Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Giải pháp và những kiến nghị chủ yếu, nhằm thúc đẩy xuất khẩu nhóm mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam trong thời gian tới.


Việt Nam đã và đang đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế Quốc Tế, mở
rộng quan hệ kinh tế song phơng và đa phơng; phát trriển quan hệ đầu t với gần
70 nớc và lãnh thổ ; bình thờng hoá quan hệ với các tổ chức tài chính - tiền tề
Quốc Tế : ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tề quốc tế (IMS) ngân hàng phát
triển châu á (ADB); ra nhập hiệp hội các nớc Đông Nam á (ASEAN) và khu
vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); tham gia sáng lập diễn đàn á-Âu
(ASEM) ; ra nhập diễn đàn hợp tác kinh tế châu á -Thái Bình Dơng (APEC); trở
thành quan sát viên của tổ chức thơng mại thế giới (WTO); và đang tiến hành
đàm phán để ra nhập tổ chứ này.
Ngoài ra nớc ta cũng đã ký Hiệp định khung về hiệp tác kinh tế với liên
minh châu Âu (EU) và hiệp định thơng mại Việt -Mỹ .
Để tăng cờng việc chỉ đạo công tác hội nhập kinh tế Quốc Tế , Chính phủ
đã thành lập uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế Quốc Tế, Uỷ ban đã có nhứng
đóng góp tích cực đóng góp vào việc thực hiện nhiệm vụ mở rộng quan hệ hợp
tác kinh tế quốc tế .
Thực hiện đờng lối đổi mới, chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở
đa phơng hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế , nớc ta đã mở
rông đợc quan hệ đối ngoại, vợt qua những khó khăn về thị trờng do những
biến động ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu gây ra; phá đợc thế vị bao vây cấm vận
của các thế lực thù địch,tạo dựng đợc môi trờng Quốc Tế thuận lợi cho công
cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc nâng cao vị thế nớc ta trên chính trờng và th-
ơng trờng quốc tế, hạn chế ảnh hởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính
kinh tế ở khu vực vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX.
Quá trình hội nhập kinh tế đã đem lại cho Việt Nam nhiều thuận lợi nhng
không ít những khó khăn .
1. Những thành tựu đạt đợc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (*)
1
Thu hút đợc một số lợng đáng kể vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI)
Và viện trợ phát triển chính thức (ODA), tiếp thu đợc nhiều thành tựu mới về
khoa học, công nghệ và kỹ năng quản lý
Từng bớc đa hoạt động của các doanh nghiệp và nền kinh tế vào môi
trờng cạnh tranh, góp phần tạo lập t duy kinh tế mới nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh .
Bớc đầu xây dựng đợc một đội ngũ cán bộ làm công tác kinh tế đối
ngoại và quản lý kinh doanh thích nghi dần với điều kện mới, tạo tiền đề để tiếp
tục quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm tiếp theo .
1(*)
Nghị quyết số 07/TW ngày 27/11/2001 của Bộ chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế.
5

Với những kết quả đó chúng ta đã từng bớc thực hiện đựơc chủ trơng kết
hợp phát huy nội lực với ngoại lực, hình thành sức mạnh tổng hợp đa đến những
thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng, trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và
định hớng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia và bản sắc văn hoá dân tộc
Tuy nhiên quá trình hội nhập kinh tế vừa qua cũng bộc lộ nhiều mặt yếu
kém
2. Những tồn tại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam (*)
Chủ trơng hội nhập kinh tế quốc tế đã đợc khẳng định rõ trong nhiều
nghị quyết của Đảng và trên thực tế đã đợc thực hiên từng bớc nhng nhận thức
về nội dung,bớc đi và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế cha đạt đợc sự nhất trí
cao và nhất quán, Một bộ phận cán bộ cha thấy hết và chủ động tranh thủ những
cơ hội mở ra, hoặc cha nhận thức đầy đủ những thách thức sẽ nẩy sinh, để từ đó
có kế hoạch thúc đẩy nền kinh tế nớc ta vơn lên chủ động hội nhập có hiệu
quả ;cơ cấu kinh tế chậm lực chuyển dịch để luôn phát huyđợc lợi thế so sánh
của đất nớc; không ít chủ trơng, cơ chế, chính sách chậm đợc đổi mới cho phù
hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế .
Công tác hội nhập kinh tế quốc tế mới đợc triển khai chủ yếu ở các cơ
quan trung ơng và một số thành phố lớn, sự tham gia của các ngành các cấp
của các doanh nghiệp còn yếu cha đồng bộ, vì vậy cha tạo lập đợc sức mạnh
tổng hợp cần thiết đảm bảo cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đạt hiệu quả
cao.
Doanh nghiệp nớc ta nói chung còn ít hiểu biết về thị trờng thế giới và
luật pháp quốc tế, năng lực quản lý còn yếu , trình độ công nghệ còn lạc hậu,
hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh còn yếu kém, t tởng ỷ lại,
trông chờ vào sự bao cấp và bảo hộ của Nhà Nớc còn lại
Môi trờng kinh doanh ở nớc ta tuy đã đợc cải thiện đáng kể song về
nhiều mặt còn yếu kém : hệ thống luật pháp còn thiếu cha động bộ,cha đủ rõ
ràng và nhất quán ; kết cấu hạ tầng phát triền chậm ; trong bộ máy hành chính
còn nhiều biểu hiện của bệnh quan liêu và tệ tham nhũng , trình độ nghiêp vụ
yếu kém . nguồn nhân lực cha đợc đào tạo tốt .
Đội ngũ cán bộ làm công tác kinh tế đối ngọai còn thiếu và yếu tổ
chức chỉ đạo cha sát và kịp thời,các cấp, các ngành cha quan tâm chỉ đạo và tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp chuẩn bị tham gia vào hội nhập. Đây là nguyên
nhân sâu xa của những yếu kém, khuyết điểm trong hợp tác kinh tế với nớc
ngoài .
6

Hiện nay, trớc xu thế hội nhập , nền nông nghiệp Việt Nam đang đứng
trớc những thách thức mới mang tính cạnh tranh về sản xuất, xuất khẩu nông
sản, đặc biệt là đối với những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực
I.2. Vai trò của mặt hàng nông sản trong hệ thống các mặt hàng nông sản
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Theo phân loại của FAO, hàng nông sản là tập hợp của nhiều nhóm hàng
khác nhau nh, nhóm hàng các sản phẩm nhiệt đới, nhóm hàng ngũ cốc, nhóm
hàng thịt, nhóm hàng sữa và các sản phẩm sữa, nhóm hàng nông sản nguyên
liệu, nhóm hàng dầu mỡ và các sản phẩm .
Hàng chủ lực là loại hàng chiếm vị trí quyết định trong kim ngạch xuất
khẩu do có thị trờng nớc ngoài và điều kiện sản xuất trong nớc thuận lợi .
Vấn đề xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã đợc Nhà Nớc đề ra
từ cuối những năm 1960. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây, khi nền kinh tế nớc ta
chuyển sang nền kinh tế thị trờng thì các mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới có
cách nhìn nhận nghiêm túc, rõ ràng . Hàng xuất khẩu chủ lực đợc hình thành tr-
ớc hết là quá trình thâm nhập vào thị trờng nớc ngoài , qua những cuộc cọ xát
cạnh tranh mãnh liệt trên thị trờng thế giới. và cuộc hành trình đi vào thế giới ấy
kéo theo việc tổ chức sản xuất trong nớc trên quy mô lớn với chất lợng phù hợp
đòi hỏi của ngời tiêu dùng. Nếu đứng vững đợc thì mặt hàng đó liên tục phát
triển .
Để đợc xét là mặt hàng chủ lực, điều kiện cần và đủ phải đạt theo tiêu
chuẩn sau :
Một là : có thị trờng tiêu thụ tơng đối ổn định và luôn cạnh tranh đợc trên
thị trờng đó .
Hai là : Có nguồn lực để tổ chức sản xuất và sản xuất với chi phí thấp để
thu đợc lợi trong buôn bán .
Ba là : Có khối lợng kim ngạch lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
đất nớc .
Ngày nay, số lợng và quy mô các mặt hàng xuất khẩu chủ lực không
ngừng tăng lên. Tạm tính các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu từ 50 triệu
USD/năm trở lên, năm 1991 từ 6 mặt hàng lên 14 nhóm mặt hàng trong năm
1999 . Đó là : lạc nhân, cao su, chè, điều, gạo, hạt tiêu, than đá, dầu thô, thuỷ
sản, rau quả, hàng dệt may, giầy dép, hàng điện tử và linh kiện máy tính, hàng
thủ công mỹ nghệ . Nếu tính đạt kim ngạch từ 100 triệu USD/năm trở lên thì số
mặt hàng này năm 1991 mới có 4 năm 1999 đã lên tới 11 .
Việt Nam có 15 mặt hàng xuất khẩu chủ lực chia làm 3 nhóm chính :
Nông, lâm, thuỷ sản; Nhiên liệu, khoáng sản; Công nghiệp và thủ công mỹ
nghệ . Do trình độ và định hớng đề tài có hạn, ở đây em chỉ xin trình bày về
7

năm mặt hàng ở nhóm mặt hàng nông sản chủ lực : Gạo, cà phê, điều , cao su ,
chè.
Nông nghiệp là ngành khởi đầu , đóng vai trò chủ đạo trong quá trình
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp rất phong
phú, phối hợp từ công nghệ đơn giản nhất đến những kỹ thuật tiên tiến. Ngành
nông nghiệp có khả năng tạo nhiều công ăn việc làm cho ngời lao động, tăng
thu lợi nhuận để tích luỹ làm tiền nhằm phát triển các ngành công nghiệp khác
góp phần nâng cao mức sống và ổn định tình hình chính trị xã hội. Nông nghiệp
liên quan chặt chẽ với sự phát triển của các ngành công nghiêp khác, bởi vì
nông nghiệp là ngành hàng đầu của nền kinh tế, nó sẽ cần một khối lợng
nguyên liệu là sản phẩm của các lĩnh vực và vì thế tạo điều kiện để đầu t phát
triển các ngành kinh tế này và ngợc lại, ngành công nghiệp lớn mạnh sẽ là động
lực để ngành nông nghiệp tạo đà đi lên
Việt nam là một nớc nông nghiệp dựa vào sản xuất lúa gạo là chính, nông
nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó đóng góp khoảng
42% tổng sản phẩm quốc nội ( GDP), 71 % lợng lao động của cả nớc hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp . Việt Nam có nhiều u thế để sản xuất nông nghiệp
nh : Lợi thế đầu tiên phải kể đến là tài nguyên đất , tổng diện tích tự nhiên của
cả nớc có trên 33.1 triệu ha . trong đó có 8,1 triệu ha đất nông nghiệp rất phù
hợp cho việc trồng lúa và các loại cây công nghiệp nh cao su, cà phê, điều, chè,
hạt tiêu cùng với đất, nớc, có ảnh hởng lớn đến khả năng khai thác nông
nghiệp. Tài nguyên nớc dồi dào cũng là một trong lợi thế nổi bật của sản xuất
nông nghiệp Việt Nam. Ngoài ra nớc ta còn có lợi thế về khí hậu, độ ẩm, nhiệt
độ, lợng ma lớn rất thích hợp cho sự tăng trởng của cây lơng thực, cây công
nghiệp. Nguồn nhân lực cũng là một lợi thế Việt Nam có nguồn nhân lực lớn cả
về số lợng lẫn chất lợng với gần 29 triệu lao động chiếm 70% lực lợng lao động
của cả nớc. Đó là những u thế về sản xuất nông nghiệp, u thế đó ngày càng rõ
ràng hơn khi đặt trong bối cảnh khó khăn của tình hình lơng thực thế giới ngày
nay. Thế mà, nh đã khẳng định ở trên, luật chơi của kinh tế ngày nay là luật
chơi của kinh tế thị trờng trong đó mỗi quốc gia chỉ có thể trông cậy vào vũ khí
duy nhất là hớng vào xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế so sánh cao nhất của
mình .
Vai trò của hoạt động xuất khẩu nông sản chủ lực cần phải kể đến đó là:
a. Xuất khẩu nông sản chủ lực nhằm giải quyết vấn đề ngoại tệ cho quốc
gia có ngoại tệ để nhập khẩu nhằm phục vụ cho công cuộc Công Nghiệp Hoá-
Hiện Đại Hoá đất nớc .
Công nghiệp hoá đất nớc theo những bớc đi thích hợp là con đờng tất
yếu khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển của nớc ta để công
nghiệp hoá đất nớc trong thời gian ngắn đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập
khẩu máy móc thiết bị công nghệ tiên tiến .
8

b. Xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ yếu đóng góp vào quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển .
Với quan điểm coi thị trờng thế giới là hớng quan trọng để tổ chức sản
xuất và xuất khẩu.Quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, thúc dẩy sản xuất phát triển đê thực hiện
Xuất khẩu sẽ tạo điềukiện cho các ngành khác cùng cơ hội phát triển
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm góp
phần ổn định sản xuất
Tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, mở
rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia
Thông qua xuất khẩu nông sản việt nam sẽ có điều kiện tham gia vào
cuộc cạnh tranh trên thị trờng thế giới cả về giá cả và chất lợng . cuộc cạnh
tranh này có tác dụng ngợc trở lại buộc các doanh nghiệp việt nam phải tổ chức,
xem xét lại khâu sản xuất , hình thành một cơ cấu sản xuất thích hợp , các
doanh nghiệp phải nhìn lại chất lợng sản phẩm của mình để thích nghi với
những biến động của thị trờng thế giới.
c. Xuất khẩu nông sản có tác dụng tác động tích cực đến việc giải quyết
công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân .
Tác động của xuất khẩu nông sản đến đời sống nhân dân khá rõ nét, đợc
thể hiện trên nhiều phơng diện . Một mặt sản xuất nông sản là nơi thu hút nhiều
lao động và việc làm có thu nhập khá ổn định, mặt khác xuất khẩu nông sản tạo
ra ngoại tệ để nhập khẩu sản phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
dạng phong phú của nhân dân . Ngoài ra thông qua xuất khẩu nông sản chúng ta
phần nào hiểu rõ hơn về yêu cầu của thị trờng đối với mặt hàng nông sản . Mối
quan hệ giữa thị trờng nớc ngoài và sản xuất trong nớc đợc thực hiện qua xuất
khẩu là một cách tốt nhất để nâng cao trình độ và hiệu quả của nền công nghiệp
.
Nông sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nớc ta
hiện nay, các sản phẩm nông sản có vai trò rất to lớn , góp phần làm tăng kim
ngạch xuất khẩu , xuất khẩu hàng nông sản đem lại nhiều lợi ích nh tích luỹ vốn
cho sự nghiệp Công Nghiệp Hoá- Hiện Đại Hoá đất nớc giúp Việt Nam khai
thác đợc các lợi thế của mình về đất đai khí hậu. Trên cơ sở phát huy lợi thế so
sánh của các vùng sinh thái và các địa phơng nh trong cả nớc , đã hình thành đ-
ợc phần chuyên canh sản xuất hàng hoá nông sản xuất khẩu trên quy mô lớn
nh lúa gạo ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long ,Đồng Bằng Sông Hồng ; cà phê
vùng Tây Nguyên ; cao su vùng Đông Nam Bộ ; chè vung miền Núi -Trung Du
phía Bắc ; và một số vùng cây ăn quả đặc sản khác đã góp phần nâng cao đợc
khối lợng hàng hoá và kim ngạch nông sản xuất khẩu (bình quân tăng 20%/
năm )
9

909.5
1900
2200
2230
2500
2650
2600
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
Năm
1990
Năm
1995
Năm
1996
Năm
1997
Năm
1999
Năm
20000
Năm
2001
Triêu USD
Những con số phản ánh ở trên tuy là những kết quả bớc đầu, song đã góp
phần đáng kể trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông
thôn theo từng bớc Công Nghiệp Hoá- Hiện Đại Hoá đất nớc, tạo ra bớc chuyển
biến mạnh mẽ từ nền kinh tế thuần nông, tự cung tự cấp sang nền kinh tế thị tr-
ờng có sự quản lí của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Nhằm nâng cao
vị thế của nền nông nghiệp Việt Nam trên thơng trờng quốc tế.
Biểu I.1. Mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam thời
kì 1996- 2001:
Mặt hàng Đơn vị 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Lạc nhân nghìn tấn 127,0 83,3 87,0 56,0 76,2 80,0
Cao su nghìn tấn 194,5 194,6 191,0 263,0 251,5 300
Cà phê nghìn tấn 283,7 398,7 382,0 488,0 733,93 910
Chè nghìn tấn 20,8 32,0 33,0 37,0 56,5 58,0
Hạt tiêu nghìn tấn 25,3 23,0 15,0 38,4 37,9 50,6
Hạt điều nhân nghìn tấn 16,5 33,3 25,6 16,0 18,4 40,9
Hàng rau quả Triệu USD 90,2 68,0 53,0 74,0 72,0 75,0
Gạo Triệu tấn 3,00 3,50 3,75 4,50 3,50 3,55
Nguồn: Niên giánthống kê 2001
Trong năm năm 1991- 1995. Việt Nam đã xuất khẩu đợc với số lợng lớn,
nhng chỉ tới năm 1995 vị trí gạo mới đợc khẳng định trong cơ cấu hàng xuất
khẩu. Cà phê cũng có những bớc tiến vợt bậc, năm 1990 là 89,6 nghìn tấn, năm
1999 là 488 nghìn tấn, năm 2000 là 743 nghìn tấn và đạt 910 nghìn tấn và 2001.
Với mặt hàng chè năm 2000 xuất khẩu đạt 56,5 nghìn tấn nhng đến năm 2001
đã xuất khẩu đợc 58 nghìn tấn. Hạt điều nhân cũng có sự tăng trởng đáng kể về
số lợng xuất khẩu, năm 2000 là 18,4 nghìn tấn, năm 2001 đã là 40,9 nghìn tấn.
10

Biểu I.2: Tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam
Nhóm hàng 1996 1997 1998 1999 2000 2001
CN nặng và khoáng chất 28.74 28.02 27.87 27.16 26.08 25.40
CN nhẹ và thủ công nghiệp 28.96 36.71 36.62 37.08 37.12 37.60
Nông sản 29.76 24.29 24.31 23.87 23.60 23.00
Lâm sản 2.90 2.45 2.04 1.86 1.88 1.80
Thuỷ sản 9.94 8.53 9.16 10.03 11.32 12.20
Nguồn : Niên gián thống kê 2001
Việt Nam là một nớc có nhiều u thế về xuất khẩu hàng nông sản, trong
14 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam có 9 mặt hàng là nông sản : Lạc
nhân, Cao su, Chè, Gạo, Hạt tiêu, Hạt điều nhân Kim ngạch xuất khẩu nông
sản tăng nhanh qua các năm, hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đã trở
thành mặt hàng quen thuộc và a chuộng trên thế giới.
Tỷ trọng xuất khẩu nông sản của Việt Nam năm
2001
37.6
23
1.8
25.4
12.2
CN nặng và
khoáng chất
CN nhẹ và thủ
công nghiệp
Nông sản
Lâm sản
Thuỷ sản
Xét về tỉ trọng các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chúng ta thấy rằng
từ 1996 đến nay, tỷ trọng hàng công nghiệp nặng và khoáng sản có xu hớng
giảm sút, nhóm hàng công nghiệp nhẹ và thủ công mỹ nghệ có chiều hớng gia
tăng mặc dù có sự giảm nhẹ năm 1998. Song với chính sách khuyến khích xuất
khẩu hàng đã qua chế biến, tỷ trọng nhóm hàng này đã tăng lên gần 40% vào
những năm 1999, 2000, 2001. Nhóm hàng nông, lâm , thuỷ sản là nhóm hàng
xuất khẩu khá quan trọng của Việt Nam trong đó quan trọng nhất thuộc về
nhóm hàng nông thuỷ sản xuất khẩu. Trong những năm qua, hàng nông sản
xuất khẩu đang từng bớc chiếm đợc vị trí quan trọng trong xuất khẩu của Việt
Nam. Hiện nay đang dao động trong khoảng 23- 25% tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam.
11

I.3. Nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với qúa trình hội nhập quốc
tế:
Với chính sách đổi mới, mở cửa. Việt Nam sẽ trở thành thị trờng cạnh
tranh của các công ty Đa Quốc Gia và Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các nớc
khác để đa hàng hoá của mình xâm nhập và thâu tóm thị trờng thế giới, tiến tới
Việt Nam sẽ tham gia và Tổ chức thơng mại Quốc Tế (WTO). Đó là những
thuận lợi và cơ hội rất tốt để Việt Nam hoà nhập vào nền kinh tế thế giới. Bởi lẽ,
nhờ tham gia và sự phân công, hiệp tác quốc tế, sẽ mở rộng đợc thị trờng nớc
ngoài, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng Việt Nam có lợi thế so
sánh và nâng cao khả năng cạnh tranh các sản phẩm trên thị trờng thế giới.
Song song với những thuận lợi trên, khi hội nhập vào thị trờng thế giới và
khu vực, Việt Nam phải đơng đầu với những khó khăn: Chất lợng, khối lợng của
hàng nông sản cha cao, cha tạo lập đợc thị trờng tiêu thụ ổn định, thiếu bạn
hàng, giá cả thờng xuyên biến động gây không ít khó khăn cho cả ngời sản xuất
và ngời tiêu dùng. Mặt khác, sản phẩm và dịch vụ của Việt Nam phải cạnh
tranh gay gắt với hàng hoá nớc ngoài. Do vậy vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là
phải nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu hòng đứng vững
trên thị trờng và ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Việc tiếp tục
đổi mới nền kinh tế, đổi mới cơ chế, luật pháp, phơng thức quản lý để nâng cao
năng lực cạnh tranh và hiệu quả xuất khẩu nông sản là vấn đề có tính chất cơ
bản giúp Việt Nam hội nhập một cách có hiệu quả vào nền kinh tế khu vực và
thế giới.
Theo các chuyên gia kinh tế, cùng với AFTA. Hiệp định thơng mại Việt-
Mỹ, sức ép gia tăng mạnh lên nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam là năm
2006. Chúng ta sẽ hoàn tất lộ trình thực hiện chơng trình CEPT. Khi đó thuế
xuất nhập khẩu theo CEPT giảm xuống còn từ 0-5% và hàng rào phi thuế quan
bị xoá bỏ, hàng hóa của các nớc ASEAN sẽ tràn vào thị trờng Việt Nam với giá
thấp hơn hiện nay rất nhiều do thuế xuất nhập khẩu giảm. Nếu Việt Nam không
đầu t, chuẩn bị thật kĩ lỡng ngay từ bây giờ- mà thực tế bây giờ không còn là
sớm nữa- chắc chắn sẽ không thể cạnh tranh với các doanh nghiệp ASEAN
khác. Cũng có ý kiến cho rằng, CEPT sẽ giúp hàng hoá Việt Nam rộng cửa vào
các nớc ASEAN nên cơ hội chia đều cho các đối thủ. Tuy nhiên, khi xuất khẩu
vào các nớc ASEAN, giá FOB cảng Việt Nam vẫn còn cao và số lợng hàng hoá
xuất khẩu không lớn, nên khả năng chiếm lĩnh thị trờng ASEAN của hàng hoá
Việt Nam không cao. ASEAN là một thị trờng khá lớn với khoảng 500 triệu
dân, tuy trớc mắt gặp rất nhiều khó khăn tạm thời song tiềm năm phát triển còn
lớn, lâu nay chiếm khoảng trên dới 1/3 kim ngạch buôn bán của nớc ta, sắp tới
khi AFTA hình thành càng mở ra triển vọng giao lu buôn bán. Mặt khác,
12

ASEAN có nhiều hàng hoá giống ta đều hớng ra các thị trờng khác là chính chứ
không phải là buôn bán trong khu vực là chính, thêm vào đó các mặt hàng của
ASEAN lại hơn ta về chất lợng và số lợng, có bạn hàng lâu năm và ổn định hơn
ta ( gạo đứng đầu xuất khẩu thế giới là Thái Lan, cao su là Inđônêxia ) trong
khi đó với việc áp dụng biểu thuế AFTA, hàng của ASEAN có điều kiện thuận
lợi hơn trong việc đi vào thị trờng Việt Nam. Do đó có thể làm cho cán cân th-
ơng mại càng bất lợi hơn với chúng ta.
Vì vậy, Việt Nam cần chủ động hội nhập theo lộ trình phù hợp với điều
kiện của nứơc mình, đảm bảo xem trọng các cam kết song phơng và đa phơng.
Bên cạnh đó, cần làm cho doanh nghiệp xuất khẩu thấy rõ thuận lợi và thách
thức đan xen trong khi hội nhập đang gõ cửa. Muốn vậy, phải bám sát lộ trình
trong cơ chế mới 2001- 2005, cắt giảm từng bớc các biện pháp bảo hộ, bao cấp
cũ, đề ra những bớc đi phát triển bền vững, đoạn tuyệt với cách chụp dựt, ăn
xổi. Khi xuất khẩu, hàng hoá phải hấp dẫn về chất lợng, kiểu dáng và giá cả.
Khi nhập tìm đợc công nghệ cao, thị trờng gốc, hiệu quả cao, không thua thiệt
với bên ngoài, cạnh tranh đợc với hàng nhập khẩu ngay tại sân nhà.
Trong khi tiếp tục có các giải pháp hỗ trợ về xuất khẩu nông sản, cần
phải cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp theo hớng có tính toán đến yếu tố thị tr-
ờng, với những liệu pháp mạnh về qui vùng, đổi mới giống, qui trình sản xuất,
bảo quản, chế biến. Bên cạnh năng xuất cao phải có chất lợng tốt, giá cả hợp lý
đáp ứng nhu cầu của khách hàng quốc tế. Có chế định u đãi thu hút nhằm thực
hiện tự giác theo những nội dụng nêu trên.
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực trên cơ sở phát huy tối đa
nội lực, bảo đảm độc lập tự chủ, bình đẳng cùng có lợi. Thực hiện nghiêm chỉnh
các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập, trớc hết là lộ trình giảm thuế
quan. Thực hiện chính sách bảo hộ có trọng điểm, có điều kiện và có thời gian
phù hợp với tiến trình hội nhập. Tích cực thực hiện các cam kết đối với các cơ
chế hợp tác song phơng và đa phơng mà nớc ta đã tham gia, đặc biệt chú ý tới
các cam kết trong khuôn khổ ASEAN, diễn đàn hợp tác á-Âu (ASEM), diễn
đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng ( APEC), tiếp tục đàm phán để gia
nhập tổ chức thơng mại thế giới (WTO). Mở rộng quan hệ kinh tế với các nớc
bạn bè truyền thống, các nớc độc lập dân tộc, các nớc đang phát triển ở Châu á,
Châu Phi, Trung Đông và Mỹ la tinh. Thúc đẩy quan hệ đa dạng với các nớc
phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế
13

II. Nội dung và hình thức xuất khẩu hàng nông sản
II.1. Nội dung :
Việt Nam là một nớc nông nghiệp , nông nghiệp có vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân. Nó đóng góp khoảng 42% tổng sản phẩm quốc nội
(GDP), 71,9% lực lợng lao động của cả nớc hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp.
Trong quá trình hội nhập và phát triển, Việt Nam đã chọn con đờng phát
triển kinh tế theo hớng xuất khẩu. Thực tế cho thấy ngành nông nghiệp đã đóng
góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của cả nớc, đồng thời thay thế đợc nhập
khẩu những nông sản phẩm mà trong nớc sản xuất có hiệu quả hơn để khai thác
tốt nhất các lợi thế về nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn, kĩ thuật, công
nghệ, thị trờng cho sự phát triển.
Để xuất khẩu đợc hàng hoá ra khỏi lãnh thổ của Việt Nam, nội dung của
hoạt động xuất khẩu đợc tổ chức gồm nhiều nghiệp vụ: Từ điều tra nghiên cứu
thị trờng nớc ngoài, lựa chọn hàng hoá xuất khẩu, bạn hàng giao dịch , thông
qua các bớc giao dịch và đàm phán đi đến kí kết hợp đồng, tổ chức thực hiện
hợp đồng cho đến khi hàng hoá đợc chuyển đến nớc bạn, chuyển quyền sở hữu
hàng hoá cho ngời mua và ngời mua tiến hành thủ tục thanh toán. Mỗi nội dung
của hoạt động xuất khẩu chính là mõi khâu, mỗi nhiệm cụ của hoạt động xuất
khẩu và để đạt đựơc hiêu quả cao nhất phục vụ đợc đầy đủ, kịp thời cho sản
xuất và cho tiêu dùng đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu kỹ lỡng mỗi nghiệp vụ
và đặt chúng trong mối quan hệ lẫn nhau.
1. Nghiên cứu thị trờng: Nông sản xuất khẩu
Muốn khai thác và nghiên cứu, phát triển nguồn hàng của mình, các
doanh nghiệp ngoại thơng phải luôn tìm cách tiếp cận thị trờng. Thị trờng là
một dạng thù khách quan gắn với lợi ích nền sản xuất với lu thông hàng hoá, ở
đâu có sản xuất, lu thông thì ở đó có thị trờng.
Nghiên cứu thị trờng là việc làm cần thiết và đầu tiên đối với bất cứ công
ty nào muốn tham gia vào thị trờng thế giới.
Nghiên cứu thị trờng là quá trình điều tra để tìm triển vọng bán hàng cho
một hoặc một nhóm sản phẩm. Công tác nghiên cứu thị trờng phải góp phần chủ
yếu trong việc thực hiện phơng châm hành động chỉ bán cái thị trờng cần chứ
không phải bán cái thị trờng có.
Đối với doang nghiệp xuất khẩu, nghiên cứu thị trờng cần phải trả lời các
câu hỏi: Nớc nào là thị trờng có triển vọng nhất đối với sản phẩm; khả năng
bán đợc bao nhiêu, bán cho ai; chọn phơng pháp bán nào là phù hợp nhất
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét