghiệp đủ điều kiện theo quy định của Điều lệ
Công đoàn Việt Nam thành lập được công đoàn cơ sở và tập hợp được từ 60%
trở lên công nhân, viên chức, lao động trong doanh nghiệp gia nhập công
đoàn.
- Đến năm 2013, có 70% trở lên số công đoàn cơ sở doanh nghiệp ký
thỏa ước lao động tập thể, 100% cán bộ công đoàn các cấp được đào tạo bồi
dưỡng, tập huấn về lý luận nghiệp vụ công đoàn.
- Hàng năm có trên 80% công đoàn cơ sở ở các cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước và 40% công đoàn
cơ sở ở khu vực ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
đạt tiêu chuẩn “công đoàn cơ sở vững mạnh”, có 10% đạt tiêu chuẩn “công
đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc”.
- Giới thiệu mỗi năm ít nhất 30.000 công nhân ưu tú để cấp ủy Đảng
bồi dưỡng, xem xét, kết nạp vào Đảng (Chỉ tiêu này đến Đại hội X Công đoàn
Việt Nam xác định là 90.000)
Chương trình đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp :
1. Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, góp phần nâng cao chất
lượng giai cấp công nhân đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
2. Chủ động và tham gia giải quyết có hiệu quả những bức xúc của
công nhân.
3. Đẩy mạnh phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức công đoàn vững
mạnh, góp phần xây dựng giai cấp công nhân, xây dựng Đảng, Nhà nước
trong sạch, vững mạnh.
4. Vận động công nhân tham gia các phong trào thi đua yêu nước góp phần
phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh.
5. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về giai cấp
công nhân và hoạt động công đoàn.
Đặc biệt, năm 2009, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí Thư, Đảng
Đoàn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đang nghiên cứu xây dựng đề án
chiến lược xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam (2011-2020).
Câu 6: Đồng chí hãy viết một bài viết có nội dung cống hiến cho hoạt
động công đoàn hiện nay hoặc kể lại kỷ niệm sâu sắc trong hoạt động Công
đoàn ( không quá 1400 từ)
13
Ban tổ chức Cuộc thi
II. PHẦN CÂU HỎI CỦA LĐLĐ TỈNH QUẢNG TRỊ
Câu 1:
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét