Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

v2959

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: là thoả thuận giữa hai quốc gia cắt giảm lượng
hàng hoá xuất khẩu.
Các chính sách về thuế, hạn ngạch đang dần bị xoá bỏ chính vì vậy các chính
sách này ít được coi là động lực để xuất khẩu. Các chính sách mà các quốc gia hay
áp dụng để thúc đẩy xuất khẩu:
Phát triển khoa học công nghệ.
Xúc tiến, nghiên cứu thị trường.
Vay tín dụng với lãi suất ưu đãi.
1.2. Cơ hội và thách thức đến sự phát triển nông nghiệp nói chung và
xuất khẩu nông sản nói riêng:
Sau 11 năm 7 ngày kể từ ngày nộp đơn xin gia nhập (4/1/95) đến ngày
11/1/2007 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên 150 của WTO. Đây có thể
coi là một bước chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam. Nhiều người cho
rằng, cơ hội và thách thức khi vao WTO là 50-50 nhưng trước mắt chúng ta sẽ gặp
rất nhiều khó khăn vì sản phẩm thiếu sức cạnh tranh, trong lúc thuế nhập khẩu giảm.
Có lẽ nông nghiệp và đặc biệt các nông sản xuất khẩu sẽ chịu nhiều sức ép hơn cả.
Gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nông sản Việt Nam tiếp cận với
thị trường 149 nước thành viên khác với mức thuế ưu đãi hơn trước. Nông sản Việt
Nam sẽ có một sân chơi hơn 5 tỷ người tiêu thụ, kim ngạch buôn bán nông sản lên
tới 548 tỷ USD/năm. Trong đó rau quả là mặt hàng nông sản lớn nhất với trị giá 103
tỷ USD. Thị trường về lúa gạo, cà phê, cao su …khoảng gần 10 tỷ USD. Các loại
nông sản khác như chè, điều và hồ tiêu thì trên dưới 3 tỷ USD/năm.
Có thể thu hút khuyến khích được nhiều thành phần kinh tế kể cả nước ngoài
đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam. Với một môi trường kinh doanh
ngày càng thông thoáng và minh bạch hơn do yêu cầu của đổi mới thì nông nghiệp
có nhiều tiềm năng để tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong dân và hấp dẫn các nhà
đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra khi đã là thành viên của WTO trong các vụ kiện như bán phá giá, trợ
cấp nông nghiệp thì Việt Nam sẽ có tiếng nói bình đẳng hơn. Tuy vậy Việt Nam vẫn
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
được coi là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm tới (đối với Mỹ) tức là nguy cơ
Việt Nam sẽ vấp phải những điều phi lý trong vụ kiện bán phá giá cá basa không
phải là không còn.
Song không phải dễ dàng đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Thị
trường xuất nhập khẩu nông sản thế giới ngày nay được tổ chức rất chặt chẽ, phần
lớn do các siêu thị đa quốc gia khống chế và kiểm soát. Do tri thức tiêu dùng ngày
càng cao nên yêu cầu của siêu thị về chất lượng nông sản- vốn dựa trên yêu cầu của
giới tiêu thụ của các nước lớn và giàu có- ngày càng khó khăn, trở thành rào cản đối
với rất nhiều nước đang phát triển vốn xem xuất khẩu nông sản làm đòn bẩy kinh tê.
Có rất nhiều thách thức đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng rõ
ràng và trực tiếp nhất đó là 4 luật chơi:
1, Luật quy định về an toàn thực phẩm: Suốt trong quá trình sản xuất, trái cây
và rau quả Việt Nam phải có Chứng chỉ “ nông nghiệp an toàn” hay “nông nghiệp
tốt” (Good Agricultural Practices. GAP ) để chứng minh mặt hàng này luôn an toàn
vệ sinh.
2, Luật quy địnhi về chất lượng: Mặt hàng nông sản Việt Nam phải cần rất
nhiều chứng chỉ, chẳng hạn như chứng chỉ xác nhận nguồn gốc giống (chứng chỉ
xác nhận giống không thuộc loại cây biến đổi gen, GMO), chứng chỉ báo cáo chất
lượng ( hàm lượng protein, chống oxy hóa, vitamine, đồng bộ về giống, độ chín,
kích cỡ và màu sắc)… để chứng minh mặt hàng có chất lượng cao và bổ dưỡng.
3, Luật quy định về số lượng: lượng hàng hóa lưu hành trong thị trường nông
sản thế giới ngày nay vừa lớn về số (trăm tấn, ngàn tấn, vạn tấn), vừa đồng bộ
(giống, kích cỡ, màu sắc, bao bì) và chính xác về thời gian giao hàng (đúng ngày qui
định hoặc thứ tư mỗi tuần, tuần đầu mỗi tháng…).
4, Luật quy định về giá cả: để yểm trợ cạnh tranh, giá cả trở nên một yếu tố
quyết định. Đây là một thứ luật “ luật bất thành văn” của bất cứ một cơ sở sản xuất
hay một quốc gia nào trên thế giới muốn tham dự cuộc chơi. Nông dân Việt Nam
phải hết sức quan tâm đến điểm này để mặt hàng luôn có giá rẻ- vốn là một lợi thế
của Việt Nam trong mấy năm qua.
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Theo đánh giá của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cái khó nhất nông
sản xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là chu trình “nông nghiệp an toàn” hay “nông
nghiệp tốt”, GAP. Đây là một chương trình kiểm tra an toàn thực phẩm xuyên suốt
từ A đến Z của dây chuyền sản xuất, bắt đầu từ khâu chuẩn bị nông trại, canh tác
đến khâu thu hoạch, sau thu hoạch, tồn trữ, kễ cả những yếu tố liên quan đến sản
xuất như môi trường, các chất hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, bao bì và ngay cả
điều kiện làm việc và phúc lợi của người làm việc trong nông trại.
Như vậy, chu trình nông nghiệp an toàn GAP là một bộ hồ sơ trình bày công
nghệ sản xuất của nông trại đồng thời cũng là bộ hồ sơ ghi chép chi tiết những hoạt
động của nông trại đó. Một số nước ASEAN như Malaysia, Thái Lan, Singapore và
Indonesia tuy có biên soạn chương trình GAP cho mình, nhưng việc xuất khẩu rau
quả và trái cây của họ vẫn không thuận lợi hơn vì những chu trình này không đáp
ứng được các đòi hỏi khắt khe của thị trường châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản- là
những thị trường vùng ôn đới có điều kiện khí hậu, khoa học kỹ thuật nông nghiệp
và văn hóa ẩm thực khác biệt.
Gần đây có chương trình tập huấn về GAP, dự án “GAP cho cây thanh long”
…do chính phủ Úc, Canada tài trợ chỉ mang tính chất nhỏ lẻ, chưa mang tính chất
quy mô toàn ngành và toàn quốc. Điều này đòi hỏi chúng ta cần khẩn trương xây
dựng cho mình một chương trình VietGap thì nông sản mới có thể xuất khẩu vào thị
trường thế giới (chủ yếu các nước thành viên WTO khác 95% GDP, 95% giá trị
thương mại thế giới) .
1.3.Các quy tắc của WTO về thương mại nông sản phẩm:
Để xây dựng được chương trình VietGap tốt, để nông sản của Việt Nam bước vào
sân chơi WTO một cách thành công thì trước hết cần phải tìm hiểu luật lệ của WTO
về thương mại nông sản.
Trong thương mại, thương mại nông sản là một vấn đề rất nhạy cảm, phức
tạp, nó liên quan đến nhiều vấn đề như chiến lược an toàn lương thực, nhân tố chính
trị, môi trường địa lý và khí hậu, cơ cấu sản xuất, việc làm, lợi ích xuất khẩu, nhập
khẩu của một nước. Dựa trên những nguyên nhân này các nước trên thế giới đều
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đang thực hiện nhiều chính sách và biện pháp, gây rối nghiêm trọng trật tự thương
mại nông phẩm. Trong vòng đàm phán Uruguay, các thành viên WTO đã đàm phán
và cuối cùng ký kết được “Hiệp định nông sản phẩm”. Hiệp định nhằm mục tiêu
giải quyết vấn đề tự do hóa thương mại nông sản phẩm.
“Hiệp định nông sản phẩm” chủ yếu gồm 3 nội dung chủ yếu sau đây:
1.3.1. Mở rộng thị trường cho phép nhập: là xác định rõ, cắt giảm hay loại bỏ
về các biện pháp thuế quan gây trở ngại đi vào thị trường mà các bên ký kết hiệp
định thực thi trong thương mại nông sản phẩm. Cụ thể gồm:
- Thuế quan hóa và các biện pháp phi thuế quan: các biện pháp phi thuế quan
thực thi trong thương mại nông sản phẩm như hạn chế số lượng nhập khẩu, các loại
thuế chênh lệch giá nhập khẩu, giá nhập khẩu thống nhất cho phép, hạn chế hạn
ngạch, các bên thành viên cần phải trước hết chuyển đổi thành những biện pháp
thuế quan có mức độ bảo hộ như nhau, sau đó giảm dần tỷ suất thuế nhập khẩu.
- Cắt giảm thuế quan nhập khẩu nông sản phẩm: Các thành viên các nước phát
triển từ 1995-2001 cắt giảm bình quân 30% thuế quan nhập khẩu và đảm bảo tỷ lệ
cắt giảm mỗi một mục thuế không thấp hơn 15%; thành viên nước đang phát triển
tử 1995-2001 cắt giảm thuế quan nhập khẩu 24% và đảm bảo mỗi năm tỷ lệ cắt
giảm mỗi hạng mục thuế không thấp hơn 10%. Mỗi năm cắt giảm với số lượng
bằng nhau.
- Hạn ngạch thuế quan sau khi thuế quan hóa biện pháp phi thuế quan: Có loại
thuế quan vẫn ở mức rất cao, nó cũng sẽ gây trở ngại cho sự phát triển thương mại
nông sản phẩm. Hiệp định nông sản phẩm quy định, với sản phẩm thuế quan hóa
thực hiện quata thuế quan để quản lý. Thành viên thực hiện quota hàng năm. Nhập
khẩu quá lượng cho phép nhập, thu thuế quan theo tỷ suất thuế của thuế quan hóa.
- Biện pháp tự vệ đặc thù: Sau khi thuế quan hóa biện pháp của nông sản
phẩm, nếu nhập khẩu phát triển rất mạnh và gây ảnh hưởng khá nghiêm trọng đối
với ngành sản xuất trong nước, thành viên WTO có thể sử dung điều khoản tự bảo
vệ của “GATT năm 1994” biện pháp tự vệ đặc thù được quy tính trong “Hiệp định
về biện pháp tự vệ” và “Hiệp định nông sản phẩm” để bảo hộ lợi ích bản thân mình.
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nhưng chỉ chon một trong những biện pháp được quy định trong hiệp định trên
không thể đồng thời sử dụng cả hai. Hơn nữa, các thành viên khi vận dụng biện
pháp tự vệ đặc thù, cần báo trước hoặc trong 10 ngày khi sử dụng hành động, thông
báo cho ủy ban nông nghiệp WTO.
1.3.2. Cắt bỏ trợ giá sản xuất nông sản phẩm:
“Hiệp định nông sản phẩm” phân chia sự trợ giá đối với nông sản phẩm làm 2
loại lớn là trợ giá đèn xanh và trợ giá đèn vàng và quy định tương đối tỉ mỉ phạm vi
mỗi loại.
 Trợ giá đèn xanh: Loại trừ sự trợ giúp giá cả đối với người sản xuất, không
có trợ giá hoặc chỉ trợ giá một ít đối với thương mại nông sản phẩm chủ
yếu gồm:
 Một là: quỹ cộng đồng hoặc chi ngân sách cung cấp dịch vụ sản xuất
nông nghiệp nói chung: Bao gồm nghiên cứu hạng mục môi trường và nghiêm cấm
sản phẩm đặc biệt, kiểm soát sâu bọ phá hoại, việc bồi dưỡng nhân viên, khoa học
kỹ thuật nông nghiệp và thao tác sản xuất, phổ biến kỹ thuật và dịch vụ tư vấn, dich
vụ giám định, dịch vụ thúc đẩy bán trên thị trường, xây dựng kết cấu hạ tầng nông
nghiệp.
 Hai là: Chi phí cất giữ đảm bảo sự cung cấp thực phẩm.
 Ba là: Trợ giá viện trợ thực phẩm và trợ giá hộ gia đình riêng.
 Bốn là: Trợ giá đảm bảo sự thu nhập nói chung. Loại trợ cấp này cần
phải phù hợp với một số tiêu chuẩn nhất định.
 Năm là: Trợ giá thiệt hại thiên tai: số lượng trợ giá này không được cao
hơn sự thiệt hại thực tế.
 Sáu là: Trợ giá điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
 Bảy là: Cung cấp trợ giá phát triển khu vực cho những khu vực có điều
kiện sản xuất nông nghiệp rõ ràng không thuận lợi.
 Trợ giá đèn vàng: Đây là sự bù giá cần phải có nghĩa vụ cắt giảm, chủ yếu
bao gồm sự trợ giá thành sự giúp đỡ giá cả trong nước đối với sản phẩm
nông sản phẩm. “Hiệp định nông sản phẩm” quy định sự trợ giá đèn vàng
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
của các nước phát triển cần trong thời kỳ thực thi hiệp định (6 năm) dựa
theo mức cơ số (mức bình quân trợ giá 86-88) cắt giảm 20% sau khi thực
hiện hiệp định; tổng số trợ giá của bên tham gia sẽ từ 19,7 tỷ USD xuống
16,2 tỷ USD, biên độ cắt giảm 18%. Hiệp định quy định những trợ giá sau
đây không thuộc trợ giá đèn vàng:
 Một là: Mỗi năm cấp cho một sản phẩm cụ thể một số trợ giá không cao
hơn 5% (nước phát triển) 10% (nước đang phát triển) giá trị sản lượng hàng năm
của sản phẩm ấy.
 Hai là: Sự trợ giá trong nước không dựa theo sự phân chia sản phẩm cụ
thể, nếu tổng số lượng trợ giá của họ không cao hơn 5% (nước phát triển) 10%
(nước đang phát triển) tổng giá trị sản phẩm nông sản phẩm năm ấy.
 Cắt giảm trợ giá xuất khẩu nông sản phẩm:
Trợ giá xuất khẩu nông sản phẩm gồm có:
 Một là: Chi phí hay cơ quan quản lý căn cứ vào thành tích thực tế xuất
khẩu cung cấp các loại trợ giá trực tiếp cho xí nghiệp, ngành nghề nhất định hay
người sản xuất kinh doanh nông sản phẩm.
 Hai là: Chi phí hay cơ quan quản lý dự trữ nông sản phẩm bán với giá
rẻ hàng dự trữ thấp hơn giá trị thị trường dùng cho xuất khẩu.
 Ba là: Hành động của chính phủ như cung cấp tiền cho vay ưu đãi hay
sự đảm bảo miễn giảm thuế nông sản phẩm xuất khẩu có liên quan với hiệu quả
xuất khẩu.
 Bốn là: Cung cấp sự trợ giá để giảm giá thành kinh doanh xuất khẩu
bao gồm xử lý phân cấp nông sản phẩm hay các trợ giá cho giá thành chế biên khác,
trợ giá cho giá thành vận tải và vận tải trong nước.
Hiệp định đối với số lượng và kim ngạch trợ giá nông sản phẩm xuất khẩu
dựa trên thời kỳ cơ sở 86-90 cắt giảm theo tỷ lệ. Có 22 loại lớn tiến hành cắt giảm
trợ giá. Thành viên nước phát triển trong 6 năm cắt giảm 36% kim ngạch trợ giá
xuất khẩu, thành viên nước đang phát triển trong 10 năm cắt giảm 24%. Số lượng
trợ giá xuất khẩu: thành viên nước phát triển trong 6 năm cắt giảm 21%, thành viên
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nước đang phát triển cắt giảm 14%. Nếu nông sản phẩm trong những năm 85-90
chưa được hưởng đối xử trợ giá xuất khẩu sau này không được bất kỳ biện pháp trợ
giá xuất khẩu nào nữa.
1.4. Các cam kết của Việt Nam (khi là thành viên của WTO) trong
khuôn khổ WTO:
Các cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam nhìn chung là cắt giảm
thuế:
Việt Nam giảm mức thuế bình quân từ mức hiện hành 17,4% xuống còn
13,4%, thực hiện dần trong vòng 5-7 năm. Mức thuế bình quân hàng nông sản giảm
từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9%, thực hiện trong khoảng 5 năm. Mức
thuế bình quân hàng công nghiệp giảm từ 16,8% xuống 12,6%, thực hiện trong
vòng từ 5 đến 7 năm (mức giảm thuế chi tiết từng mặt hàng xem biểu thuế).
Trong đó đáng chú ý có một số mặt hàng liên quan đến nông sản xuất khẩu
như: phân bón giảm từ 6,5% xuống 6,4%; xe tải giảm từ 80% xuống 50% việc
giảm thuế các dòng hàng này góp phần làm cho chi phí sản xuất vận chuyển cũng
giảm đi phần nào.
Các cam kết về trợ cấp thì Việt Nam cam kết từ bỏ ngay trợ cấp xuất khẩu.
Đối với hỗ trợ trong nước đối với nông nghiệp Việt Nam vẫn được hưởng mức hỗ
trợ là 10%. Cụ thể các mức trợ cấp cam kết ràng buộc hàng năm và mức trợ cấp
cam kết cuối cùng là 3961,59 tỷ VND.
1.5. Những cam kết trên sẽ gây ra nhiều tác động đối với nông sản xuất
khẩu của Việt Nam:
Rõ ràng khi hàng loạt các dòng thuế nhập khẩu (bao gồm cả hàng nông sản)
giảm xuống, nông sản ngoại có sức cạnh tranh hơn thì có một số mặt hàng nông sản
Việt Nam lao đao ngay tại thị trường trong nước. Tuy nhiên, đối với các mặt hàng
nông sản xuất khẩu thì đây là cơ hội có một không hai. Một số mặt hàng như phân
bón, ô tô tải … giảm thuế sẽ làm cho giá cả nông sản giảm đi . Mặt khác nước ta
giảm thuế thì các mặt hàng nông sản nước ta cũng được tiếp cận với mức thuế thấp
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hơn trước ở thị trường các thành viên khác của WTO (theo quy định của hiệp định
nông sản phẩm).
Còn về cam kết cắt bỏ trợ cấp xuất khẩu sẽ không gây tác động quá lớn. Các
doanh nghiệp xuất khẩu nông sản cũng không quá lo lắng về cam kết này. Bởi vì
một số trợ cấp bị coi là trợ cấp xuất khẩu nông sản theo quy định của hiệp định
nông sản phẩm của WTO ở Việt Nam thì hầu như không có hoặc rất nhỏ bé.
Giai đoạn 1998-2004: tổng số tiền thưởng đạt 29,4 tỷ đồng gần bằng 2 triệu
USD có 349 doanh nghiệp được thưởng (trong đó doanh nghiệp xuất khẩu nông sản
thì rất ít) nhỏ hơn rất nhiều mức 30 triệu USD hàng năm.
Giai đoạn 1999-2001 Việt Nam trợ cấp dưới hình thức thưởng đối với 7 mặt
hàng là: gạo, cà phê, chè, rau quả, thịt lợn, hạt tiêu…Hỗ trợ lãi suất mua tạm trữ
xuất khẩu đối với cà phê bù lỗ xuất khẩu một số mặt hàng khác nhưng giai đoạn
2003-2005 những hỗ trợ bị loại bỏ dần.
Hay theo ông Nguyễn Văn Lãng, Tổng thư kí Hiệp hội Cây điều Việt Nam
cho biết: “Mặt hàng điều xuất khẩu mỗi năm mang về hàng trăm triệu USD nhưng
có được Nhà nước hỗ trợ gì đâu, chỉ có đầu năm 2006 là được nhà nước phê duyệt
chương trình xúc tiến thương mai trị giá 600 triệu đồng”
Như vậy mặc dù cam kết bỏ ngay trợ cấp xuất khẩu nhưng trợ cấp trong nước-
loại trợ cấp gián tiếp cho xuất khẩu- thì chúng ta lại chưa đạt tới mức cam kết tới
gần 4000 tỷ. Đây là dịp để chúng ta nhìn lại và làm cho cơ bản hơn. Chúng ta cần
tận dụng những trợ cấp được phép áp dụng. Sự hỗ trợ cho nông sản của Việt Nam
nên tập trung vào các hình thức:
Thứ nhất, dịch vụ chung, phù hợp với quy định của WTO chính phủ VN
cung cấp dịch vụ và phúc lợi cho nông nghiệp dưới hình thức:
- Nghiên cứu khoa học: chính phủ Việt Nam cung cấp kinh phí cho các Viện
nghiên cứu thực hiện các đề tài khoa học có liên quan đến nông nghiệp như: giống
cây trồng và gia súc, kỹ thuật canh tác, nghiên cứu kinh tế vv
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Đào tạo: Nhà nước cấp kinh phí cho các trường đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp, trung học dạy nghề để đào tạo cán bộ kỹ thuật, kinh tế, công
nhân lành nghề phục vụ sản xuất nông nghiệp;
- Công tác khuyến nông: Một hệ thống khuyến nông từ Trung Ương đến làng
bản được thành lập. Nhà nước cấp kinh phí để hệ thống khuyến nông hưởng lương
từ ngân sách nhà nước. Cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác khuyên nông được nhà
nước hỗ trợ.
Thứ hai, dự trữ công vì mục đích an ninh lương thực; chính phủ Việt Nam
thực hiện một số chương trình dự trữ quốc gia như:lúa gạo, giống lúa, ngô, rau,
thuốc bảo vệ thực vật vv
Thứ ba, hỗ trợ lương thực,thực phẩm trong nước; chính phủ áp dụng một số
chương trình hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp cho các vùng khó khăn về sản xuất
nông nghiệp ( vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai vv )
Thứ tư, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu, chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho các
địa phương chuyển dịch cơ câú kinh tế thông qua các hình thức ưu đãi thuế, đầu tư,
tín dụng của chính phủ.
Thứ năm,Việt Nam áp dụng biện pháp phi thuế quan thuộc dạng này bằng các
“Chương trình phát triển”. Dạng hỗ trợ này của chính phủ bao gồm :
- Trợ cấp đầu tư của chính phủ, hiện nay trong hoạt động sản xuất nông
nghiệp của Việt Nam đang có phong trào chuyển dịch mô hình sản xuất từ hộ nông
nghiệp sang kinh tế trang trại. Chính phủ Việt Nam đã thực hiện trợ cấp đầu tư phát
triển dưới hình thức hỗ trợ tài chính, cho vay với lãi xuất ưu đãi để phát triển kinh tế
trang trại. Bên cạnh đó với những khoản nợ xấu chính phủ có thẻ thực hiện khoanh
nợ hoặc xóa nợ.
- Trợ cấp đầu vào cho ngưòi sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp. Chính
phủ Việt Nam thành lập hệ thống ngân hàng người nghèo nhằm cung cấp vốn ưu
đãi cho người nghèo đẻ họ có khả năng phát triển sản xuất. Khi ngưòi nghèo gặp
khó khăn trong việc thanh toán vốn vay thì chính phủ cấp bù chênh lệch lãi suất,
khoanh nợ, xóa nợ. Hiện nay người nghèo vay từ Ngân hàng phục vụ người nghèo
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
lãi suất là 5,4% năm cho khu vực vùng núi cao, hải đảo và 6,0% năm cho các vùng
còn lại thấp rất nhiều so với lãi suất vay vốn tại các ngân hàng thương mại.
- Trợ cấp dành cho sản xuất nhằm khuyến khích các hộ nông dân từ bỏ cây
thuốc phiện chuyển sang sản phẩm nông nghiệp khác với các hình thức hỗ trợ giống
cây trồng và gia súc.
1.6. Kinh nghiệm các nước:
Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp vậy mà các nông sản của ta trên
thị trường quốc tế không có tiếng nói tên tuổi gì. Ngoài việc nhìn lại mình thì việc
tìm ra kinh nghiệm của các nước xuất khẩu nông sản mạnh là việc rất nên. Mà
không phải đi đâu xa chúng ta có thể học tập được một vài kinh nghiệm của Trung
Quốc, Ấn Độ xa hơn một chút là Braxin.
Còn nhớ 5-6 năm về trước, khi mà gia nhập WTO nền nông nghiệp Trung
Quốc được dự báo là sẽ bị đè bẹp nhanh chóng. Vậy mà gần đây, nông sản, trái cây
Trung Quốc không chỉ “làm mưa làm gió” ở thị trường châu Á cũng đang gây “náo
loạn” ở châu Âu. Tại sao, nông sản Trung Quốc có chất lượng tốt vượt qua các rào
cản kỹ thuật khắt khe ở châu Âu giá lại rẻ hơn nông sản châu Âu (các loại sản phẩm
được trợ cấp rất lớn).
Người ta đánh giá sở dĩ nông sản Trung Quốc có sức cạnh tranh ghê gớm như
vậy là do:
Điều chỉnh mang tính chiến lược kết cấu nông nghiệp: thực chất là ưu hóa sự
bố trí sản xuất nông nghiệp. Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh mang tính chiến
lược kết cấu nông nghiệp, tạo cho nông nghiệp có được những kết quả kinh tế như
mong muốn.
Tổ chức nông dân đi vào con đường sản nghiệp hóa nông thôn: nông dân
thành lập hợp tác xã của riêng mình, tổ chức nông hộ thực hiện việc kinh doanh sản
xuất, gia công và tiêu thụ được nhất thể hóa. Hoặc hợp tác xã, nông dân liên hợp với
công ty, với mô thức “ Công ty +hợp tác xã + nông hộ” để làm việc kinh doanh sản
nghiệp hóa nông nghiệp.
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
14

Xem chi tiết: v2959


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét