Là phơng thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu, ngời
bán đồng thời là ngời mua và lợng hàng hoá mang ra trao đổi thờng có giá trị t-
ơng đơng. Mục đích của xuất khẩu ở đây không phải là nhằm thu về một khoản
ngoại tệ mà nhằm mục đích có đợc một lợng hàng hoá có giá trị tơng đơng với
giá trị lô hàng nhập khẩu.
Lợi ích của buôn bán đối lu là nhằm tránh những rủi ro về sự biến động
của tỷ giá hối đoái trên thị trờng ngoại hối. Đồng thời còn có lợi khi các bên
không đủ ngoại tệ để thanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình. Thêm vào đó,
đối với một quốc gia buôn bán đối lu có thể làm cân bằng hạng mục thờng
xuyên trong cán cân thanh toán.
3.4. Giao dịch qua trung gian.
Đây là giao dịch mà mọi việc kiến lập quan hệ giữa ngời bán và ngời mua
đều phải thông qua một ngời thứ ba. Ngời thứ ba này gọi là ngời trung gian hay
đại lý, môi giới.
Đại lý thơng nhân hay pháp nhân tiến hành một hay nhiều hành vi theo sự
uỷ thác của ngời uỷ thác, quan điểm này da trên cơ sở hợp đồng đại lý. Có
nhiều đại lý khác nhau nh: Đại lý hoa hồng, đại lý toàn quyền, tổng đại lý.
Môi giới là thơng nhân trung gian giữa ngời mua và ngời bán khi tiến
hành các nghiệp vụ ngời môi giới không đứng tên mình mà đứng tên ngời uỷ
thác.
3.5.Tái xuất khẩu.
Tái xuất khẩu là xuất khẩu hàng hoá mà trớc đây đã nhập khẩu và cha tiến
hành các hoạt động chế biến. Ưu điểm của nó là các doanh nghiệp có thể thu đ-
ợc lợi nhuận cao mà không phải tổ chức sản xuất. Chủ thể tham gia hoạt động
tái xuất khẩu nhất thiết phải có 3 quốc gia: nớc xuất khẩu, nớc nhập khẩu và n-
ớc tái xuất khẩu . Hàng hoá có thể đi thẳng từ nớc xuất khẩu đến nớc nhập khẩu
hoặc từ nớc nhập khẩu sang nớc tái xuất khẩu qua đó mới tới nớc nhập khẩu.
3.6. Gia công quốc tế.
Là một hình thức kinh doanh trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công)
nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt
5
gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù
lao (gọi là phí gia công).
II. Bản chất của Marketing- Xuất khẩu.
1. Định nghĩa và chức năng Marketing - xuất khẩu
1.1. Định nghĩa.
Marketing xuất khẩu là chức năng quản lý doanh nghiệp trong đó việc tổ
chức và quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh xuất khẩu theo một tập hợp
các phơng pháp kỹ thuật. Từ đó doanh nghiệp có thể chiếm lĩnh và sau đó duy
trì tập hợp khách hàng có hiệu quả cho mình nhờ thờng xuyên lắng nghe thị tr-
ờng để dự báo, đồng thời thích nghi với thị trờng đó.
1.2.Chức năng của marketing -xuất khẩu .
Chức năng của marketing là làm thích ứng các chính sách kinh doanh xuất
khẩu của doanh nghiệp với nhu cầu của thị trờng nơcs ngoài, gồm 3 nội dung
chính.
Thứ nhất: Xác định các cơ hội và thách thức để kết hợp chúng trong chiến
lợc phát triển quốc tế của doanh nghiệp .
Hoạt động marketing sẽ tập trung vào việc phân tích môi trờng kinh doanh
quốc tế nhằm đánh giá đợc thực trạng môi trờng và vị trí của doanh nghiệp .
Môi trờng kinh doanh ở tầm vĩ mô bao gồm mổi trờng nhân khẩu, môi trờng
kinh tế, môi trờng văn hoá, xã hội, môi trờng chính trị luật pháp, môi trờng
công nghệ và môi trờng cạnh tranh, ở tầm vi mô, doanh nghiệp phải xem xét
các yếu tố nh khách hàng, đối thủ cạnh tranh, kênh phân phối và các nhà cung
cấp. Sau khi xác định đợc những cơ hội và thách thức do môi trờng đem lại,
cùng với việc hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình, doanh nghiệp đa ra đợc
một chiến lợc phát triển.
Thứ hai: Xác định rõ các luật chơi của các thị trờng nớc ngoài.
Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá đều phải tham gia vào trò chơi mà ở
đó chính quyền không bao giờ giữ vai trò thụ động hay trung lập. Bất chấp xu
hớng chung là tự do hoá mậu dịch, chính quyền các nớc luôn có xu hớng
khuyến khích xuất khẩu hạn chế nhập khẩu để cải thiện cán cân thanh toán.
6
Các nhà xuất khẩu sẽ gặp những điều kiện thuận lợi nếu nớc nhập khẩu
đang thiếu hụt một mặt hàng nào đó hoặc nhà xuất khẩu cung cấp hàng hoá và
dịch vụ có công nghệ cao. Tuy nhiên, hành vi thờng thấy nhất ở các nớc nhập
khẩu là phòng thủ bằng cách tạo ra các hàng rào cản trở. Do đó, ngời xuất khẩu
phải hết sức chú ý mà dự đoán đợc những biện pháp và các phản ứng của nớc
ngoài.
Bên cạnh đó các nhà xuất khẩu sẽ phải vợt qua những giai đoạn hết sức
chặt chẽ của nớc nhập khẩu về phơng diện kỹ thuật, tiêu chuẩn và kiểm soát
chất lợng dới sự theo dõi tỷ mỉ của chính quyền địa phơng.
Thứ ba: Xác định rõ sự biến dạng của các điều kiện thị trờng.
Với cùng một sản phẩm các điều kiện của thị trờng còn khác nhau về cơ
bản giữa nớc này với nớc khác, đồng thời sự khác biệt về mặt tổ chức và các
động thái của thị trờng dẫn đến thị hiếu tiêu dùng và tổ chức mạng lới phân phối
khác nhau.
Sự khác biệt về hình thái thị trờng và phản ứng của thị trờng đòi hỏi doanh
nghiệp làm nhiệm vụ xuất khẩu phải có một tổ chức riêng biệt về marketing-
xuất khẩu đặc trng bởi:
- Một hệ thống quan sát hữu hiệu tập hợp các thị trờng để nhận biết
một cách nhanh chóng và nếu có thể thì dự báo các biến động.
- Một khả năng phản ứng nhanh với các yêu cầu đặc biệt, đồng thời
với nó là khả năng thích nghi nhanh từ phía dịch vụ sản xuất và dịch vụ hành
chính.
- Một hệ thống theo dõi kết quả và kiểm tra hiệu quả hoạt động đã
cam kết bất chấp những khó khăn sinh ra do sự khác biệt về môi trờng kế
toán, sự biến động về tiền tệ và sự khác biệt về văn hoá trong quản lý
doanh nghiệp .
- Một khả năng sáng tạo và áp dụng nhanh những thay đổi trong kỹ
thuật thu thập thông tin và kỹ thuật hoạt động trên thị trờng để bao quát đợc
mọi trờng hợp riêng biệt.
1.3. Mục tiêu của marketing- xuất khẩu .
7
Hầu hết các nhà kinh doanh đều hiểu đợc việc thực hiện hoạt động
marketing-xuất khẩu nhằm đạt đợc những mục tiêu nhất định trong chiến lợc
kinh doanh . Việc xác định những mục tiêu trọng yếu khác nhau phù hợp với
từng thời điểm và tình thế kinh doanh là vấn đề sống còn của mỗi doanh
nghiệp .
Để xác định mục tiêu marketing - xuất khẩu , ngời ta thờng tự nêu ra các
câu hỏi sau:
- Nên xuất khẩu ra những thị trờng nào, tại khu vực nào và cho
nhóm ngời tiêu dùng nào?
- Phải làm thế nào để hấp dẫn sản phẩm của mình đối với từng thị tr-
ờng, từng nhóm ngời tiêu dùng?
- Cần đặt tỷ phần thị trờng là bao nhiêu?
- Cần phải bán đợc bao nhiêu (trị giá, số lợng và cần thu lợi nhuận là
bao nhiêu)?
2. Thị trơng xuất khẩu .
2.1. Nghiên cứu và lựa chọn thị trờng xuất khẩu
2.1.1. Nghiên cứu thị trờng xuất khẩu
Nghiên cứu thi trờng là một việc làm cần thiết đầu tiên với bất kỳ một
công ty nào muốn tham gia vào thị trờng thế giới. Nghiên cứu thị trờng theo
nghĩa rộng là qua trình điều tra để tìm triển vọng bán hàng cho một sản phẩm
cụ thể hay một nhóm sản phẩm, kể cả phơng pháp thực hiện mục tiêu đó.
Quá trình nghiên cứu thị trờng không có gì khác là quá trình thu thập
thông tin số liệu về thị trờng, so sánh phân tích những số liệu đó và rút ra kết
luận. Những kết luận này giúp nhà quản lý đa ra những kết luận đúng đắn và lập
kế hoạch marketing. Công tác nghiên cứu thị trờng phải góp phần chính trong
việc thực hiện phơng châm hành động: Chỉ bán cái thị trờng cần chứ không
bán cái mình có. Nói cách khác nghiên cứu thị trờng là bài tập thực tiễn đa đến
những quyết định và hành động cụ thể.
a. Các mục tiêu của nghiên cứu thị trờng xuất khẩu .
- Hiểu biết chung về các thị trờng mới.
8
- Hiểu biết chính xác, cụ thể về các yếu tố của kế hoạch marketing
tức là tối u hoá các hoạt động thơng mại trên thị trờng hiện tại. Đó là việc
xác định các đặc tính của sản phẩm xuất khẩu , xác định mức giá thích ứng
với thị trờng, phân tích các kênh phân phối, tối u hoá công việc giao tiếp
truyền tin.
- Làm rõ tầm quan trọng của các thích ứng cần thực hiện.
b. Nội dung nghiên cứu.
- Nghiên cứu tiềm năng của thị trờng: khả năng bán sản phẩm tơng
ứng với chính sách marketing, bao gồm nghiên cứu nhu cầu và các biến số
định lợng khác của thị trờng. Nghiên cứu nhu cầu thị trờng nhằm thu đợc
các thông tin về tập tính, thói quen thái độ, tâm lý của ngời tiêu dùng, dự
đoán và xác định nhu cầu hàng hoá về mặt chất lợng, giá cả và cơ cấu hàng
hoá về mặt thời gian.
- Nghiên cứu khả năng thâm nhập thị trờng.
Điều kiện địa lý.
Điều kiện thơng mại.
- Lựa chọn và sử dụng nguồn thông tin.
Về phơng pháp luận, ngời ta phân biệt hai loại nguồn thông tin:
Thông tin thứ cấp và các nguồn thông tin sơ cấp. Các nguồn thông tin thứ
cấp có thể thu nhập từ tài liệu của các tổ chức quốc tế nh tổ chức kinh tế-xã hội
Châu á- Thái Bình Dơng, từ tài liệu của các quốc gia và các tổ chức t nhân,
niên giám thống kê, viện nghiên cứu thị trờng giá cả, các ngân hàng, công ty
Bảo hiểm, công ty quảng cáo và các loại báo chí kinh tế.
Các nguồn thông tin sơ cấp đợc thu nhập tại hiện trờng để sử dụng lần đầu
tiên nên rất khó khăn tốn kém nhng lại rất cần thiết. Một kế hoạch nghiên cứu
hiện trờng vạch ra cần có những chi tiết về thời hạn từng giai doạn, chủ đề cần
bao trùm, quy trình và chi phí cho nghiên cứu. Thông tin sơ cấp có thể thu đợc
bằng 3 biện pháp nghiên cứu chủ yếu là phơng pháp điều tra phỏng vấn, phơng
pháp quan sát và phơng pháp thực nghiệm.
2.1.2. Lựa chọn thị trờng xuất khẩu
9
Việc xác định thị trờng có triển vọng là cấn thiết sau khi đã có các số liệu
thống kê. Việc lựa chọn thị trờng phụ thuộc cả vào những yếu tố khách quan và
chủ quan. Đó là:
- Quan hệ chính trị, kinh tế, thơng mại giữa hai nớc
- Vị trí địa lý
- Mức tổng tiêu thụ trên thị trờng (nội địa, xuất khẩu , nhập khẩu)
- Tăng tiêu thụ
- Tăng nhập khẩu
- Giá nhập khẩu
- Các biện pháp bảo hộ mậu dịch trên thị trờng
- Hệ thống phân phối trên thị trờng
- Những đặc điểm văn hoă, xã hội của thị trờng.
Lựa chọn thị trờng gồm hai bớc:
Bớc thứ nhất: Xác định giới hạn điều tra:
Cơ hội để phát triển thị trờng cho mặt hàng trên thế giới có thể không có
giới hạn, nhng nguồn vốn hiện có giành cho dự đoán và khai thác những cơ hội
đó lại có chừng mực vì vậy nên giới hạn điều tra vào những thị trờng đợc phép
buôn bán để tránh lãng phí thời gian , tiền của vào các bớc nghiên cứu tiếp theo.
Bớc thứ hai: So sánh các thị trờng. Mục đích của bớc này là đi đến phân
loại thị trờng, tìm ra đợc những thị trờng có triển vọng lớn cũng nh thị trờng
kém phát triển nhất, loại ra những thị trờng có tiềm năng nhỏ hoặc không hấp
dẫn.
3. Môi trờng marketing xuất khẩu
3.1.Môi trờng kinh tế
Khi xét đến các thị trờng nớc ngoài , nhà marketing quốc yế phải xem xét
nền kinh tế từng nớc. Có hai đặc tính phản ảnh sức hấp dẫn của thị trờng xét
nh một thị trờng xuất khẩu.
Thứ nhất:Mức độ phát triển thị trờng.
10
Những thị trờng xuất khẩu có thể có ở vào những giai đoạn có những đặc
trng riêng biệt. Thông thòng ngời ta phân nhóm thị trờng theo nhóm nớc.
Chẳng hạn thị trờng những nớc công nghiệp phát triển gồm: Mỹ , Nhật,
Đan Mạch, Canađa, Italia, Đức,
ở mỗi cấp độ phát triển, cơ sở hạ tầng và phơng thức tiến hành kinh doanh
ở mỗi thị trờng là khác nhau đòi hỏi các kiểu kích thích marketing khác nhau.
Tơng tự , những cơ hội, trở ngại thách thức dành cho nhà xuất khẩu cũng khác
nhau.
Thứ hai: Quốc gia đó nằm trong liên minh kinh tế nào
Sự hợp nhất kinh tế là sự phù hợp lại theo một thể thức nào đó những nền
kinh tế riêng biệt của từng nớc thành một nền kinh tế lớn hơn, nhằm đẩy mạnh
các quan hệ kinh tế, hạn chế tối thiểu ảnh hỏng xấu do biên giới chính trị đem
lại.
Một Công ty sẽ chịu hai dạng ảnh hởng chính trong việc xuất khẩu vào
một vùng hợp nhất. Đó là hiệu ứng thiên vị và hiệu ứng tăng trởng. Hiệu ứng
thiên vị xẩy ra khi kim ngạch xuất khẩu của Công ty giảm vì bị phân biệt đối xử
và quyền u tiên đã giành cho các đối thủ trong vùng nội bộ hợp nhất. Tuy nhiên
ở mức độ nào đó, công ty đợc bù đắp bằng hiệu ứng tăng trởng. Đó là do khi
một vùng kinh tế đợc tạo ra, thị trờng mở rộng sẽ thúc đẩy buôn bán và tăng tr-
ởng kinh tế, khách hàng công nghiệp, và ngời tiêu dùng sẽ có nhiều tiền hơn để
mua hàng hoá từ nớc ngoài.
3.2 Môi trơng văn hoá - xã hội.
Môi trờng văn hoá - xã hội ảnh hởng đến hành vi của khách hàng, yếu tố
cấu thành thị trờng, hành vi của ngời lập và thi hành kế hoạch marketing
xuất khẩu cùng các nhà trung gian marketing nh các đại lý quảng cáo, các ph-
ơng tiện truyền tin Các nhà quản trị xuất khẩu có thể phạm sai lầm khi xuất
khẩu họ xuất khẩu luôn cả các tập tục, chuẩn mực văn hoá ra thị trờng ngoài
cùng hàng hoá, dịch vụ của mình. Các nhà nhân loại học cho rằng văn hoá là
gốc rễ cho lối sống, thái độ, sự hiểu biết, nhận thức của con ngời.
11
Hiểu biết về văn hoá có thể quyết định thắng thua trong xuất khẩu . Những
nhà quản trị marketing xuất khẩu cần phải nghiên cứu chi tiết hành vi, thái
độ, ngôn ngữ, tập quán, động cơ ra sao để từ đó giúp cho họ lựa chọn chiến l-
ợc marketing cụ thể là các yếu tố nh nhãn hiệu, đóng gói, bao bì, thiết kế thông
điệp quảng cáo phù hợp từng quốc gia có bản sắc văn hoá khác nhau.
3.3 Môi trờng pháp luật chính trị.
Môi trờng pháp luật- chính trị có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động
xuất khẩu- nhập khẩu. Những hành động của những cơ quan chính phủ ở mọi
cấp độ: trên quốc gia, quốc gia và trong phạm vi quốc gia sẽ chi phối quyết định
marketing của các công ty.
Vai trò và sự kiểm soát của chính phủ đối với các hoạt động xuất khẩu
nhập khẩu là cần thiết. Chính phủ có thể khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi
cho những quan hệ xuất khẩu trên cơ sở các hiệp định ký kết giữa các quốc gia
chẳng hạn hiệp định trao đổi hàng hoá quốc tế, hiệp định song phơng Chính
phủ cũng có thể ngăn cản các hoạt động xuất khẩu nhập khẩu bằng các công cụ
nh cấm vận và trừng phạt kinh tế, hàng rào thuế quan, hạn ngạch
3.4 Môi trờng cạnh tranh.
Một trong những lực lợng năng động nhất ảnh hởng tới chiến lợc
marketing của từng nhà xuất khẩu là sự cạnh tranh. Mỗi công ty chiếm một vị
trí là làm một chức năng để có lý do tồn tại trên thị trờng. Cạnh tranh diễn ra vì
mỗi công ty trong việc tìm kiếm cho riêng mình một vị trí đã cố gắng làm cho
mình trở thành duy nhất. Họ hy vọng sẽ tạo cho mình đợc một lợi thế phân
biệt, một u thế cạnh tranh giúp họ có khả năng đa ra thị trờng đợc những thứ mà
các công ty khác không có.
Việc lập kế hoạch marketing xuất khẩu đòi hỏi sự hiểu biết về cấu trúc
cạnh tranh số lợng và kiểu loại đối thủ cạnh tranh và các hành động của các đối
thủ- những công cụ cạnh tranh nào đợc sử dụng, chẳng hạn các công cụ giá, sản
phẩm , kênh phân phối hay khuyếch trơng.
4. Chiến lợc marketing xuất khẩu.
4.1 Chiến lợc nhấn mạnh về chi phí.
12
Trong môi trờng quốc tế cần đánh giá chiến lợc này theo hai phơng diện
marketing và phơng diện sản xuất. Về phơng diện marketing, việc tìm kiếm các
thị trờng mới cho phép tăng cầu tiềm năng và đạt mức sản xuất tối u nhất. Để
quá trình này tạo ra các hoạt động tối u cần phải thiết kế những sản phẩm theo
tiêu chuẩn toàn cầu hoặc ít ra là tiêu chuẩn châu lục. Chúng ta cũng biết rằng
việc tung sản phẩm ra thị trờng quốc tế sẽ cho phép kéo dài chu kỳ sống của sản
phẩm và do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tác động kinh nghiệm.
Trong trờng hợp đòi hỏi chi phí để thích ứng với điều kiện đặc thù cần tính toán
và so sánh giã chi phí đầu t đặc biệt và khả năng sinh lời.
Về phơng diện sản xuất việc dịch chuyển sản xuất để hởng chi phí nhân
công thấp trong một số khu vực của thế giới đã trở nên khá quen thuộc. Chính
vì vậy việc tìm kiếm một tổ chức sản xuất quốc tế hợp lý nhất trở thành phơng
tiện tạo nên lợi thế cạnh tranh. Thực vậy, tổ chức quốc tế sẽ sản xuất gắn liền
với quy mô tối u ở mức tối thiểu.
4.2. Chiến lợc khác biệt hoá.
Khác với chiến lợc nhấn mạnh về chi phí (dựa vào u thế cạnh tranh bên
trong hay khả năng làm chủ chi phí), chiến lợc khác biệt hoá dựa vào u thế cạnh
tranh bên ngoài tức là tính độc đáo hay mức độ hoàn thiện của sản phẩm
Chiến lợc khác biệt hoá cũng có thể thực hiện thông qua dịch vụ cung ứng,
con ngời và hình ảnh. Nhiều công ty áp dụng chiến lợc khác biệt hoá dựa trên
sự thay đổi chuỗi giá trị. Căn cứ vào chuỗi giá trị, nếu công ty có lợi thế trong
việc thực hiện các hoạt động cơ bản hỗ trợ cuối nguồn (marketing và bán hàng)
chiến lợc khác biệt hoá tỏ ra hữu hiệu nhất.
Khả năng khác biệt hoá mạnh mẽ cho phép doanh nghiệp thoát khỏi áp lực
cạnh tranh. Trên thị trờng quốc tế nhiều doanh nghiệp đã thành công nhờ vào
khả năng khác biệt hoá mạnh mẽ so với đối thủ. Tuy nhiên, để chiến lợc này
đem lại kết quả mong muốn sự khác biệt hoá về sản phẩm hay nhãn hiệu của
công ty phải đợc nhận thức bền vững. Để làm đợc điều này công ty cần phải
thực hiện những cố gắng to lớn về giao tiếp truyền tin.
4.3. Chiến lợc trọng tâm hoá
13
Chiến lợc trọng tâm hoá dựa trên lợi thế cạnh tranh là tập trung vào các
nguồn lực cho phép phát huy năng lực tối đa của công ty, chiến lợc này đợc
thực hiện hoặc thông qua khả năng khác biệt hoá hoặc chi phí thấp hoặc cả hai.
Về phơng diện marketing, khi công ty tấn công vào thị trờng nớc ngoài
điều quan trọng trớc tiên là phải phân đoạn thị trờng để thực hiện toàn cầu hoá.
Công ty càng hoạt động trên thị trờng hẹp bao nhiêu thì càng phải phát triển
mạnh mẽ thị trờng về mặt địa lý. Nh vậy phân đoạn thúc đẩy quá trình toàn cầu
hoá. Tình hình này rất điển hình cho một thế giới mà công nghệ mới xuất hiện
thờng xuyên. Thực vậy, thị trờng hẹp và mới phát triển đòi hỏi chí phí nghiên
cứu và phát triển rất lớn nên cần thiết phải thu hồi vốn nhanh để giảm thiểu rủi
ro: Công ty hoặc là phát triển quốc tế hoặc thất bại. Về phơng diện sản xuất
chiến lợc trọng tâm hoá vẫn theo đuổi lôgic chi phí tối thiểu.
Chính vì vậy, việc dịch chuyển các cơ sở sản xuất sang những nớc có các
yếu tố đầu vào phong phú và rẻ là sự lựa chọn thờng thấy khi mà khối lọng các
diều kiện kinh tế cho phép. Ràng buộc quan trọng nhất là phải đảm bảo giữ vững
hình ảnh chuyên môn hoá , hình ảnh nhãn hiệu của Công ty cũng cần xuất hiện
tại các địa điểm sản xuất nớc ngoài.
5. Marketing- mix trong xuất khẩu
5.1.Chính sách sản phẩm xuất khẩu
Mỗi một sản phẩm xuất khẩu nếu xét theo hình thức gồm 3 bộ phận:
1. Gía trị sử dụng của sản phẩm
2. Bao bì sản phẩm
3. Các dịch vụ sản phẩm
Nếu xét về chức năng sản phẩm xuất khẩu đều có ba chức năng:
1. Chức năng xuất khẩu
2. Chức năng hình ảnh sản phẩm
3. Chức năng biểu tợng xã hội của sản phẩm
Các Công ty đều mong muốn làm ra nhiều sản phẩm để thu đợc lợi nhuận.
Do vậy, chiến lợc sản phẩm là vũ khí sắc bén nhất trong cạnh tranh trên thị tr-
ờng đồng thời là phơng pháp có hiệu quả tạo ra nhu cầu mới.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét