Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thanh toán xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

bảo, bảo lãnh của ngân hàng, hoạt động tín dụng của các tổ chức tiền tệ, tài chính
quốc tế ra đời nh là một yếu tố không thể thiếu để hỗ trợ cho hoạt động thanh toán
quốc tế.
Hoạt động thanh toán quốc tế có thể mô hình hoá dới dạng đơn giản nh sau:
Giao hàng hoặc dịch vụ
Uỷ Báo
nhiệm có
chi
Thông báo trả tiền
Qua việc nêu lên một số vấn đề chung về thanh toán quốc tế, chúng ta có thể
thấy nó là một mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế quốc
dân. Thanh toán quốc tế là khâu kết thúc của một giao dịch mua bán hàng hoá hay
dịch vụ, là cầu nối giữa ngời sản xuất và ngời tiêu dùng thông qua việc chi trả lẫn
nhau trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế. Thanh toán quốc tế đã góp phần chủ yếu
để giải quyết mối quan hệ hàng hoá tiền tệ quốc tế, tạo nên sự liên tục của quá
trình tái sản xuất và đẩy nhanh quá trình lu thông hàng hoá quốc tế. Tuy nhiên,
trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề này, chúng ta chỉ xem xét thanh toán
quốc tế nh là việc chi trả những khoản ngoại tệ, tín dụng có liên quan đến hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hoá đã đợc thoả thuận trong hợp đồng ngoại thơng.
2. Vai trò của thanh toán quốc tế
2.1. Vai trò của thanh toán quốc tế đối với hoạt động kinh tế quốc dân
- 5 -
Ngời mua Ngời bán
Ngân hàng bên
mua
Ngân hàng bên
bán
Ngân hàng
trung gian
Sự ra đời và phát triển của nền kinh tế sản xuất và trao đổi hàng hoá trên thế
giới gắn liền với sự ra đời, phát triển của tiền tệ và lu thông tiền tệ. Trong quá trình
trao đổi hàng hoá, tiền tệ ra đời với chức năng là trung gian trao đổi hàng hoá đặc
biệt, làm vật ngang giá chung của các loại hàng hoá khác. Việc xuất hiện đồng
tiền trong lu thông và trao đổi hàng hoá đã tạo tiền đề và thúc đẩy mậu dịch quốc
tế phát triển. Cùng với mối quan hệ giữa các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu ngày
càng trở nên đa dạng và phong phú. Sự không nhất trí về thờì gian của các chu
trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, hoạt động thanh toán quốc tế - khâu kết thúc
một giao dịch ngoại thơng cũng trở nên bức thiết và thờng xuyên hơn, yêu cầu
phảI đợc xem xét để hoàn thiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo luật lệ quốc gia
cũng nh phảI phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng đòi hỏi của thị trờng thơng
mại hoá toàn cầu là hết sức cần thiết.
Sự trỗi dậy một cách nhanh chóng và mạnh mẽ của nền kinh tế ở một số nớc
trên thế giới trong thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đã chứng minh rằng kinh tế của một
nớc không thể phát triển với một chính sách đóng cửa, trông vào tích luỹ và trao
đổi trong nớc. Mà phảI biết phát huy mặt mạnh trong nớc, tận dụng khả năng có
lợi từ bên ngoàI, biết phát huy lợi thế so sánh, biết kết hợp sức mạnh dân tộc và
sức mạnh thời đại trong hợp tác kinh tế quốc tế. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII đã xác định: "Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố hoà
bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã
hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc" và "Tiếp tục đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng đa phơng hoá và
đa dạng hoá các mối quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với
tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới".
Thanh toán quốc tế phản ánh sự vận động có tính chất độc lập tơng đối của giá
trị trong qua trình chu chuyển hang hoá và t bản giữa các quốc gia. Nh vậy, nếu
khâu thanh toán quốc tế đợc thực hiện nhanh chóng, an toàn, chính xác thì nó đã
trực tiếp tác động vào việc rút ngắn thời gian chu chuyển vốn, giảm bớt và khắc
phục những rủi ro liên quan tới sự biến động của tiền tệ, tới khả năng thanh toán
- 6 -
của con nợ, tạo điều kiện cho việc phát triển và mở rộng hoạt động ngoại thơng
của mỗi nớc.
Vị trí và tầm quan trọng của hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng đợc
khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối
ngoại nói riêng. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi mỗi quốc gia đều đặt hoạt
động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đờng
tất yếu trong chiến lợc phát triển kinh tế nớc mình.
Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trogn quá trình mua bán hàng hoá, dịch
vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu không có hoạt
động thanh toán quốc tế thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và phát triển đ-
ợc.
Nếu tổ chức hoạt động thanh toán quốc tế đợc tiến hành nhanh chóng, an toàn,
chính xác sẽ giảI quyết đợc mối quan hệ lu thông hang hoá-tiền tệ giữa ngời mua
và ngời bán một cách trôI chảy và hiệu quả. Về mặt kinh doanh, thanh toán tiền
hàng thể hiện chất lợng của kinh doanh, nói lên hiệu quả kinh tế và tài chính trong
hoạt động của các doang nghiệp.
Trong điều kiện tiền tệ thờng xuyên biến động, khả năng thanh toán của con
nợ bấp bênh, rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng mua bán ngày càng nhiều, vị trí
và vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế cũng vì thế mà đợc khẳng định hơn.
Trong đó các yếu tố về tiền tệ, về phơng thức thanh toán, biện pháp đảm bảo hối
đoáI và đảm bảo thu đợc tiền hàng đối với nhà xuất khẩu cần đợc xem xét
nghiên cứu kỹ lỡng để lựa chọn áp dụng cho linh hoạt với mỗi trờng hợp.
2.2.Vai trò của thanh toán quốc tế đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Đối với hoạt động ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động thanh
toán quốc tế có vị trí và vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ là một dịch vụ
thanh toán thuần tuý mà nó đợc coi là một mặt không thể thiếu đợc trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, nó bổ sung và hỗ trợ cho các mặt hoạt động kinh
doanh khác của ngân hàng.
- 7 -
Hoạt động thanh toán quốc tế của một ngân hàng phát triển đáp ứng đợc đòi
hỏi của khách hàng sẽ là điều kiện tốt để thu hút thêm khách về giao dịch, trên cơ
sở đó mà ngân hàng có thể tăng qui mô hoạt động của mình.
Nhờ đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế mà ngân hàng có thể mở rộng
hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu cũng nh tăng cờng đợc nguồn vốn huy
động đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ do tạm thời quản lý đợc vốn nhàn rỗi của các
doanh nghiệp có quan hệ thanht oán quốc tế qua ngân hàng.
Hoạt động thanht oán quốc tế tốt giúp cho ngân hàng phát triển đợc các
nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ ngân hàng quốc tế khác.
Nhờ có nguồn vốn ngoại tệ thu về lớn và đa dạng thông qua nghiệp vụ thanh toán
quốc tế.
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế phát triển sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao đợc
uy tín của mình trên thị trờng quốc tế, trên cơ sở đó mà có thể khai thác đợc nguồn
vốn tài trợ của các ngân hàng nớc ngoài và nguồn vốn trên thị trờng tài chính thế
giới nhằm đáp ứng cao hơn nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng tăng thu nhập và tăng cờng
khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trờng, đồng thời nó giúp cho
hoạt động ngân hàng vợt qua khỏi phạm vi quốc gia và hoà nhập với hệ thống
ngân hàng thế giới.
Tóm lại, thanh toán quốc tế trong hoạt động ngân hàng nói riêng và trong hoạt
động kinh tế quốc dân nói chung có một vị trí đặc biệt quan trọng. Nó là một mắt
xích không thể thiếu trogn dây chuyền hoạt động kinh tế kể từ khi chuẩn bị các b-
ớc cần thiết để sản xuất ra hàng hoá tới khi bán hàng thu tiền về cho nhà xuất khẩu
hay chi tiền ra để nhập hàng về phục vụ sản xuất, đời sống con ngời sao cho đủ số
lợng, đúng chất lợng. Nghiên cứu nội dung và quá trình phát triển của nghiệp vụ
thanh toán quốc tế, lựa chọn và xử lý yếu tố trong nội dung của nó. Hoàn thiện các
qui trình nghiệp vụ kỹ thuật sao cho phù hợp với những đặc điểm tính chất nền
kinh tế mỗi quốc gia, đáp ứng đợc yêu cầu, mục đích tăng trởng nền kinh tế lấy
- 8 -
hoạt động kinh tế đối ngoại làm nòng cốt trớc hết là nhiệm vụ của Nhà nớc, sau đó
là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, của hệ
thống ngân hàng đặc biệt là hệ thống các ngân hàng thơng mại - những ngời trực
tiếp tham gia vận hành nghiệp vụ thanh toán quốc tế vào guồng máy sản xuất kinh
doanh để tạo ra lợi nhuận.
II. Quá trình phát triển nghiệp vụ thanh toán
quốc tế.
1. Giai đoạn thanh toán quốc tế tự do và nhiều bên trớc khủng hoảng TBCN
(1929).
Đây là thời kỳ chủ nghĩa t bản tự do cạnh tranh, dựa trên cơ sở của chế độ bản
vị vàng của các quốc gia. Trong thời kỳ này cán cân trả tiền của các nớc TBCN t-
ơng đối ổn định, mặt khác chế độ tiền tệ tín dụng cũng ổn định tơng đối. Do đó
thanh toán quốc tế TBCN cũng ở vào giai đoạn ít có biến động. Tự do và nhiều bên
là đặc điểm chủ yếu nhất của hoạt động thanh toán quốc tế lúc này và nó hoàn
toàn nhất trí với đặc điểm của chế độ bản vị vàng, chế độ tín dụng quốc tế lúc đó.
Nội dung của hoạt động thanh toán quốc tế tự do và nhiều bên bao gồm 5 yếu
tố sau:
1.1. Tự do mua bán ngoại hối.
Dới chế độ thanh toán này các nguồn ngoại tệ thu, chi bất kể do nguyên nhân nào
với mục đích gì đều có thể mua bán bất kỳ lúc nào trên thị trờng trong và ngoài n-
ớc. Tự do mua bán ngoại hối làm cho tuyệt đại đa số bộ phận nghiệp vụ ngoại hối
đều tập trung tại ngân hàng thơng mại. Việc cho vay và vay nợ giữa các nớc đợc
bù trừ lẫn nhau ở mức cao nhất, giảm đợc đến mức thấp nhất việc vận chuyển tiền
tệ thế giới.
1.2. Vốn ngắn hạn và dài hạn tự do lu động trên thế giới.
- 9 -
Với nội dung này không những mọi nhu cầu về t bản của các nớc đợc thoả mãn
mà còn điều hoà đợc cung cầu về ngoại hối và cân bằng đợc mức lãI suất trên thế
giới. Tác dụng của điều hoà cung cầu về ngoại hối và cân bằng mức lãI suất là
nguyên nhân làm cho việc lu thông t bản ngắn hạn và dàI hạn trên quốc tế trở
thành biện pháp quan trọng nhất để cân bằng cán cân trả tiền quốc tế của các nớc
TBCN trong thời kỳ này.
1.3. Tự do xuất nhập khẩu vàng.
Trong điều kiện nếu cung và cầu ngoại hối không cân bằng nhau, các nớc đều có
thể tự do xuất nhập khẩu vàng với t cách là tiền tệ thế giới. Tự do xuất nhập khẩu
vàng đã làm thoả mãn hơn về nhu cầu ngoại hối và làm cho thanh toán quốc tế đợc
tiến hành một cách thuận lợi.
1.4. Thị trờng tự do về ngoại hối và vàng.
Tự do mua bán ngoại hối, tự do lu thông t bản ngắn hạn và dài hạn, tự do xuất
nhập khẩu vàng không những đợc pháp luật bảo đảm mà còn có thị trờng tự do về
ngoại hối và vàng làm cơ sở nghiệp vụ. Trên những thị trờng này bất cứ ngời nào,
không kể nguyên nhân gì đều có thể mua bán ngoại hối và vàng một cách tự do, tự
do vay mợn t bản ngắn hạn và dài hạn một cách không hạn chế để thoả mãn nhu
cầu về thanh toán quốc tế.
1.5. Thanh toán quốc tế nhiều bên.
Các mối quan hệ kinh tế trong đó có vay và trả nợ giữa các nớc t bản chủ nghĩa đ-
ợc thanh toán theo cơ chế tự do bù trừ với nhau. Đó chính là việc thanh toán quốc
tế tự do và nhiều bên trong giai đoạn này.
2. Giai đoạn thanh toán quốc tế trong khuôn khổ hiệp định (sau 1933).
Điển hình của giai đoạn này là vào trớc và sau chiến tranh thế giới lần thứ hai,
khởi đầu từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, cán cân thanh toán
quốc tế của nhiều nớc t bản trong giai đoạn này thâm hụt lớn. Ngoại hối không đủ
để cung cấp cho những nhu cầu đối ngoại, tỷ giá hối đoái lên cao, vàng chạy ra n-
- 10 -
ớc ngoài, hệ thống tiền tệ, tín dụng thế giới bị khủng hoảng. Kết quả là chế độ
thanh toán quốc tế nhiều bên và tự do cũng bị lâm vào tình trạng khủng hoảng và
sau đó là tan vỡ, chế độ quản chế ngoại hối, chế độ thanh toán "Clearing" tay đôi
(bù trừ song phơng) bắt đầu xuất hiện.
Trớc hết là hiệp định thanh toán "Clearing" thuần tuý. Đây là loại hiệp định
mà hai bên hoàn toàn không phải trả ngoại tệ cho nhau đối với bất cứ khoản chi
nào hay trong bất cứ trờng hợp nào.
Sau đó là hiệp định trả tiền "Clearing" tay đôi quy định hai bên phảI thanh
toán cho nhau số tiền chênh lệch bằng ngoại hối. Hiệp định trả "Clearing" đầu tiên
đợc ký kết giữa Thuỵ Sỹ và áo ngày 12/11/1931, đến năm 1939 đã có tới 38 nớc
ký 178 hiệp định trả tiền "Clearing". Thanh toán mậu dịch quốc tế tiến hành bằng
những hiệp định trả tiền "Clearing" ngày càng tăng: năm 1937 chiếm 12% tổng
kim ngạch mậu dịch quốc tế và đến những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ hai
con số này đã lên tới 60%.
Bên cạnh các hiệp định thanh toán "Clearing" đợc ký kết giữa các nớc, các hệ
thống tiền tệ quốc tế cũng lần lợt ra đời có ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động thanh
toán quốc tế. Hiệp định tiền tệ quốc tế thống nhất Bretton Woods năm 1944 đa ra
một số nguyên tắc quan trọng nh đồng đô la Mỹ (USD) là đồng tiền chuẩn quốc
tế, đợc đổi ra vàng (1 ounce = 35 USD); tỷ giá hối đoái giữa các nớc thành viên đ-
ợc hình thành trên cơ sở so sánh hàm lợng vàng chính thức giữa tiền tệ của các nớc
thành viên và USD, nó không đợc phép biến động quá phạm vi +1% của tỷ giá
chính thức đã đăng ký tại Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF).
Sự ra đời của hệ thống tỷ giá hối đoái mới này chỉ duy trì đợc sự ổn định của
tỷ giá các đông tiền cho đến năm 1968. Với sự kiện câu lạc bộ vàng Paris giảI thể
tháng 3/1968 và chế độ hai giá vàng hình thành, việc chuyển đổi USD ra vàng bị
công phá mãnh liệt. Giá vàng tăng vọt, USD mất giá dẫn tới cuộc đào thảI USD,
săn lùng JPY và DEM. Cho đến tháng 8/1971, nớc Mỹ tuyên bố ngừng việc đổi đô
la Mỹ ra vàng, từ đó hệ thống tiền tệ Bretton Woods sụp đổ.
- 11 -
Sau sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Woods là sự ra đời của hiệp định
Smithsonian, theo đó Mỹ đã chính thức phá giá đồng USD 7,95% (1 ounce =
38USD). Đồng thời biên độ giao động của tỷ giá hối đoáI giữa các đồng tiền đợc
nới rộng lên +2,25%. Cho đến tháng 2/1973, sau khi Mỹ tuyên bố phá giá đồng
USD lần thứ hai 10% thì hiệp định Smithsonian hoàn toàn sụp đổ. Từ thời điểm
này quan hệ tiền tệ giữa các nớc chuyển từ cơ chế tỷ giá cố định sang cơ chế thả
nổi.
Tóm lại, đặc trng về hoạt động thanh toán quốc tế giai đoạn trong khuôn khổ
hiệp định là một khi hoạt động thanh toán đợc thực hiện trong khuôn khổ hiệp
định Chính phủ thì nó trở thành chế độ thanh toán quốc tế mang tên của hiệp định
đó.
3.Đặc trng của hoạt động thanh toán quốc tế trong giai đoạn hiện nay
Hoạt động thanh toán quốc tế tồn tại trong mối quan hệ mật thiết với các hoạt
động khác trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt nội dung chiến lợc phát triển kinh
tế đối ngoại, chính sách tiền tệ tín dụng, chế độ quản lý ngoại hối của mỗi quốc
gia. Đồng thời việc tổ chức quản lý và thực hiện các hoạt động này phảI dựa trên
cơ sở luật quốc gia, tập quán quốc gia, các thông lệ thực hành quốc tế nh UCP
500, URC 522 của phòng thơng mại quốc tế và các hiệp định đợc ký kết giữa các
nớc. Do vậy ở mỗi giai đoạn khác nhau của sự phát triển kinh tế thế giới nói chung
và mỗi quốc gia nói riêng thì hoạt động thanh toán quốc tế cũng mang sắc thái và
đặc trng riêng. Giai đoạn hiện nay thì hoạt động thanh toán quốc tế có những đặc
trng chủ yếu sau.
3.1. Đồng đô la Mỹ (USD) không còn là đồng tiền chuẩn duy nhất trong
thanh toán quốc tế.
Từ sau sự kiện tan vỡ của hệ thống tiền tệ quốc tế thống nhất Bretton Woods
(1971), đồng đô la Mỹ không còn đợc tự do đổi ra vàng, chế độ tỷ giá cố định giữa
đồng tiền các quốc gia với đồng đô la Mỹ bị phá vỡ thì đồng đô la Mỹ không còn
là đồng tiền chuẩn quốc tế. Trong thanh toán quốc tế hiện nay, ngoàI đồng đô la
- 12 -
Mỹ còn sử dụng nhiều đồng tiền của các quốc gia khác. Việc sử dụng đồng tiền
nào là tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng kinh tế. Trong thực
tế thấy rằng các đồng tiền mạnh, có khả năng chuyển đổi cao nh USD, FRF,
DEM, JPY, GBP đợc nhiều nớc sử dụng trong các hợp đồng ngoại thơng, thanh
toán tín dụng quốc tế và dự trữ ngoại hối của các nớc. Đặc biệt từ 1/1/1999, đồng
tiền chung châu Âu ra đời (EURO) đang là đồng tiền mới hấp dẫn trên thị trờng
thanh toán quốc tế. Trong tơng lai một vàI năm nữa sẽ thay thế cho nhiều đồng
tiền của các nớc trong khối liên minh kinh tế tiền tệ châu Âu (15 nớc châu Âu
trong đó có 11 nớc tham gia đầu tiên).
Đặc điểm nổi bật của các đồng tiền các quốc gia này là các đồng tiền này đều
không còn đợc đổi ra vàng, hàm kim lợng công bố trớc đây của nó đều không có
giá trị về mặt kinh tế, chỉ mang giá trị danh nghĩa. Hầu hết các đồng tiền áp dụng
cơ chế thả nổi nên giá trị của nó thờng xuyên biến động và bị chi phối bởi nhiều
yếu tố nh lạm phát, quan hệ cung cầu, lãi suất, các chính sách tài chính tiền tệ của
các quốc gia đó. Tỷ giá giữa các đồng tiền biến động từng ngày, từng giờ, điều đó
ảnh hởng rất lớn đến sự ổn định và an toàn trong hoạt động kinh tế và thanh toán
quốc tế.
Để thiết lập trật tự cho các quan hệ trao đổi mậu dịch, quan hệ thanh toán
quốc tế và các quan hệ kinh tế quốc tế khác giữa các quốc gia trong khu vực và
trên thế giới đã xuất hiện các liên minh tiền tệ, tín dụng quốc tế khu vực cùng với
sự thống nhất tiền tệ khu vực và thành lập các ngân hàng trung ơng khu vực. Nh
vậy sẽ tiết kiệm đợc chi phí khi chuyển đổi giao dịch giữa các nớc, tránh đợc rủi ro
đối với việc giao dịch tiền tệ giữa các nớc, lãI suất sẽ giảm và hội tụ theo một mức
chung, các doanh nghiệp sẽ không sợ bị rủi ro nhiều về giá cả, dễ dàng trong việc
ra các quyết định đầu t, kinh doanh.
3.2. Trên thế giới vẫn còn tồn tại hai chế độ quản chế ngoại hối đối đầu nhau.
Vấn đề quản lý ngoại hối là một nội dung rất quan trọng trong hoạt động
ngoại thơng và thanh toán quốc tế. Mặc dù hiện nay trong nền kinh tế hàng hoá,
- 13 -
các chủ thể tham gia trong các hợp đồng mua bán đều tuân thủ theo các nguyên
tắc "bình đẳng", " hai bên cùng có lợi", "tự do cạnh tranh" song các mối quan hệ
về tiền tệ, cơ chế thanh toán ở mỗi nớc lại có những đặc điểm riêng. Các đặc điểm
này đợc thể hiện trong các chính sách quản chế ngoại hối đại diện cho hai nhóm
nớc khác nhau:
Nhóm các nớc t bản phát triển thực hiện chế độ ngoại hối tự do, các đồng tiền
quốc gia đợc tự do tham gia vào thanh toán quốc tế, tự do chuyển đổi từ đông tiền
nớc mình sang đồng tiền nớc ngoàI, tự do chuyển vốn ra nớc ngoàI hoặc từ nớc
ngoàI vào trong nớc. Một số nớc nh Mỹ, Pháp, Anh các chủ thể kinh tế tự do mở
tàI khoản ở nớc ngoàI, tại các nớc này không còn chế độ cấp giấy phép ngoại hối.
Nhóm các nớc còn lại, đại bộ phận là các nớc đang phát triển và kém phát
triển, thực hiện chế độ quản chế ngoại hối nghiêm ngặt, không đợc mua bán ngoại
hối tự do, không đợc mở tàI khoản ở ngân hàng nớc ngoàI nếu cha có giấy phép
của cơ quan quản lý có thẩm quyền của Nhà nớc. Các đồng tiền của các nớc này
cha có khả năng chuyển đổi nên cha đợc tham gia vào quan hệ thanh toán quốc tế.
3.3. Các liên minh tiền tệ, tín dụng ra đời và ngày càng có vai trò quan trọng
đối với các quốc gia.
Dới tác động của nhiều yếu tố nh lạm phát, tình hình cán cân thanh toán quốc
tế, tình hình cung cầu ngoại tệ, mức lãi suất, các chính sách tài chính tiền tệ của
mỗi quốc gia, tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền thờng xuyên biến động, khả năng
thanh toán bấp bênh dẫn đến rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế.
Trớc tình hình đó, bên cạnh vai trò của ngân hàng nhà nớc hoặc cơ quan quản
lý ngoại hối của nhà nớc trực tiếp tham gia mua bán ngoại hối để điều tiết quan hệ
cung cầu trên thị trờng, để điều chỉnh tỷ giá lên hoặc xuống hoặc ổn định theo
mức độ mong muốn, tuy nhiên muốn thực hiện đợc chính sách này thì ngân hàng
trung ơng phảI có một lợng dự trữ ngoại hối lớn. Nếu ở một nớc nào đó tình trạng
cán cân thanh toán quốc tế liên tục bị thiếu hụt thì khó có thể thực hiện đợc chính
sách này. Để giảI quyết vấn đề đó một số tổ chức tàI chính, tiền tệ, tín dụng quốc
- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét