Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

Nền kinh tế tri thức đã thực sự trở thành mục tiêu then chốt trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia và cũng đang trở thành tiêu điểm quan
tâm của quảng đại quần chúng. Kinh tế tri thức lấy công nghệ kĩ thuật cao làm lực
lượng sản xuất thứ nhất, lấy trí lực ( năng lực trí tuệ) làm chỗ dựa chủ yếu. Công nghệ
kĩ thuật cao cần tri thức, trí lực, nếu không có nhiều thông tin, tri thức, trí lực thì nó
không phải là kĩ thuật cao. Tư tưởng chỉ đạo của phát minh kĩ thuật cao là lợi dụng
nguồn tài nguyên hiện có một cách khoa học, hợp lý, tổng hợp và hiệu xuất cao. Đồng
thời khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác để thay thế cho
nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm đã gần cạn kiệt. Kinh tế tri thức là kinh tế
thúc đẩy điều hòa giữa con người và thiên nhiên nên phát triển bền vững.
Ngày nay ngoài các ngành truyền thống, trong nền kinh tế thế giới đang hình
thành và phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp mới mà nguyên liệu đầu vào chủ
yếu là thông tin và tri thức, với tốc độ tăng trưởng cao gấp nhiều lần so với phát triển
kinh tế nói chung. Đã xuất hiện hiện tượng thần kỳ về phát triển kinh tế chưa từng
thấy trong lịch sử, vượt xa sự phỏng đoán của hầu hết các chuyên gia tầm cỡ thế giới
cũng như sức tưởng tượng và hình dung của con người dựa vào những kinh nghiệm
trong quá khứ. Nền kinh tế thế giới đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế
tri thức, nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí
tuệ.
Một nước có thể được gọi là nền kinh tế tri thức khi :
- Có hơn 70% GDP đóng góp do ngành kinh tế tri thức
- Cơ cấu giá trị gia tăng có trên 70% giá trị do lao động trí óc mang lại.
- Cơ cấu lao động có hơn 70% là công nhân trí thức
- Cơ cấu tư bản trên 70% là tư bản con người.
1.2.2 Đặc điểm mới của toàn cầu hóa kinh tế
Ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế là đặc trưng và xu hướng phát triển phổ biến
của nền kinh tế thế giới, bất luận đó là nền kinh tế có quy mô và trình độ phát triển ra
sao và thuộc chế độ chính trị - xã hội thế nào. Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế
khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước
phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều
5
mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh,
vừa tạo ra những cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng vừa có những thách thức đối
với các quốc gia, nhất là các quốc gia đang ở trình độ kém phát triển
Tác động tích cực của toàn cầu hóa:
- Thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất
- Mở rộng và phát triển thị trường ra khu vực và toàn cầu
- Bổ sung và phân bổ lại nguồn lực
- Thúc đẩy cải cách kinh tế và hợp tác phát triển
- Tiền đề cho sự phát triển bền vững
- Nâng cao đời sống nhân dân thông qua tăng trưởng kinh tế và tiếp cận của
người dân với các sản phẩm và dịch vụ cao cấp quốc tế, cơ hội học tập và du
lịch nước ngoài.
Tác động tiêu cực của toàn cầu hóa:
- Chịu hiệu ứng “lây lan” của những bất ổn khu vực và toàn cầu.
- Làm trầm trọng thêm khoảng cách giàu nghèo trong một xã hội, giữa các nước
và các khu vực.
Như vậy, có thể nói rằng, toàn cầu hoá đang đặt ra hàng loạt những thách thức hết sức
khó khăn cho tất cả các nước. Đó chính là những vấn đề toàn cầu mà nhân loại đang
và sẽ phải đối mặt. Nhận thức cho được các vấn đề này và tìm ra đối sách để giải
quyết chúng là nhiệm vụ không dễ dàng, nhưng đó lại là việc không thể không làm
một cách tích cực, từng bước và làm một cách khoa học. Có vượt qua được những
thách thức đó, chúng ta mới có cơ hội phát triển nhanh hơn trong tương lai. Vì vậy,
"nắm bắt cơ hội: vượt qua thách thức, phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mới, đó là
vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta”.
6
Rõ ràng bối cảnh quốc tế tạo cho chúng ta nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách
thức. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hội nhập quốc tế là phải vượt qua các
thách thức đó, tranh thủ được các cơ hội để tạo lập một cơ cấu kinh tế mới phù hợp,
tiến bộ và hiệu quả hơn.
1.3 Bối cảnh kinh tế trong nước
Quá trình đổi mới hơn 20 năm qua, nhất là từ năm 1991, thực hiện chính sách
mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế khu vực, quốc tế, thế và lực phát triển của nền
kinh tế Việt Nam đã có sự thay đổi lớn.
Kinh tế tăng trưởng nhanh và tương đối ổn định, GDP năm sau cao hơn năm
trước, tiềm lực kinh tế đã lớn mạnh hơn. Cơ cấu ngành nói riêng và cơ cấu kinh tế nói
chung đã có bước chuyển dịch đáng kể theo hướng công nghiệp hóa và từng bước
hiện đại hóa.
Vừa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, vừa tiếp tục hội nhập sâu hơn vào
nền kinh tế khu vực và thế giới, quan hệ kinh tế đối ngoại được tiếp tục củng cố và
mở rộng.
Khung khổ pháp lý cho hoạt động của các loại thị trường đã dần được bổ sung
và hoàn thiện. Cơ chế quản lý mới hệ thống doanh nghiệp nhà nước đã được xác định;
tổ chức triển khai sâu rộng Luật doanh nghiệp; sửa đổi bổ sung Luật thuế, Luật đất
đai; thị trường hàng hóa sôi động và phát triển nhanh; thị trường lao động có bước
phát triển, hệ thống thị trường tài chính tiền tệ đã phát triển và đạt được kết quả khả
quan.
Các yếu tố ngoại lực (vốn, kỹ thuật – công nghệ, tri thức, thị trường) đã trở
thành lực lượng quan trọng và được kết hợp với yếu tố nội lực đã tạo thành sức mạnh
tổng hợp thúc đẫy nền kinh tế phát triển. Những động lực phát triển mới đã xuất hiện:
cạnh tranh theo nguyên tắc thị trường, các nhu cầu được mở rộng làm mở rộng các cơ
hội phát triển, do đó, đã tạo nhiều khả năng lựa chọn các cơ hội phát triển cho xã hội
Tóm lại, bước vào thời kỳ phát triển mới, nền kinh tế nước ta đã có sự thay đổi
về thế và lực: cấu trúc kinh tế mới, tiềm lực mới, thế path triển mới, động lực mới và
lực lượng chủ thể mới.
7
CHƯƠNG 2
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
2.1 Thực trạng cơ cấu kinh tế tại Việt Nam
Sang thế kỷ XXI, thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về đẩy nhanh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ,cơ cấu kinh tế quốc dân chuyển dịch nhanh theo
hướng tích cực nhưng tốc độ vẫn còn chậm. Năm 2000 - 2005, GDP bình quân mỗi
năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện hành, đạt
838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640
USD. Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu tấn lương thực,
Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, nước ta đứng
thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2 về hạt
điều, thứ nhất về hạt tiêu. Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm
dần, năm 1988 là 46,3%, năm 2005 còn 20,9%. Trong nội bộ ngành nông nghiệp cơ
cấu trồng trọt và chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản
phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu. Trong
kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,5%/năm,
giá trị tăng thêm bằng khoảng 3,89%/năm. Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày
càng tăng, có chỗ đứng trong những thị trường lớn, giá trị sản xuất công nghiệp và
xây dựng tăng 15,9%/năm, giá trị tăng thêm đạt 10,2%/năm. Tỷ trọng khu vực dịch
8
vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1% năm 2005. Các ngành dịch vụ đã
phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống.
Bảng 1 : Cơ cấu GDP theo ngành từ 1995-2004
Đơn vị tính:%
1995 2000 2003 2004
Nông lâm thuỷ
sản
27,18 24,53 22,54 21,76
Công nghiệp, xây
dựng
28,76 36,73 39,47 40,09
Dịch vụ 44,06 38,74 37,99 38,165
Nguồn: tổng cục thống kê
Bảng 2: Tỷ lệ đóng góp của từng ngành vào tốc độ tăng GDP(%)
2000 2001 2002 2003 2004
Nông, lâm nghiệp, thuỷ
sản
1,10 0,69 0,91 0,72 0,80
Công nghiệp và xây
dựng
3,46 3,68 3,45 3,86 3,90
Dịch vụ 2,23 2,52 2,68 2,68 3,00
Tổng GDP 6,79 6,89 7,04 7,26 7,60
Nguồn: Tổng cục thống kê
Kết thúc kế hoạch 5 năm 2000-2005, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
quốc dân theo GDP về cơ bản vẫn như những năm trước đó. Tỷ trọng nông nghiệp
9
(nghĩa rộng) chiếm 22, l1%, công nghiệp và xây dựng chiếm 39,79% và dịch vụ
chiếm 38, 10% GDP. Như vậy, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế chỉ có 2 chỉ
tiêu đạt được là nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng theo nghĩa rộng, còn dịch
vụ không đạt được.
Từ năm 2007 trở lại đây, chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu làm cho tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó
lường, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức, tuy nhiên cơ cấu
kinh tế ngành và nội bộ ngành đã chuyển dịch tích cực. Tổng sản phẩm trong nước
(GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 6,23% so với năm 2007, trong
đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp và xây
dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2%. Năm 2009, GDP tăng 5,32%, bao gồm:
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng
tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%.
Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng GDP và các ngành kinh tế thời kỳ 2007-2009
Đơn vị tính: %
2007 2008 2009
Nông nghiệp 3,40 3,79 1,83
Công nghiệp 10,60 6,33 5,52
Dịch vụ 8,69 7,20 6,63
Tổng 8,48 6,23 5,32
Nguồn: Tổng cục thống kê
Hình 1: Cơ cấu GDP Việt Nam phân theo nhóm ngành thời kỳ 1991-2008
10
Nguồn: Tổng cục thống kê
+ Cùng với sự thay đổi mạnh mẽ tỷ trọng, giá trị sản lượng của các ngành công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ cũng thay đổi mạnh,cụ thể mức tăng của khu vực
nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2008 cao hơn mức tăng năm 2007 và 2006, chủ
yếu do sản xuất nông nghiệp được mùa, sản lượng lúa cả năm tăng 2,7 triệu tấn so với
năm 2007 và là mức tăng cao nhất trong vòng 11 năm trở lại đây. Tăng trưởng khu
vực công nghiệp và xây dựng năm 2008 đạt mức thấp hơn mức tăng của năm 2007,
chủ yếu do sản xuất của ngành công nghiệp khai thác giảm nhiều so với năm trước
(giá trị tăng thêm giảm 3,8%); công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng 63,5% trong tổng
giá trị tăng thêm công nghiệp nhưng giá trị tăng thêm chỉ tăng 10%, thấp hơn mức
tăng 12,8% của năm 2007; đặc biệt giá trị tăng thêm của ngành xây dựng năm nay
không tăng, trong khi năm 2007 ngành này tăng ở mức 12%. Hoạt động của khu vực
dịch vụ tuy ổn định hơn so với khu vực công nghiệp và xây dựng nhưng giá trị tăng
thêm vẫn tăng thấp hơn mức tăng 8,7% của năm trước.
+ GDP tính theo giá thực tế năm 2008 tăng cao; với mức tăng trưởng và tăng giá
khác nhau ở ba khu vực nên cơ cấu kinh tế năm 2008 tăng ở khu vực nông, lâm
nghiệp và thuỷ sản và giảm ở khu vực công nghiệp, xây dựng. Tuy nhiên, xu hướng
này chỉ là tạm thời trong bối cảnh đặc biệt của năm 2008 với sự tăng chậm lại của khu
vực công nghiệp, xây dựng và giá nông lâm thuỷ sản tăng cao. Tỷ trọng khu vực
nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21,99% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng
chiếm 39,91%; khu vực dịch vụ chiếm 38,1%.
Hình 2:Biểu đồ tỷ trọng ngành trong cơ cấu GDP giai đoạn 2003-2008
11
Nhìn chung, từ năm 2007 trở lại đây sự tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các
ngành công nghiệp-xây dựng và dịch vụ, đồng thời giảm dần tỷ trọng trong GDP các
ngành nông-lâm-ngư nghiệp đã khẳng định cơ cấu kinh tế nước ta đang chuyển dịch
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.2 Thực trạng đầu tư vào các ngành kinh tế
FDI ở Việt Nam là nguồn vốn đầu tư phát triển xã hội, đã đóng góp đáng kể
vào tăng trưởng nền kinh tế. Theo đánh giá của Cục Đầu tư nước ngoài, vốn FDI đã
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đóng góp vào
ngân sách và các cân đối vĩ mô, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, tác động lan tỏa
đến các thành phần kinh tế khác. Trong năm 2008 có khoảng 1171 dự án với tổng vốn
đăng ký 60,3 tỷ USD, giảm 24,2% về số dự án nhưng gấp 3,2 lần về vốn đăng ký so
với năm 2007. Bình quân vốn đăng ký của một dự án năm nay đạt 51,5 triệu USD,
tăng 39 triệu USD so với mức bình quân 12,5 triệu USD/dự án của năm 2007. Trong
tổng số dự án được cấp phép mới trong năm 2008, các dự án thực hiện theo hình thức
100% vốn nước ngoài chiếm 75,3% về số dự án và 51,7% về vốn đăng ký. Nếu tính
cả 3,7 tỷ USD vốn đăng ký tăng thêm của 311 dự án được cấp phép từ các năm trước
thì năm 2008 cả nước đã thu hút được 64 tỷ USD vốn đăng ký, gấp gần 3 lần năm
2007, đạt mức cao nhất từ trước tới nay. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện
năm 2008 đạt 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007. Vốn đầu tư nước ngoài
trong các dự án được cấp giấy phép mới năm 2008 tập trung chủ yếu vào lĩnh vực
12
công nghiệp và xây dựng với 32,6 tỷ USD, chiếm 54,1% tổng vốn đăng ký; dịch vụ
27,4 tỷ USD, chiếm 45,5%; nông, lâm nghiệp và thủy sản 252,1 triệu USD, chiếm
0,4%. Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài năm 2009 đạt thấp do ảnh hưởng của
khủng hoảng kinh tế thế giới. Tính đến ngày 15/12/2009, đầu tư trực tiếp nước ngoài
đạt 21,5 tỷ USD, giảm 70% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: Vốn đăng ký của 839
dự án được cấp phép mới đạt 16,3 tỷ USD (giảm 46,1% về số dự án và giảm 75,4%
về vốn); vốn đăng ký bổ sung của 215 dự án được cấp phép từ các năm trước đạt 5,1
tỷ USD, giảm 1,7%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2009 ước tính đạt
10 tỷ USD, giảm 13% so với năm 2008. Trong năm 2009, lĩnh vực kinh doanh bất động
sản thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài với 7,4 tỷ USD vốn đăng ký
của các dự án được cấp phép mới, chiếm 45,1% tổng vốn đăng ký mới; tiếp đến là lĩnh vực
dịch vụ lưu trú và ăn uống 5 tỷ USD, chiếm 30,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo với 2,2 tỷ
USD, chiếm 13,6%.
Hình 3: Biểu đồ đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2000-2008
Hình 4: Cơ cấu FDI năm 2007
13
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, cơ cấu vốn FDI đã có sự thay đổi mạnh mẽ
trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2009. Nếu như những năm đầu của thế kỷ này, vốn
FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 85%, thì tới năm 2009 vừa
qua, khu vực này chỉ còn chiếm 22% tổng vốn đầu tư. Trong khi đó, vốn FDI vào lĩnh
vực dịch vụ có xu hướng ngược chiều, khi tăng từ 7% lên 77%, cũng trong cùng giai
đoạn với các con số thống kê kể trên.
Với mục tiêu ưu tiên là ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội,
trong những năm qua Chính phủ đã tập trung thực hiện các gói kích cầu đầu tư và tiêu
dùng; đồng thời chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, công trình trọng điểm
nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhờ vậy, vốn
đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2008 theo giá thực tế ước tính đạt 637,3 nghìn tỷ đồng,
bằng 43,1% GDP và tăng 22,2% so với năm 2007, bao gồm vốn khu vực Nhà nước 184,4
nghìn tỷ đồng, chiếm 28,9% tổng vốn và giảm 11,4%; khu vực ngoài Nhà nước 263
nghìn tỷ đồng, chiếm 41,3% và tăng 42,7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
189,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,8% và tăng 46,9%. Năm 2009 theo giá thực tế ước tính
đạt 704,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2008 và bằng 42,8% GDP, bao gồm
vốn khu vực Nhà nước 245 nghìn tỷ đồng, chiếm 34,8% tổng vốn và tăng 40,5%; khu
vực ngoài Nhà nước 278 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,5% và tăng 13,9%; khu vực có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài 181,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,7% và giảm 5,8%. Đầu tư
nhà nước chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội và đóng góp
nhất định vào tăng trưởng kinh tế.
Hình 5: Tăng trưởng GDP và tỷ lệ đầu tư/GDP giai đoạn 1997 – Q1/2009
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét