Bé không vin, cả gãy cành.
Qua thời gian học tập tôi đã đợc các thầy cô giáo giảng dạy, hớng dẫn,
bản thân tôi thấy rõ việc giáo dục thế hệ trẻ cụ thể là lứa tuổi mầm non cần đợc
chăm sóc giáo dục để tạo nên những con ngời mới xã hội chủ nghĩa có phẩm
chất đạo đức, có tài năng và có thể lực cờng tráng để phù hợp với thời đại công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Vì vậy, tôi đã chọn việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ
mẫu giáo làm đề tài cho bài tập tốt nghiệp khoá học. Giáo dục hành vi giao tiếp
có văn hoá cho trẻ mẫu giáo là dạy trẻ những hành vi phù hợp với chuẩn mực xã
hội : Biết quý trọng ông bà cha mẹ; biết quan tâm đến ngời già cả, cô đơn; biết
nhờng nhịn em bé Nghĩa là phải tiến hành daỵ trẻ toàn diện 4 mặt : Đức, trí,
thể, mỹ đúng với ý nguyện của ngời lớn chúng ta là :
Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai.
Thế giới của công nghệ thông tin, thế giới của trí tuệ, tài năng.
II. Mục đích nghiên cứu :
Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu :
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận.
2. Thực nghiệm s phạm : Tác động s phạm để giáo dục hành vi giao tiếp
có văn hoá.
3. Đề xuất và kiến nghị s phạm
IV. Phơng pháp nghiên cứu
1. Đọc tài liệu
2. Thực nghiệm s phạm
3. Xử lý kết quả.
5
Phần II : Nội dung nghiên cứu
Chơng I :
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục hành vi
giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo .
I. Cơ sở lý luận của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn
hoá cho trẻ mẫu giáo
1. Hành vi giao tiếp có văn hoá :
Để tiến hành giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo có
hiệu quả, chúng tôi đã xác định rõ khái niệm hành vi giao tiếp có văn hoá cũng
nh phân tích nhân tố có tính quy luật chi phối quá trình giáo dục này.
a. Văn hoá là gì ?
Văn hoá là một khái niệm rộng và phức tạp, khái niệm về văn hoá đã đợc
nhiều tác giả đề cập tới và diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, thậm chí một số
nhà xã hội học Mỹ đã thống kê đợc tới gần 1000 định nghĩa khác nhau về văn
hoá . Nhng nhìn chung thì Văn hoá là toàn bộ những giá trị về vật chất và tinh
thần do loài ngời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của dân tộc mình. Văn hoá
là một hiện tợng xã hội tiêu biểu cho trình độ mà xã hội đã đạt đợc trong từng
giai đoạn lịch sử nhất định nh : Tiến bộ về kinh tế, kinh nghiệm sản xuất lao
động, học vấn giáo dục, khoa học, văn học nghệ thuật và những tổ chức thích
ứng với cái đó.
Theo nghĩa rộng văn hoá bao gồm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh
thần, còn theo nghĩa hẹp thì văn hoá chỉ liên quan đến đời sống của con ngời.
Văn hoá chính là sản phẩm của con ngời và do con ngời tạo ra nó. Vì vậy, văn
hoá chỉ là cái gì dành riêng cho con ngời và chỉ có thể có ở nơi con ngời sinh
sống mà thôi. ở đâu có con ngời sống thành tập thể, thành xã hội thì ở đó có
6
văn hoá, văn hoá bao giờ cũng gắn liền với xã hội, với dân tộc, với thời kỳ lịch
sử. Có văn hoá thời cổ đại, văn hoá thời Phục hng, văn hoá thời Trung
đại, văn hoá Việt Nam,văn hoá Trung Quốc Văn hoá là do con ng ời sáng tạo
ra, có thể nói rằng con ngời sinh ra và trởng thành trong xã hội nào thì chịu ảnh
hởng sâu sắc bởi nền văn hoá của xã hội đó. Thậm chí cho dù có một thời gian
dài sống tách khỏi xã hội thì con ngời vẫn t duy và hành động theo những
khuôn mẫu, tác phong, nề nếp quen thuộc. Nhân cách của mỗi thành viên trong
một cộng đồng bao giờ cũng mang dấu vết bản sắc văn hoá dân tộc.
* Phân biệt văn hoá và văn minh :
Văn minh là một khái niệm dùng để chỉ trình độ đạt tới mức độ nào đó
của xã hội loài ngời, có nền văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần mang những
nét đặc trng nhất định. Theo các nhà xã hội học và dân tộc học thì dân tộc nào
cũng có nền văn hoá riêng của mình. Dân tộc này văn minh hơn dân tộc khác
chỉ là nói đến sự khác nhau về mức độ phát triển mà thôi. Theo ý nghĩa đó thì
trong xã hội ngày nay có những nền văn hoá ở trình độ văn minh thấp hơn.
Văn minh liên quan chủ yếu tới kỹ thuật làm chủ tự nhiên, sự tiến bộ của
văn minh trớc hết là sự tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Sau đó là sự
tiến bộ về đạo đức xã hội. Vì thế, ngời ta thờng lấy sự tiến bộ về khoa học, kỹ
thuật và công nghệ làm tiêu chuẩn đo trình độ văn minh của các nền văn hoá.
VD : Nền văn minh đồ đá, văn minh cơ khí, văn minh công nghiệp.
Tuy là khái niệm rất khác nhau, song văn hoá lại cũng gắn bó chặt chẽ
với văn minh. Thậm chí còn là linh hồn của văn minh bởi vì để tiếp thu đợc
khoa học kỹ thuật đòi hỏi con ngời phải có một nền văn hoá sâu sắc. Nếu một
dân tộc không có sẵn một nền văn hoá cao, không có truyền thống ham học,
không có bản lĩnh vững vàng, chỉ tiếp nhận ở khía cạnh đơn thuần thì dần dần
bản sắc văn hoá dân tộc đó bị mai một, dân tộc đó sẽ bị tác động bởi những nền
văn hoá khác.
7
Ngợc lại : Nếu một dân tộc có nền văn hoá cao, có truyền thống hiếu học,
có bản sắc dân tộc vững vàng thì từ chỗ rất lạc hậu so với thế giới bên ngoài dân
tộc đó sẽ nhanh chóng làm chủ đợc khoa học hiện đại, tạo ra những sản phẩm
có sức lôi cuốn mạnh mẽ.
Bằng cách ấy dân tộc đó sẽ phát triển nhanh, văn hoá là một hiện tợng
vừa mang tính phổ biến vừa mang tính cá biệt.
Tính phổ biến của văn hoá thể hiện ở chỗ nó là đặc điểm chung của con
ngời bắt gặp ở mọi cộng đồng.
Tính cá biệt của văn hoá thể hiện ở chỗ mỗi cộng đồng lại có một lối
sống riêng không giống các cộng đồng khác.
Văn hoá không phải là một hiện tợng cố định mà trái lại nó biến chuyển
và phát triển từ xã hội này qua xã hội khác; từ thời kỳ này qua thời kỳ khác.
Thậm chí còn có thể thay đổi trong nội bộ từ chế định này sang chế định khác.
Sự biến chuyển của văn hoá yếu tố quan trọng nhất là thông qua sự hội tụ,
phổ cập. Hai diễn biến này có khuynh hứớng đan xen lẫn nhau trong sự phát
triển của một nền văn hoá.
Lịch sử đã cho thấy văn hoá biến chuyển và phát triển nhanh chóng ở
những khu vực có giao lu, tiếp xúc rộng rãi với các nền văn hoá khác. Còn
những nền văn hoá cô lập với thế giới bên ngoài thì nền văn hoá đó không phát
triển đợc.Trong thời đại ngày nay, thời đại mà phơng tiện thông tin đại chúng
phát triển một cách hiện đại thì sự giao lu, trao đổi với nhau giữa các nền văn
hoá là rất thuận lợi. Trong quá trình giao lu này nếu cá nhân nào, tập thể nào
biết lựa chọn và tiếp thu những tinh hoa của nền văn hoá khác một cách nhanh
chóng, thông minh, tinh tế và khéo léo thì nền văn hoá đó sẽ đợc hoàn thiện và
tốt đẹp hơn.
Ngợc lại với một nền văn hoá cô lập, tự bó hẹp thì nó sẽ bị nghèo nàn và
mai một dần.
8
Bởi vậy, để có nền văn hoá phát triển cần tăng cờng giao lu kinh tế, tăng
cờng tiếp xúc, trao đổi với những nền văn hoá của các dân tộc khác nhau; biết
lựa chọn và tiếp thu những tinh hoa của họ nhng phải phù hợp với nền văn hoá
của nớc mình và không làm mất đi bản sắc riêng của dân tộc mình.
2. Hành vi :
Theo các nhà tâm lý học, hành vi con ngời đợc phân loại theo nhiều cách
khác nhau: Nh hành vi có nguồn gốc bên ngoài và hành vi có nguồn gốc bên
trong; cũng có nhà tâm lý học đã phân biệt hành vi thành 3 loại khác nhau theo
bản chất tâm lý học: Đó là hành vi bản năng, hành vi kỹ xảo và hành vi lý trí.
Trong giáo dục học ngời ta thờng quan tâm đến hành vi đạo đức. Đó là
những hành động đợc thúc đẩy bằng các động cơ đạo đức đem lại những kết
quả có ý nghĩa đạo đức và đợc đánh giá bằng những phạm trù đạo đức. Hành vi
đạo đức gồm 2 thành phần : Hành động đem lại những kết quả có ý nghĩa đạo
đức với t cách là mặt biểu hiện bên ngoài; thái độ (mục đích, ý định, động cơ)
thấm nhuần ý thức đạo đức với t cách là mặt kích thích bên trong. Nh vậy, khi
đánh giá con ngời có hành vi đạo đức hay không thì không những ta phải xem
xét ngời đó hoạt động nh thế nào, có phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội hay
không mà còn phải xem xét ngời đó hoạt động với động cơ đúng hay sai, tích
cực hay tiêu cực? Cũng nh khi giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ điều quan trọng
là không ngừng tạo ra những hoạt động phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã
hội và xây dựng động cơ hoạt động có đạo đức cao.
3. Văn hoá hành vi
Đạo đức Mác xít coi văn hoá hành vi là toàn bộ những hình thức hành vi,
lối sống giao tiếp hàng ngày của con ngời lao động mà các chuẩn mực đạo đức
và thẩm mỹ bao trùm lên các hình thức ứng xử ấy. Nếu các chuẩn mực đạo đức
quy định hành vi ấn định cụ thể con ngời cần phải làm gì thì văn hoá hành vi
vạch rõ cụ thể phải làm bằng cách nào. Các yêu cầu đạo đức tồn tại trong hành
vi. Hình thức bên ngoài của hành vi con ngời ra sao, trong
9
phạm vi nào - các chuẩn mực này hoà nhập một cách hữu cơ tự nhiên và đơng
nhiên với hình ảnh của nó trong cuộc sống để trở thành các quy tắc sống hàng
ngày. Vì thế, văn minh hành vi còn đợc coi là văn hoá bên ngoài để phân biệt
với văn hoá bên trong của con ngời bao gồm thế giới quan, niềm tin đạo đức,
trình độ phát triển chung, kiến thức, hứng thú, nhu cầu
Giữa văn hoá bên trong và văn hoá bên ngoài của con ngời có mối liên hệ
chặt chẽ, một sự thống nhất xác định. Mối quan hệ đó rất phức tạp và biện
chứng có tính hai chiều. Văn hoá bên trong tuy quan trọng nhng nó cần đợc
biểu hiện ra bằng hành động cụ thể dới những hình thức hành vi nhất định. Văn
hoá bên trong quy định hành vi bên ngoài của con ngời. Hình thức hành vi là sự
phản ánh cái bên trong chịu sự quy định của cái bên ngoài nhng đồng thời nó lại
tác động trở lại thế giới bên trong của chủ thể. Sự luộm thuộm trong sinh hoạt,
thô lỗ cục cằn, thiếu tế nhị trong giao tiếp dần dần sẽ tạo nên những thói quen
và phẩm chất cá nhân tơng ứng. Vì vậy, sẽ là sai lầm nếu cho rằng phẩm chất
bên trong mới là phẩm chất thực, còn hành vi bên ngoài chỉ là lớp vỏ hình thức.
Chính quan niệm sai lầm này đã dẫn đến việc coi thờng tuân thủ các hành vi
văn hoá cũng nh dẫn đến việc thiếu quan tâm giáo dục văn hoá hành vi cho thế
hệ trẻ. Đồng thời, chống lại khuynh hớng giáo dục này sẽ tạo ra một thế hệ con
ngời giả dối, tham lam ích kỷ. Những kẻ nh vậy sẽ tạo ra một xã hội lừa bịp, giả
tạo. Vậy chính các quy tắc hành vi văn hoá là một trong những con đờng giúp
con ngời giải quyết những vấn đề đó. Chúng ta tìm ra những hình thức hành vi
phù hợp với các yêu cầu đạo đức xã hội, đáp ứng đợc những đòi hỏi thẩm mỹ và
phản ánh một trình độ văn hoá do xã hội tích luỹ đợc trong quá trình phát triển
của mình.
Giữa văn hoá hành vi và kỷ luật có mối quan hệ chặt chẽ do đợc quy định
bởi đạo đức xã hội. Do mối quan hệ chặt chẽ giữa kỷ luật và văn hoá hành vi mà
việc giáo dục kỷ luật tự giác phải đợc gắn liền với văn hoá hành vi. Khi giải
thích cho trẻ các yêu cầu kỷ luật đồng thời phải chỉ ra cách thực hiện chúng.
10
Tóm lại: Văn hoá hành vi là một phần của đạo đức cộng sản. Giáo dục
văn hoá hành vi là một trong những mặt giáo dục đạo đức thẩm mỹ cho trẻ mẫu
giáo.
4. Giao tiếp
Giao tiếp là một phạm trù rất quan trọng của tâm lý học. Trong lịch sử
phát triển tâm lý học có rất nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp. Nhng nổi
lên là cuộc tranh luận gay gắt giữa hai trờng phái tâm lý Xô viết sau :
* Trờng phái A. A Leonchep quan niệm giao tiếp là hệ thống những quá
trình có mục đích và có động cơ đảm bảo sự tơng tác giữa ngời này với ngời
khác. Trong hoạt động thực tiễn các quan hệ xã hội nhân cách và các quan hệ
tâm lý sử dụng các phơng pháp đặc thù mà trớc hết là ngôn ngữ . Ông cho rằng
giao tiếp có cấu trúc chung của hoạt động, giao tiếp nào cũng có động cơ quy
định sự hình thành và phát triển của nó và cũng đều đợc tạo ra bởi các hành
động và thao tác. Họ cho rằng giao tiếp nào cũng mang đặc tính của hoạt động
tức là cũng có cụ thể nhằm vào một đối tợng nào đó để tạo ra một sản phẩm.
Nội dung của nó là sự nhận thức qua lại và trao đổi thông tin nhằm mục đích và
xây dựng mối quan hệ qua lại có lơị đối với quá trình hoạt động chung. Ông đã
chia quá trình giao tiếp ra làm 4 thời điểm : Một là tiếp xúc và liên hệ; hai là tác
động lẫn nhau; ba là nhận thức lẫn nhau; bốn là mối quan hệ lẫn nhau.
Còn BDPARUGHIN cho mối quan hệ giao tiếp là quá trình hai mặt của
sự thông báo và tác động qua lại. Trong đó sự thông báo là nội dung và tác động
qua lại là hình thức của giao tiếp.
Phái B.E Lomop cho rằng giao tiếp không phải là một dạng hoạt động mà
nó phải đợc xem nh một phạm trù tơng đối độc lập trong tâm lý học bên cạnh
phạm trù hoạt động.
Sự bất đồng giữa hai trờng phái là ở chỗ giao tiếp không phải là một dạng
của hoạt động. Tuy nhiên cả hai trờng phái cũng nh bất cứ một nhà tâm lý học
11
chân chính nào cũng phải thừa nhận vai trò quan trọng của giao tiếp trong sự
hình thành và phát triển nhân cách, đều phải coi giao tiếp là điều kiện tất yếu
của sự hình thành và phát triển tâm lý con ngời.
ở Việt Nam cũng có một số tác giả đa ra những quan niệm của mình về
giao tiếp nh:
Phạm Minh Hạc trong bài: hoạt động - giao lu - nhân cách đã định
nghiã: Giao tiếp là mối quan hệ hai chiều qua lại tạo một cái chung của các chủ
thể của mối quan hệ đó.
Đinh Trọng Lạc lại cho rằng : giao tiếp là sự tiếp xúc nhau giữa các cá
thể này và cá thể khác trong một cộng đồng xã hôi.
Trong cuộc sống, giao tiếp diễn ra rất phong phú, đa dạng về loại hình.
Dựa trên những cơ sở phân loại khác nhau mà ngời ta có các cách phân loại
khác nhau.
Căn cứ vào phơng tiện sử dụng để giao tiếp, ngời ta chia giao tiếp ra làm
3 loại là giao tiếp vật chất, giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp tín hiệu.
Căn cứ vào tính chất trực tiếp hay gián tiếp khi giao tiếp mà ngời ta phân
giao tiếp ra thành giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp.
II. Thực tiễn việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá
cho trẻ mẫu giáo.
Xuất phát từ nhận thức muốn nâng cao chất lợng về hành vi giao tiếp có
văn hoá cho trẻ mẫu giáo thì phải có kế hoạch, có chơng trình. Nội dung thực
hiện việc giáo dục hành vi có văn hoá cho trẻ. Vì vậy, từ năm học 1996 - 1997
Bộ G D ĐT đã triển khai chuyên đề : Giáo dục lễ giáo tới 100% các trờng
mầm non trong toàn quốc. Các trờng mầm non trên địa bàn huyện Lạc Sơn đã
đợc thực hiện chuyên đề này theo sự chỉ đạo hớng dẫn của Bộ
12
GDĐT và sở Giáo dục đào tạo Tỉnh Hoà Bình theo tinh thần công văn số
914/GDMN về việc triển khai Chuyên đề giáo dục lễ giáo ngày 16/2/1996.
Để đội ngũ giáo viên nắm đợc mục đích, yêu cầu nội dung chuyên đề ta
cần phải :
1. Quan tâm đến công tác bồi dỡng. Các nhà trờng đã tổ chức cho 100%
cán bộ giáo viên và công nhân viên tham dự các lớp bồi dỡng do sở, phòng, tr-
ờng tổ chức. Sau mỗi đợt bồi dỡng thì tổ chức cho tất cả chị em trao đổi, thảo
luận, viết thu hoạch và đề xuất những kiến nghị. Ngoài bồi dỡng theo lớp, các
trờng chỉ đạo bồi dỡng qua thực tế ở các lớp điểm. Các trờng thực hiện theo kế
hoạch chỉ đạo trong 3 năm thực hiện chuyên đề sau đó là thực hiện sau chuyên
đề.
2. Tạo môi trờng giáo dục xung quanh trẻ :
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo có đặc điểm hay bắt chớc. Vì vậy, phải tạo môi
trờng mẫu mực xung quanh trẻ: Phải có môi trờng s phạm, môi trờng xanh- sạch
- đẹp (có sân vờn, khu thiên nhiên, chuồng nuôi các con vật, đồ chơi đẹp )
chúng tôi còn yêu cầu giáo viên phải gơng mẫu đối với trẻ đó là ăn mặc, cử chỉ,
lời nói, tác phong phải nhẹ nhàng đúng mực để hình thành thói quen gơng mẫu
trớc trẻ.
Các trờng đã phát động các đợt thi đua nh : Nói lời hay, làm việc tốt;
Kỷ cơng, tình thơng, trách nhiệm Nhờ những đợt vận động nh trên, dần dần
những hành vi cha gơng mẫu của giáo viên, công nhân viên đã chấm dứt.
3. Giáo dục lễ giáo mọi lúc, mọi nơi.
Đặc điểm tâm lý trẻ mầm non là mau nhớ nhng cũng chóng quên nên việc
giáo dục lễ giáo đối với trẻ phải đợc làm thờng xuyên, liên tục và giáo dục ở
mọi lúc, mọi nơi thông qua các hoạt động là biện pháp tốt nhất. Giáo dục lễ
giáo thực hiện qua các hoạt động hàng ngày nh đón trả trẻ, hoạt động vui chơi,
lao động vệ sinh đều là những dịp để trẻ bộc lộ cá tính, cách ứng xử lời ăn
tiếng nói của mình. Yêu cầu giáo viên phải gần gũi để kịp thời phát
13
hiện và uốn nắn những sai sót của trẻ trong hành vi, lời nói theo những
tiêu chí của chuyên đề lễ giáo quy định.
Hoạt động học tập chiếm u thế trong giáo dục lễ giáo. Cho nên, đội ngũ
giáo viên đã lồng nội dung lễ giáo vào tất cả các môn học : làm quen văn học,
giáo dục âm nhạc, làm quen môi trờng xung quanh Trong môn làm quen với
văn học trẻ đóng vai nhân vật trong truyện. Thông qua việc nhập vai trẻ cảm ơn,
xin lỗi thì hành động lời nói trong vai kịch đã trở thành hành động lời nói trong
sinh hoạt hàng ngày. Nh vậy, việc giáo dục lễ giáo đã thấm vào trẻ nhẹ nhàng
và hấp dẫn.
4. Xây dựng góc lễ giáo.
ở mỗi nhóm lớp đã xây dựng và sắp xếp một góc lễ giáo. ở góc này giáo
viên đã su tầm sách, truyện có tranh ảnh nêu những gơng tốt có giáo dục để trẻ
xem và làm theo. Ngoài ra, ở góc khác cô trng bày những sản phẩm đẹp do trẻ
tự làm nh các bức tranh, sản phẩm nặn, vẽ, xé dán
5. Xây dựng môi trờng xanh, sạch, đẹp.
Để hỗ trợ cho chuyên đề các lớp đã chú ý tạo cảnh quan sân trờng để thu
hút trẻ; Hoa và cây cảnh đợc sắp xếp , chăm sóc chu đáo; Quy định chỗ để xe
cho phụ huynh khi đa con đến trờng để tạo ý thức thực hiện nếp sống văn minh,
trật tự; Tạo các thùng đựng rác và tạo thói quen bỏ rác vào thùng cho phụ huynh
và học sinh; tạo góc thiên nhiên cây cảnh, nuôi các con vật gần gũi để trẻ làm
quen nh : Chim bồ câu, thỏ, gà, chim cảnh, cá cảnh
6. Phối kết hợp với các bậc cha mẹ học sinh, các lực lợng xã hội để làm
tốt việc giáo dục lễ giáo
Công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non nói chung và công tác giáo dục
lễ giáo nói riêng muốn đạt kết quả tốt đều không thể không có sự ủng hộ của
các bậc phụ huynh. Với nhận thức nh vậy khi triển khai chuyên đề lễ giáo
chúng tôi đã phối kết hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh. Khi bắt đầu thực
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét