Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014
VIỆT NAM SỬ LƯỢC
5
Nước Việt Nam
Nước Việt Nam
1. Quốc Hiệu
2. Vị Trí và Diện Tích
3. Địa Thế
4. Chủng Loại
5. Gốc Tích
6. Người Việt Nam
7. Sự Mở Mang Bờ Cõi
8. Lịch Sử Việt Nam
1. Quốc Hiệu.
Nước Việt Nam ta về đời Hồng Bàng (2897 - 258 trước
Tây lịch) gọi là Văn Lang, đời Thục An Dương Vương (257 - 207 trước Tây
lịch) thì gọi là Âu Lạc. Đến nhà Tần (246 - 206 trước Tây lịch) lược định phía
nam thì đặt làm Tượng Quận, sau nhà Hán (202 trước Tây lịch - 220 sau Tây
lịch) dứt nhà Triệu, chia đất Tượng Quận ra làm ba quận là Giao Chỉ, Cửu
Chân và Nhật Nam. Đến cuối đời nhà Đông Hán, vua Hiến Đế đổi Giao Chỉ
làm Giao Châu. Nhà Đường lại đặt là An Nam Đô Hộ Phủ.
Từ khi nhà Đinh (968 - 980) dẹp xong loạn Thập Nhị Sứ Quân, lập nên một
nước tự chủ, đổi quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Vua Lý Thánh Tông đổi là Đại
Việt, đến đời vua Anh Tông, nhà Tống bên Tàu mới công nhận là An Nam
Quốc.
Đến đời vua Gia Long, thống nhất được cả Nam Bắc (1802), lấy lẽ
rằng Nam là An Nam, Việt là Việt Thường, mới đặt quốc hiệu là Việt Nam.
Vua Minh Mệnh lại cải làm Đại Nam.
Quốc hiệu nước ta thay đổi đã nhiều lần, tuy rằng ngày nay ta vẫn
theo thói quen dùng hai chữ An Nam, nhưng vì hai chữ ấy có ngụ ý phải
thần phục nước Tàu, vậy thì ta nên nhất định lấy tên Việt Nam mà gọi nước
nhà.
2. Vị Trí và Diện Tích.
Nước Việt Nam ở về phía đông nam châu Á-
tế-á, hẹp bề ngang, dài bề dọc, hình cong như chữ S, trên phía bắc và dưới
phía nam phình rộng ra, khúc giữa miền trung thì eo hẹp lại.
6
Đông và nam giáp bể Trung Quốc (tức là bể Nam Hải); Tây giáp Ai
Lao và Cao Miên; Bắc giáp nước Tàu, liền với tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây
và Vân Nam.
Diện tích cả nước rộng chừng độ 312.000 ki-lô-mét vuông chia ra
như sau này:
Bắc Việt: 105.000 km2
Trung Việt: 150.000 km2
Nam Việt: 57.000 km2
3. Địa Thế.
Nước ta hiện chia ra làm ba cõi: Bắc Việt, Trung
Việt và Nam Việt. Đất Bắc Việt có sông Hồng Hà (tức là sông Nhị Hà) và
sông Thái Bình. Mạn trên gọi là Thượng Du lắm rừng nhiều núi, ít người ở.
Mạn dưới gọi là Trung Châu, đất đồng bằng, người ở chen chúc đông lắm.
Đất Trung Việt thì chỉ có một giải ở men bờ bể, còn ở trong có núi
Trường Sơn chạy dọc từ Bắc Việt vào gần đến Nam Việt, cho nên người chỉ ở
được mạn gần bể mà thôi.
Đất Nam Việt thì ở vào khúc dưới sông Mê Kông (tức là sông Cửu
Long), lại có sông Đồng Nai chảy ở mé trên, cho nên đất tốt, ruộng nhiều,
dân gian trù phú và dễ làm ăn hơn cả
4. Chủng Loại.
Người Việt Nam có nhiều dân tộc ở, như là ở về miền
thương du Bắc Việt thì có dân Thái, (tức là Thổ), Mường, Mán, Mèo; ở về
miền rừng núi Trung Việt thì có dân Mọi, và Chàm (tức là Hời), ở về miền
Nam Việt thì có dân Mọi, Chàm, Chà Và và Khách, v.v Những dân ấy ở
trong ba nơi tất cả đến non một triệu người. Còn thì dân tộc Việt Nam ở hết
cả.
Số người Việt Nam ở trong ba nơi có thể chia ra như sau này:
Bắc Việt: 8.700.000 người
Trung Việt: 5.650.000 người
Nam Việt: 4.616.000 người
Cả thảy cộng lại được độ chừng non 19 triệu người
1
.
1
Số này là theo sách Địa Lý của ông H. Russier (1939) chép lại chứ không chắc đã đúng số
nhất định của người mình.
5. Gốc tích.
Theo ý kiến của nhà kê cứu của nước Pháp, thì người Việt
Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt Nam theo
sông Hồng Hà lần xuống phía đông nam, lập ra nước Việt Nam ta bây giờ;
còn người Thái thì theo sông Mê Kông xuống, lập ra nước Tiêm La (tức là
Thái Lan) và các nước Lào.
Lại có rất nhiều người Tàu và người Việt Nam nói rằng nguyên khi xưa đất
nước Tàu có giống Tam Miêu ở, sau giống Hán Tộc (tức là người Tàu bây
giờ) ở phía Tây Bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ lấy vùng
sông Hoàng Hà lập ra nước Tàu, rồi dần dần xuống phía nam, người Tam
Miêu phải lẩn núp trong rừng hay là xuống ở miền Việt Nam ta bây giờ.
Những ý kiến ấy là theo lý mà suy ra đó thôi, chứ cũng chưa có cái gì làm
chứng cho đích xác. Chỉ biết rằng người Việt Nam ta trước có hai ngón chân
cái giao lại với nhau, cho nên Tàu mới gọi ta là Giao Chỉ; mà xem các loài
khác, không có loài nào như vậy, thì tất ta là một loài riêng, chứ không phải
là loài Tam Miêu.
Dẫu người mình thuộc về chủng loại nào mặc lòng, về sau người Tàu sang
cai trị hàng hơn một nghìn năm, lại có khi đem sang nước ta hơn bốn mươi
vạn binh, chắc là nói giống cũ của mình cũng đã lai đi nhiều rồi, mới thành
ra người Việt Nam ngày nay.
6. Người Việt Nam.
Người Việt Nam thuộc về loài da vàng, nhưng
mà người nào phải đi làm lụng dầm mưa dãi nắng lắm, thì nước da ngăm
ngăm đen, người nào nhàn hạ phong lưu, ở trong nhà luôn, thì nước da
trăng trắng như màu ngà cũ.
Trạc người thì thấp nhỏ hơn người Tàu, mà lăn lẳn con người, chứ
không to béo. Mặt thì xương xương, trông hơi bèn bẹt, trán thì cao và rộng,
mắt thì đen và hơi xếch về đàng đuôi, hai gò má thì cao, mũi hơi tẹt, môi hơi
dày, răng thì to mà lại nhuộm đen. Râu thì thưa mà ít, tóc thì nhiều và dài,
đen và hơi cứng. Dáng điệu đi đứng thì nhẹ nhàng và xem ra bộ vững vàng
chắc chắn.
Áo quần thì dài rộng, đàn ông thì búi tóc và quấn khăn vành rây, áo
mặc dài quá đầu gối, tay áo thì chật, ống quần thì rộng. Đàn bà ở Bắc Việt
và phía bắc Trung Việt thì đội khăn, mà ở chỗ thành thị thì mặc quần, còn ở
nhà quê thì hay mặc váy. Ở phía nam Trung Việt và Nam Việt thì đàn bà
hay mặc quần cả, và búi tóc, chứ không đội khăn bao giờ.
7
Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả các tính tốt và
các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay,
nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự
lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm 5 đạo thường
cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có tính tình vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và
hay bài bác nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa
bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỹ luật.
Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe
khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ
bạc. Hay tin ma quỷ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tông
giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương
người và hay nhớ ơn.
Đàn bà thì hay làm lụng và đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm
được đủ mọi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều
chồng, nuôi con, thường giữ được các đức tính rất quý là: tiết, nghĩa, cần,
kiệm.
Người Việt Nam từ Bắc chí Nam, đều theo một phong tục, nói một
thứ tiếng
2
, cùng giữ một kỹ niệm, thật là cái tính đồng nhất của một dân tộc
từ đầu nước đến cuối nước.
7. Sự Mở Mang Bờ Cõi.
Người nòi giống Việt Nam ta mỗi ngày một
nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc thì đã có nước Tàu cường thịnh, phía tây thì
lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện, cho nên mới theo bờ bể lần
xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở
ra bờ cõi bây giờ.
8. Lịch Sử Việt Nam.
Từ khi người Việt Nam lập thành nước đến giờ,
kể hàng mấy nghìn năm, phải người Tàu cai trị mấy lần, chịu khổ sở biết bao
nhiêu phen, thế mà sau lại lập được cái nền tự chủ, và vẫn giữ được cái tính
đặc biệt của giống mình, ấy là đủ tỏ ra rằng khí lực của người mình không
đến nỗi kém hèn cho lắm. Tuy rằng mình chưa làm được việc gì cho vẽ
vang bằng người, nhưng mình còn có thể hy vọng một ngày kia cũng nên
được một nước cường thịnh.
2
Tuy rằng mỗi nơi có một ít tiếng thổ âm riêng và cái giọng nói nặng nhẹ khác nhau, nhưng đại
để thì vẫn là một thứ tiếng mà thôi.
Vậy ghi chép những cơ hội gian truân, những sự biến cố của nước mình đã
trải qua, và kể những công việc của người mình làm từ đời nọ qua đời kia,
để cho mọi người trong nước đều biết, ấy là sách Việt Nam sử.
Nay ta nên theo từng thời đại mà chia sách Việt Nam sử ra 5 phần để cho
tiện sự kê cứu.
Phần I: Thượng Cổ thời đại.
Phần II: Bắc Thuộc thời đại.
Phần III: Tự Chủ thời đại.
Phần IV: Nam Bắc Phân Tranh thời đại.
Phần V: Cận Kim thời đại.
8
Phần I
Thượng Cổ Thời Đại
CHƯƠNG I
Họ Hồng-Bàng
(2879-258 trước Tây Lịch)
1. Họ Hồng Bàng
2. Nước Văn Lang
3. Truyện cổ tích về đời Hồng Bàng:
- Phù Đổng Thiên Vương
- Sơn Tinh Thủy Tinh
1. Họ Hồng Bàng.
Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là
cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh
(thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con
tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm
vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh
Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ
Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục
(Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm nhâm tuất (2879
trước Tây Lịch ?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng
Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một
trăm người con trai
3
. Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là dòng dõi Long
Quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được; nay
được trăm con thì nhà người đem 50 đứa lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống
bể Nam Hải".
Gốc tích truyện này có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỷ chia ra
những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ Nam,
tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây) còn xưng là đất Bách Việt. Đấy cũng
là một điều nói phỏng, chứ không có lấy gì làm đích xác được.
3
Có sách chép là Âu Cơ đẻ ra một trăm cái trứng nở ra một trăm con.
9
2. Nước Văn Lang.
Lạc Long Quân phong cho người con
trưởng sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.
Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:
1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Yên)
9. Dương Tuyền (Hải Dương)
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
12. Hoài Hoan (Nghệ An)
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15. Bình Văn ( ? )
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện
Bạch Hạc, tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc
Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, các quan
nhỏ gọi là Bồ Chính
4
. Quyền chính trị thì cứ cha truyền con nối, gọi là Phụ
Đạo.
Về đời bấy giờ, sử Tàu có chép rằng năm tân mão (1109 trước Tây
lịch), đời vua Thành Vương nhà Chu, có nước Việt Thường, ở phía nam xứ
Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người làm
thông ngôn mới hiểu được tiếng, và ông Chu Công Đán lại chế ra xe chỉ nam
để đem sứ Việt Thường về nước. Vậy đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có
phải là đất của Hùng Vương lúc bấy giờ không?
Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quý mão (158 trước
Tây lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước.
Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20
ông vua, mà tính từ năm nhâm tuất (2879) đến năm quý mão (258 trước
Tây lịch) thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì
4
Bây giờ còn có nơi gọi Chánh Tổng là Bồ Đình, chắc là bởi Bồ Chính mà ra.
được non 150 năm! Dẫu là người đời thượng cổ nữa, thì cũng khó lòng mà
có nhiều người sống lâu được như vậy. - Xem thế thì đủ biết truyện đời
Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực.
3. Truyện Cổ Tích Về Đời Hồng Bàng.
Sử chép rằng
đời Hùng Vương thứ nhất, người nước Văn Lang làm nghề chài lưới, cứ hay
bị giống thuồng luồng làm hại, vua mới bắt dân lấy chàm vẽ mình để những
giống ấy tưởng là đồng loại không làm hại nữa
5
. Sử lại chép rằng thuyền
của ta ở đằng mũi thường hay làm hai con mắt, cũng có ý để cho các thứ
thủy quái ở sông ở bể không quấy nhiễu đến.
Trong đời Hùng Vương lại có hai truyện mà ngày nay người ta
thường hay nói đến, là truyện Phù Đổng Thiên Vương và truyện Sơn Tinh
Thủy Tinh.
Truyện Phù Đổng Thiên Vương: Đời vua Hùng Vương thứ 6 có đám
giặc gọi là giặc Ân, hung mạnh lắm, không ai đánh nổi. Vua mới sai sứ đi
rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước. Bấy giờ ở làng
Phù Đỗng, bộ Võ Ninh (nay là huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh), có đứa trẻ xin
đi đánh giặc giúp vua. Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đòi vào chầu.
Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái roi bằng sắt. Khi ngựa và roi
đúc xong thì đứa trẻ ấy vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một
trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.
Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn thì biến đi mất. Vua nhớ
ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng Thiên
Vương
6
. Truyện này là truyện tục truyền như vậy, chứ không có lẽ tin làm
sự thực được. Họa chăng đời bấy giờ có người tướng giỏi, đánh được giặc,
về sau người ta nhớ ơn làm đền thờ thì hợp lẽ hơn. Hiện bây giờ có đền thờ
ở làng Gióng tức làng Phù Đổng. Năm nào đến mồng tám tháng tư cũng có
hội vui lắm, tục gọi là đức Thánh Gióng.
Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh: Tục truyền rằng vua Hùng Vương thứ
18 có người con gái tên là Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần. Sơn Tinh và
5
Sử chép rằng người Việt Nam ta có thói vẽ mình mãi đến đời vua Anh Tông nhà Trần mới bỏ.
6
Có người chép truyện này nói rằng: Giặc Ân là quân của nhà Ân bên Tàu sang đánh nước ta.
Nói như thế thật là một điều lầm. Về đời nhà Ân nước Tàu chỉ ở vào mạn sông Hoàng Hà là đất
tỉnh Hà Nam, Trực Lệ, Sơn Tây và Thiểm Tây bây giờ mà thôi. Còn những đất ở bên này sông
Trường Giang là man di hết cả. Từ Trường Giang sang đến Bắc Việt ta xa cách bao nhiêu
đường đất. Dẫu lúc ấy ở bên ta có họ Hồng Bàng làm vua nữa, thì chắc cũng chưa có kỷ cương
gì, có lẽ cũng giống như một người làm Quan Lang trên Mường mà thôi, như thế thì đã có giao
thiệp gì với nhà Ân mà đánh nhau. Vả lại, sử Tàu cũng không có chỗ nào chép đến truyện ấy.
Vậy thì lẽ gì mà nói rằng giặc Ân là người nhà Ân bên Tàu.
10
Thủy Tinh đều muốn hỏi làm vợ. Hùng Vương hẹn rằng ngày hôm sau ai
đem đồ lễ đến trước thì gả cho người ấy. Ngày hôm sau Sơn Tinh đến trước
lấy được Mỵ Nương đem về núi Tản Viên (tức là núi Ba Vì ở tỉnh Sơn Tây).
Thủy Tinh đến sau, thấy Sơn Tinh lấy mất Mỵ Nương, tức giận vô
cùng, mới làm ra mưa to gió lớn, rồi dâng nước lên đánh Sơn Tinh, Sơn Tinh
ở trên núi không việc gì: hễ nước lên cao bao nhiêu, thì Sơn Tinh làm núi
cao lên bấy nhiêu. Sơn Tinh lại dùng sấm sét đánh xuống, Thủy Tinh phải
rút nước chạy về. Từ đó Sơn Tinh và Thủy Tinh thù nhau, mỗi năm đánh
nhau một lần, dân gian thật là cực khổ.
Truyện này là nhân vì ở Bắc Việt năm nào đến tháng 6, tháng 7
cũng có nước lũ ở trên mạn ngược chảy xuống tràn vào trong đồng áng,
ngập mất cả ruộng đất. Người ta không hiểu là tại lẽ gì, mới tưởng tượng
mà đặt ra câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh đánh nhau vậy.
Tóm lại mà xét, nước ta khởi đầu có quốc sử từ cuối thập tam thế
kỷ: đến đời vua Thánh Tông nhà Trần, mới có quan Hàn Lâm Học Sĩ là Lê
Văn Hưu, soạn xong bộ Đại Việt Sử Ký, chép từ Triệu Võ Vương đến Lý
Chiêu Hoàng. Hai trăm rưỡi năm về sau lại có ông Ngô Sĩ Liên, làm quan Lễ
Bộ Tả Thị Lang đời vua Thánh Tông nhà Lê, soạn lại bộ Đại Việt Sử Ký: chép
từ họ Hồng Bàng đến vua Lê Thái Tổ. Nghĩa là từ ông Ngô Sĩ Liên, ở về
thập ngũ thế kỷ trở đi, thì sử ta mới chép truyện về đời thượng cổ. Xem thế
thì đủ biết những truyện về đời ấy khó lòng mà đích xác được. Chẳng qua
nhà làm sử cũng nhặt nhạnh những truyện hoang đường tục truyền lại, cho
nên những truyện ấy toàn là truyện có thần tiên quỷ quái, trái với lẽ tự nhiên
cả.
Nhưng ta phải hiểu rằng nước nào cũng vậy, lúc ban đầu mờ mịt, ai
cũng muốn tìm cái gốc tích của mình ở chỗ thần tiên để cho vẻ vang cái
chủng loại của mình. Chắc cũng bởi lẽ ấy mà sử ta chép rằng họ Hồng Bàng
là con tiên cháu rồng, v.v
Nay ta theo sử cũ mà chép mọi truyện, người xem sử nên phân biệt
truyện nào là truyện thực, truyện nào là truyện đặt ra, thì sự học mới có lợi
vậy.
CHƯƠNG II
Nhà Thục
(257 - 207 trước Tây lịch)
1. Gốc Tích Nhà Thục
2. Nước Âu Lạc
3. Nhà Tần Đánh Bách Việt
4. Nhà Thục Mất Nước
1. Gốc Tích Nhà Thục.
Nhà Thục chép trong sử nước ta
không phải là nước Thục bên Tàu, vì rằng cứ theo sử nước Tàu thì đời bấy
giờ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) đã thuộc về nhà Tần cai trị rồi, thì còn có vua
nào nữa. Vả, sử lại chép rằng khi Thục Vương Phán lấy lấy được nước Văn
Lang thì đổi quốc hiệu là Âu Lạc, tức là nước Âu Lạc gồm cả nước Thục và
nước Văn Lang. Song xét trong lịch sử không thấy đâu nói đất Ba Thục
thuộc về Âu Lạc. Huống chi lấy địa lý mà xét thì từ đất Ba Thục (Tứ Xuyên)
sang đến Văn Lang (Bắc Việt), cách bao nhiêu đường đất và có bao nhiêu
núi sông ngăn trở, làm thế nào mà quân nhà Thục sang lấy nước Văn Lang
dễ dàng như vậy ? Sử cũ lại có chỗ chép rằng An Dương Vương, họ là Thục
tên là Phán. Như vậy chắc hẳn Thục tức là một họ nào độc lập ở gần nước
Văn Lang, chứ không phải là Thục bên Tàu. Sách "Khâm Định Việt Sử" cũng
bàn như thế.
2. Nước Âu Lạc.
Sử chép rằng Thục Vương hỏi con gái của
Hùng Vương thư 18, là Mỵ Nương không được, trong bụng lấy làm tức giận,
dặn con cháu ngày sau đánh báo thù lấy nước Văn Lang. Hùng Vương bấy
giờ cậy mình có binh cường tướng dũng, bỏ trễ việc nước, chỉ lấy rượu chè
làm vui thú. Người cháu Thục Vương tên là Phán, biết tình thế ấy, mới đem
quân sang đánh lấy nước Văn Lang. Hùng Vương thua chạy, nhảy xuống
giếng mà tự tử.
Năm giáp thìn (275 trước Tây lịch), Thục Vương dẹp yên mọi nơi rồi,
xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê
(nay thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An). Hai năm sau là năm bính ngọ
(255 trước Tây Lịch), An Dương Vương xây Loa Thành. Thành ấy cao và từ
ngoài vào thì xoáy trôn ốc, cho nên mới gọi là Loa Thành. Hiện nay còn dấu
tích ở làng Cổ Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An.
11
3. Nhà Tần Đánh Bách Việt.
Khi An Dương Vương làm
vua nước Âu Lạc ở bên này, thì ở bên Tàu vua Thủy Hoàng nhà Tần, đã nhất
thống thiên hạ. Đến năm đinh hợi (214 trước Tây lịch). Thủy Hoàng sai
tướng là Đồ Thư đem quân đi đánh lấy đất Bách Việt (vào quãng tỉnh Hồ
Nam, Quảng Đông và Quảng Tây bây giờ). An Dương Vương cũng xin thần
phục nhà Tần. Nhà Tần mới chia đất Bách Việt và đất Âu Lạc ra làm ba
quận, gọi là: Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận
(Bách Việt).
Người bản xứ ở đất Bách Việt không chịu để người Tàu cai trị, trốn
vào rừng ở. Được ít lâu quân của Đồ Thư, vốn là người ở phương bắc,
không chịu được thủy thổ, phải bệnh rất nhiều. Bấy giờ người Bách Việt
thừa thế nổi lên giết được Đồ Thư.
4. Nhà Thục Mất Nước.
Chẳng được bao lâu thì nhà Tần
suy, nước Tàu có nhiều giặc giã, ở quận Nam Hải có quan úy là Nhâm Ngao
thấy có cơ hội, muốn mưu đánh lấy Âu Lạc để lập một nước tự chủ ở
phương nam. Nhưng công việc chưa thành, thì Nhâm Ngao mất. Khi sắp
mất, Nhâm Ngao giao binh quyền lại cho Triệu Đà để thay mình làm quan úy
quận Nam Hải.
Năm quý tị (208 trước Tây lịch) là năm thứ 50 đời vua An Dương
Vương. Triệu Đà đem quân sang đánh lấy nước Âu Lạc, lập ra nước Nam
Việt
7
.
Tục truyền rằng khi An Dương Vương xây Loa Thành, có những yêu
quái quấy nhiễu, xây mãi không được. An Dương Vương mới lập đàn lên cầu
khấn, có thần Kim Qui hiện lên bày phép cho vua trừ những yêu quái đi, bấy
giờ mới xây được thành. Thần Kim Qui lại cho An Dương Vương một cái
móng chân, để làm cái lẫy nỏ. Lúc nào có giặc thì đem cái nỏ ấy ra bắn một
phát, giặc chết hàng vạn người.
Cũng nhờ có cái nỏ ấy cho nên Triệu Đà đánh không được An Dương
Vương. Triệu Đà dùng kế, cho con là Trọng Thủy sang lấy Mỵ Châu là con
gái An Dương Vương, giả kết nghĩa hòa thân để do thám tình thực.
Trọng Thủy lấy được Mỵ Châu rồi, hỏi dò vợ rằng: "Bên Âu Lạc có tài
gì mà không ai đánh được?" Mỵ Châu nói chuyện cái nỏ, và lấy cho chồng
xem. Trọng Thủy bèn lấy cái móng của Kim Qui đi, làm cái lẫy giả thay vào,
7
Xin đừng lầm nước Nam Việt ngày xưa với Nam Việt của nước Việt Nam hiện nay.
rồi định về báo tin cho cha biết. Khi sắp ra về, Trọng Thủy hỏi Mỵ Châu
rằng: "Tôi về, mà nhỡ có giặc giã đánh đuổi, thì rồi tôi biết đâu mà tìm?" -
Mỵ Châu nói rằng: "Thiếp có áo lông ngỗng, hễ khi thiếp có chạy về đâu,
thiếp sẽ lấy lông ấy mà rắc ra ở dọc đường thì rồi sẽ biết."
Trọng Thủy về kể lại với Triệu Đà tình đầu mọi sự, Triệu Đà bèn khởi
binh sang đánh Âu Lạc. An Dương Vương cậy có cái nỏ, không phòng bị gì
cả, đến khi quân giặc đến gần chân thành mới đem nỏ ra bắn, thì không
thấy hiệu nghiệm nữa. An Dương Vương mới đem Mỵ Châu lên ngựa mà
chạy về phía nam. Chạy đến núi Mộ Dạ (thuộc huyện Đông Thành, tỉnh
Nghệ An) gần bờ bể, vua thấy giặc đuổi kíp quá, mới khấn Kim Qui lên cứu,
Kim Qui lên nói rằng: "Giặc ngồi sau lưng nhà vua đấy!" An Dương Vương
tức giận quá, rút gươm ra chém Mỵ Châu đi, rồi nhảy xuống bể mà tự tận
8
.
Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng của vợ rắc, đem binh đuổi đến núi
Mộ Dạ, thấy xác vợ chết nằm đó, thương xót vô cùng, vội vàng đem về cấp
táng, xong rồi, nhảy xuống cái giếng ở trong Loa Thành mà tự tử.
Nay ở làng Cổ Loa trước đền thờ An Dương Vương có cái giếng tục
truyền là Trọng Thủy chết ở giếng ấy. Tục lại truyền rằng Mỵ Châu bị giết
đi, vì nỗi tình thực mà phải thác oan, cho nên máu nàng ấy chảy xuống bể,
những con trai ăn phải hóa ra có ngọc trân châu. Hễ ai lấy được ngọc ấy
đem về rửa vào nước cái giếng ở trong Loa Thành là chỗ Trọng Thủy đã tự
tử, thì ngọc ấy trong và đẹp thêm ra.
8
Nay ở trên núi Mộ Dạ, gần xã Cao Ái, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An, có đền thờ An Dương
Vương. Ở đấy có nhiều cây cối và có nhiều chim công, cho nên tục gọi là đền Công hay Cuông.
12
CHƯƠNG III
Xã-Hội Nước Tàu
Về Đời Tam Đại
Và Đời Nhà Tần
1. Phong-Kiến
2. Quan-Chế
3. Pháp-Chế
4. Binh-Chế
5. Điền-Chế
6. Học-Hiệu
7. Học-Thuật
8. Phong-Tục
Khi Triệu Đà sang đánh An-Dương-Vương thì ở bên Tàu nhà Tần đã
suy, nhà Hán sắp lên làm vua, nước Tàu đang vào lúc đại loạn, phong tục,
chính trị đều đổi khác cả. Vả lại Triệu-Đà là người Tần, cho nên đến khi lấy
được Âu-Lạc, gồm cả các quận ở phương nam, lập làm một nước tự chủ, bèn
đem chính trị, pháp-luật nước Tàu sang cai-trị đất Nam-Việt
9
. Vậy trước khi
nói đến chuyện nhà Triệu, ta nên xét-xem xã-hội nước Tàu lúc bấy giờ là thế
nào .
1. Phong-Kiến.
Nguyên về đời thái-cổ, nước Tàu chia ra từng
địa-phương một. Mỗi một địa-phương thì có một người làm thủ-lĩnh, lập
thành một nước, gọi là nước chư-hầu, phải triều cống nhà vua.
Số những nước chư hầu ấy thì mỗi đời một khác. Xem như khi vua
Đại-Vũ nhà Hạ, hội các nước chư-hầu ở núi Đồ-sơn, kể có hàng vạn nước.
Đến khi vua Vũ-vương nhà Chu đi đánh Trụ-vương nhà Ân, thì các nước chư-
hầu hội lại cả thảy được 800 nước.
9
Xin đừng lầm nước Nam-việt ngày xưa với Nam-việt của nước Việt-nam thời nay.
Đánh xong nhà Ân, vua Vũ-Vương phong cho hơn 70 người làm vua
chư-hầu, chia ra làm 5 bậc là: công, hầu, bá, tử, nam. Nước phong cho tước
công, tước hầu thì rộng 100 dặm gọi là đại quốc; nước phong cho người
tước bá thì rộng 70 dặm, gọi là trung quốc; nước phong cho người tước tử,
tước nam thì rộng 50 dặm, gọi là tiểu quốc. Những nước không đủ 50 dặm,
thì gọi là nước phụ-dung.
2. Quan-Chế.
Nhà Hạ đặt tam-công, cửu-khanh, 27 đại-phu,
81 nguyên sĩ.
Nhà Ân đặt hai quan tướng, sáu quan thái là: thái-tể, thái-tông, thái-
tử, thái-chúc, thái-sĩ, thái-bốc; năm quan là: tư-đồ, tư- mã, tư-không, tư-sĩ,
tư-khấu; sáu phủ là: tư-thể, tư-mộc, tư-thủy, tư-thảo, tư-khí, tư-hóa; sáu
công là: thổ-công, kim-công, thạch-công, thủy-công, thú-công và thảo-công.
Đến nhà Chu, ông Chu-Công đặt ra sáu quan gọi là: thiên-quan, địa-
quan, xuân-quan, hạ-quan, thu-quan, đông-quan. Mỗi một quan lại có 60
thuộc-quan, cộng cả lại là 360 người.
Người làm đầu thiên-quan, gọi là trủng-tể, thống cả việc chính-trị
trong nước, việc thu-nạp cả năm và mọi việc ở trong cung. Người làm đầu
địa quan gọi là đại-tư-đồ giữ việc nông, việc thương, việc giáo dục và việc
cảnh sát. Người làm đầu xuân-quan gọi là đại-tông-bá, giữ việc tế-tự, triều,
sính, hội-đồng v.v Người làm đầu hạ-quan, gọi là đại-tư-mã, giữ việc binh-
mã và việc đi đánh dẹp. Người làm đầu thu-quan gọi là đại tư-khấu giữ việc
dân, việc hình và việc kiện-tụng. Người làm đầu đông-quan gọi là đại-tư-
không, giữ việc khuyến công, khuyến nông và việc thổ mộc v.v
Trên lục quan lại đặt tam công, là: thái-sứ, thái-phó, thái- bảo; tam
cô là : thiếu-sứ, thiếu-phó, thiếu-bảo, để bàn xét việc trị nước yên dân, chứ
không dự vào việc hành chính.
3. Pháp-Chế.
Về đời thái-tổ thì có năm hình, ngoài năm hình
lại có phép đánh bằng roi da và tội lưu. Đến đời nhà Hạ, nhà Ân và nhà Chu
thì lại đặt phép chân, gọt đầu và tội đồ. Đến cuối đời nhà Chu thì đặt ra tội
bêu đầu, xé thây lăng trì, mổ, muối v.v
4. Binh-Chế.
Binh-chế nhà Hạ và nhà Ân thì không rõ, đến đời
nhà Chu thì đặt 5 người làm một ngũ; 5 ngũ tức là 25 người thành một
lượng; 4 lượng tức là 100 người làm một tốt; 5 tốt tức là 500 người làm một
13
lữ; 5 lữ tức là 2500 người làm một sư ; 5 sư tức là 12500 người tức là một
quân.
Quân thì đặt quan mạnh-đan làm tướng, sư thì đặt quan trung-đại-
phu làm súy, lữ thì đặt quan đại-hạ làm súy, tốt thì đặt quan thượng-sĩ làm
trưởng, lượng thì đặt quan trung-sĩ làm tư-mã.
Thiên tử có 6 quân; còn những nước chư hầu, nước nào lớn thì có 3
quân, nước vừa có 2 quân, nước nhỏ 1 quân.
Trong nước chia ra làm tỉnh, mỗi tỉnh 8 nhà, 4 tỉnh làm một ấp 32
nhà; 4 ấp làm một khâu, 128 nhà; 4 khâu làm một điện, 512 nhà. Cứ mỗi
điện phải chiêu một cỗ binh xa, bốn con ngựa, 12 con bò, 3 người giáp sĩ, 72
người bộ tốt, 25 người để khiêng-tải những đồ nặng. Cả thảy là 100 người .
5. Điền Chế.
Về đời thái-cổ thì không biết chia ruộng đất ra
làm sao. Từ đời Hạ trở đi thì chia 50 mẫu làm một gian, 10 gian làm một tổ.
Cứ 10 nhà cày một lô ruộng, hoa-lợi được bao nhiêu chia làm 10 phần, nhà
nước lấy một gọi là phép cống.
Nhà Ân và nhà Chu thì dùng phép tỉnh điền, nghĩa là chia đất ra làm
chín khi hình chữ tỉnh. Những khu ở chung quanh làm tư-điền, khu ở giữa để
làm công-điền. Mỗi một tỉnh cho 8 nhà ở, đều phải xuất lực cầy cấy công
điền rồi nộp hoa lợi cho nhà vua.
Về đời nhà Ân thì mỗi tỉnh có 630 mẫu, mỗi nhà được 70 mẫu; phép
đánh thuế gọi là phép trợ. Đến đời nhà Chu thì mỗi tỉnh có 900 mẫu, mỗi
nhà có 100 mẫu, phép đánh thuế gọi là phép triệt.
Nhà Chu lại đặt ra lệ cứ 20 tuổi thì được 100 mẫu ruộng, đến 60 tuổi
thì trả lại cho nhà nước. Nhà nào có con thứ nhì gọi là dư phu đến 16 tuổi thì
được lĩnh 25 mẫu ruộng.
Nhờ có phép chia ruộng như thế nên lúc bấy giờ không có nhiều
người nghèo lắm mà cũng không có người giàu lắm. Về sau đến đời Chiến
Quốc, người Lý Khôi làm tướng nước Ngụy, bắt dân hết sức làm ruộng,
không định hạn như trước nữa; người Thương Ưởng làm tướng nước Tần, bỏ
phép tỉnh điền, mở thiên mạch, cho mọi người được tự tiện làm ruộng. Phép
chia đất từ đó mới mất dần dần đi.
6. Học-Hiệu.
Nhà Hạ đặt nhà Đông tự làm đại học, nhà Tây tự
làm tiểu học. Nhà Ân đặt là Hữu-học làm đại học, nhà Tả-học làm tiểu học.
Những nhà đại-học, tiểu học ấy, là chỗ để tập bắn, để nuôi những người già-
cả và để tập văn nghệ.
Nhà Chu thì đặt Tích-ung hoặc nhà Thành-quân làm đại học, để cho
con vua, con các quan và những người tuấn tú tuyển ở các thôn xã đến học;
còn ở châu, ở đảng
10
thì đặt nhà tiểu học gọi là Tự và nhà Tường để cho con
dân-gian vào học. Lại đặt lệ cứ từ 8 tuổi đến 14 tuổi làm niên hạn cho tiểu
học, từ 15 đến 20 tuổi, làm niên-hạn cho đại học. Đại học thì dạy lễ, nhạc,
thi, thư; tiểu-học thì dạy cách kính trên nhường dưới và cách ứng đối, v.v
7. Học-Thuật.
Học-thuật ở nước Tàu về đời nhà Chu đã thịnh
lắm, cho đến đời nhà Xuân-thu có nhiều học-giả như là Lão-tử bàn đạo;
Khổng-tử bàn hiếu, đễ, nhân, nghĩa; Mạc Địch bàn lễ kiêm-ái, nên chuộng sự
tiết kiệm bỏ âm-nhạc; Dương Chu thì bàn lẽ vị-kỷ, nên tự-trọng thân mình
và không chịu thiệt mình để lợi người.
Lại có những pháp-gia như Thân Bất-Hại, Hàn-Phi bàn việc trị thiên-
hạ thì chỉ nên dùng pháp-luật, chứ không nên dùng nhân nghĩa. Còn những
người như Quỉ Cốc, Thi Giảo, Điền Biền, v.v , mỗi người đều xướng một học
thuyết để dạy người đương thời.
8. Phong-Tục.
Nước Tàu lấy sự cày ruộng làm gốc, nhưng mà
việc nuôi tằm, dệt lụa, việc họp chợ, việc buôn-bán cũng phát-đạt cả.
Dân trong nước chia ra làm 4 thứ: sĩ, nông, công, thương, nhưng mà
con người làm quan lại làm quan, con người làm ruộng cứ làm ruộng, chứ
con người làm ruộng không được làm quan. Tuy vậy, đến đời Xuân-thu
những người thứ dân lên làm tướng văn tướng võ cũng nhiều.
Trong gia-đình thì già trẻ trên dưới phân biệt nghiêm lắm. Con phải
theo cha, vợ phải theo chồng, con-trai con-gái từ 7 tuổi trở đi, là không được
ăn một mâm, nằm một chiếu nữa. Con trai 30 tuổi mới được lấy vợ, gái 20
tuổi mới được lấy chồng mà hai người cùng họ không được lấy nhau.
Nước Tàu về đời Tam-đại cũng sùng sự tế-tự lắm. Thường cúng-tế
thiên, địa, nhật, nguyệt, sơn, xuyên, lâm, trạch. Nhà vua lập đàn Nam-giao
để tế Thượng-Đế. Lại có nhà Xã-tắc để tế Thổ-thần và Hậu-tắc. Còn sự thờ-
10
Cứ 12500 nhà một châu, và 500 nhà làm một đảng thì có nhà Tự, ở đảng thì có nhà Tường.
14
phụng tổ-tiên thì từ vua cho đến thứ-dân đều lấy làm một việc quan trọng
trong đời người.
Xem như thế, thì xã-hội nước Tàu về đời Tam-đại đã văn minh lắm,
nhưng sau đến cuối đời nhà Chu, vì nhà vua suy-nhược, cho nên chư hầu,
người xưng hầu, kẽ xưng vương rồi tranh nhau, đánh nhau như Ngũ-Bá đời
Xuân-Thu, Thất-Hùng đời Chiến-Quốc, làm cho trăm họ lầm than khổ sở.
Sau nhà Tần thống-nhất được thiên-hạ, mới bỏ lệ phong-kiến, lập ra
quận huyện; bỏ phép tỉnh điền, lập thiên-mạch; cấm nho học đốt sách vở,
việc chính-trị thì cốt dùng pháp-luật, để lấy quyền lực mà áp chế.
Đang khi phong-tục nước Tàu biến cải như thế, thì Triệu Đà lập ra
nước Nam-Việt (3), đem văn-minh nước Tàu sang truyền-bá ở phương nam,
cho nên từ đó về sau người nước mình đều nhiễm cái văn-minh ấy.
CHƯƠNG IV
Nhà Triệu
(207-111 tr. Tây-lịch)
1. Triệu Vũ-Vương
2. Vũ-Vương thụ-phong nhà Hán
3. Vũ-Vương xưng đế
4. Vũ-Vương thần phục nhà Hán
5. Triệu Văn-Vương
6. Triệu Minh-Vương
7. Triệu Ai-Vương
8. Triệu Dương-Vương
1. Triệu Vũ-Vương (207-137 tr. Tây-lịch).
Năm quí-tị
(207) Triệu Đà đánh được An-dương-vương rồi, sáp-nhập nước Âu-lạc vào
quận Nam-hải, lập thành một nước gọi là Nam-Việt, tự xưng làm vua, tức là
Vũ-vương, đóng đô ở Phiên-ngung, gần thành Quảng-châu bây giờ.
2. Vũ-Vương thụ-phong nhà Hán.
Trong khi Triệu Vũ-
Vương gây-dựng cơ-nghiệp ở Nam-Việt, thì ở bên Tàu, ông Lưu Bang triệt
được nhà Tần, diệt được nhà Sở, nhất-thống thiên hạ, rồi lên ngôi Hoàng-đế
tức là vua Cao Tổ nhà Hán. Vua Cao-tổ thấy Triệu Vũ-Vương độc-lập ở
phương nam, bèn sai Lục Giả sang phong cho Vũ-Vương. Bấy giờ là năm ất-
tị (196 tr. Tây-lịch), năm thứ 12 đời vua Vũ-Vương nhà Triệu, và năm thứ 11
đời vua Cao-tổ nhà Hán.
Vũ-Vương vốn là người kiêu-căng, có ý không muốn phục nhà Hán,
đến khi Lục Giả sang đến nơi, vào yết-kiến Vũ-Vương, Vũ-Vương ngồi xếp
vành tròn, không đứng dậy tiếp. Lục Giả thấy vậy mới nói rằng: "Nhà vua là
người nước Tàu , mồ mả và thân thích ở cả châu Chân-định. Nay nhà Hán
đã làm vua thiên hạ, sai sứ sang phong vương cho nhà vua, nếu nhà vua
kháng-cự sứ-thần, không làm lễ thụ-phong, Hán-đế tất là tức giận, hủy-hoại
mồ mả và giết hại thân-thích của nhà vua, rồi đem quân ra đánh thì nhà vua
làm thế nào?" Vũ-vương nghe lời ấy vội-vàng đứng dậy làm lễ tạ, rồi cười
mà nói rằng: "Tiếc thay ta không được khởi nghiệp ở nước Tàu, chứ không
thì ta cũng chẳng kém gì Hán-đế!"
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét