Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Luận văn tiền tệ ngân hàng của nhà nước Việt Nam

Tiền tệ ngân hàng
với lạm phát leo thang mà biểu hiện là giá cả nguyên nhiên vật liệu, giá cả hàng
tiêu dùng và lương thực thực phẩm đều tăng mạnh. Thêm vào đó, cuộc chiến
Iraq và khủng hoảng dầu mỏ cũng làm cho mặt bằng giá thế giới tăng cao.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của các nước đặc biệt là Mỹ trong giai đoạn 2003-
2005 có dấu hiệu tăng mạnh. Tốc độ tăng GDP thực tế của Mỹ năm 2005 là
3,1% trong khi CPI cùng năm lên tới 3,4%. Đứng trước nguy cơ lạm phát leo
thang, từ giữa năm 2004 đến năm 2006, Mỹ và các nền kinh tế lớn bắt buộc phải
chấm dứt chính sách tiền tệ nới lỏng và từng bước chuyển sang chu kỳ điều
hành chính sách tiền tệ theo hướng bắt buộc hơn. Từ giữa năm 2004 đến hết
năm 2006, FED đã liên tiếp 17 lần điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản đồng USD,
đưa lãi suất cơ bản của đồng USD từ 1% lên 5,25% năm 2006 và tiếp tục duy trì
trong nửa đầu năm 2007, tạo nên một làn sóng tăng lãi suất mạnh mẽ ở hầu hết
các nước trên thế giới. Cùng với Mỹ, trong giai đoạn này, ECB cũng đã 3 lần
tăng lãi suất từ 2% lên 2,75%.
Tuy chậm hơn, song từ năm 2006, làn sóng tăng lãi suất cũng đã lan tới châu
Á với việc Ngân hàng Trung ương các nước Hàn Quốc, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ
liên tiếp tăng mạnh lãi suất vào năm 2006 nhằm kiềm chế lạm phát. Trong năm
2006, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc đã bất ngờ tăng lãi suất tiền gửi đồng
nội tệ của mình lên mức 4,25% - mức cao nhất trong vòng 3 năm qua nhằm bình
ổn giá cả. Ngân hàng Trung ương Thái Lan cũng quyết định tăng lãi suất tiền
gửi đồng nội tệ của mình thêm 0,25% lên mức 5%. Tăng mạnh nhất là Thổ Nhĩ
Kỳ, Ngân hàng Trung ương nước này đã tăng lãi suất tiền gửi đồng nội tệ của
mình từ mức 13,25% lên mức 15% nhằm bình ổn thị trường sau khi lạm phát ở
đây có dấu hiệu tăng mạnh và đồng Lira của Thổ Nhĩ Kỳ đang mất giá.
Ngay cả Nhật Bản, từ năm 2006 cũng đã hướng tới điều chỉnh chính sách
tiền tệ theo hướng thắt chặt khi tuyên bố từ bỏ chính sách lãi suất bằng 0 kéo dài
suốt giai đoạn 2001-2005.
Từ năm 2006, Trung Quốc cũng bắt đầu thực hiện chính sách tiền tệ thắt
chặt, cụ thể là, từ 10/4/2006 đến nay, Trung Quốc đã liên tục tăng lãi suất cơ bản
và nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại. Từ tháng
4/2006, lãi suất cơ bản cho vay bằng đồng USD kỳ hạn 1 năm đã được điều
chỉnh 3 lần, mỗi lần tăng 0,27% từ mức 5,13% lên mức 6,31%. Lãi suất tiền gửi
bằng đồng NDT sau đó cũng đã được điều chỉnh 2 lần, từ mức 1,98% lên mức
2,25%. Trong năm 2006, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng đã liên tục được điều chỉnh
3 lần, nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên 1,5% trong năm lên mức 9%. Năm
2007, Trung Quốc tiếp tục nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 12,5%.
Chính sách tiền tệ thắt chặt được các nước áp dụng trong giai đoạn 2004-
2006 đã khiến tăng trưởng, lạm phát của các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật
Bản có chiều hướng chứng lại sau khi đã tăng đỉnh điểm vào năm 2004.
Trang 5
Tiền tệ ngân hàng
Sau thời gian dài liên tục áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm ngăn
chặn tình trạng lạm phát leo thang, bước sang năm 2007, dường như mọi dự báo
của các tổ chức kinh tế quốc tế đều cho thấy, nền kinh tế thế giới có dấu hiệu
tăng trưởng khả quan và các hoạt động kinh tế tài chính vĩ mô tương đối ổn
định, lạm phát của các khối kinh tế lớn đã từng bước được kiểm soát. Tuy nhiên,
đến giữa năm 2007, dấu hiệu nguy cơ khủng hoảng tín dụng của các khối kinh tế
lớn bắt đầu xuất hiện. Đây được xem là một trong những hệ quả của việc tăng
lãi suất liên tục của FED trong giai đoạn 2004-2006.
Khởi đầu là tình trạng nợ xấu gia tăng trong lĩnh vực cho vay cầm cố ở Mỹ.
Để khuyến khích người dân vay tiền mua nhà, trong suốt một thời gian dài, các
tổ chức tín dụng đã áp dụng cơ chế cho vay linh hoạt mà không tính tới khả
năng chi trả của khách hàng. Cụ thể là, các công ty địa ốc của Mỹ đã đưa ra
những sản phẩm vay trả góp mới với lãi suất thả nổi. Rủi ro phát sinh khi FED
liên tục tăng lãi suất cơ bản của đồng USD trong thời gian dài làm cho lãi suất
cho vay cầm cố của Mỹ cũng tăng theo, dẫn đến người dân không thể trả nợ
ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống tín dụng tăng cao và lên tới 300 tỷ USD.
Nhiều tập đoàn, ngân hàng, quỹ đầu cơ, các nhà cho vay cầm cố lớn của Mỹ rơi
vào tình trạng khó khăn. Khủng hoảng cho vay thế chấp của Mỹ nhanh chóng
lan sang Anh và một số nước Châu Âu, ảnh hưởng sâu sắc tới thị trường tài
chính thế giới, buộc các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới phải phối hợp để
ngăn chặn. Chính sách tiền tệ nới lỏng được xem là một trong những phương
thuốc hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng này, với các biện pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, hầu hết các ngân hàng trung ương lớn đã đều phải nhiều lần bơm
tiền vào hệ thống tín dụng nhằm cứu vãn thị trường tài chính trước cơn
bãokhủng hoảng thế chấp của Mỹ. Trong năm 2007. FED đã 3 lần bơm tiền
nhằm cứu vãn thị trường tiền tệ. Lần thứ nhất là 88 tỷ USD tiền mặt để hỗ trợ
các ngân hàng; lần thứ hai là 3,5 tỷ USD vào cuối tháng 8-2007; lần thứ ba là 20
tỷ USD vào tháng 12-2007.
Ngân hàng Trung ương Anh (ECB) cũng đã phải bơm tiếp 14,3 tỷ USD.
Trước tác động lan tỏa của khủng hoảng tín dụng Mỹ, ECB cũng ngay lập tức
quyết định rót 94,8 tỷ Euro vào Quỹ hỗ trợ khẩn cấp các thị trường và bơm tiếp
61,05 tỷ Euro vào hệ thống ngân hàng. Đến cuối tháng 12-2007, trước ảnh
hưởng lan rộng của khủng hoảng tín dụng ở Mỹ, ECB cũng đã tuyên bố sẽ chi
500 tỷ USD cho các ngân hàng khu vực với lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất thị
trường. Theo thông báo của ECB, hiện đã có tới 390 ngân hàng yêu cầu vay
khoản vốn hỗ trợ từ ECB.
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cũng đã phải bơm 8,4 tỷ USD vào thị
trường tiền tệ khi mối lo về khủng hoảng vay thế chấp của Mỹ làm ảnh hưởng
tới thị trường chứng khoán nước này.
Trang 6
Tiền tệ ngân hàng
Ngân hàng Dự trữ Australia đã bơm 4,19 tỷ USD vào hệ thống tiền tệ trong
nước.
Thứ hai, hàng loạt ngân hàng trung ương các nước - đặc biệt là các nước phát
triển đồng loạt thực hiện chính sách cắt giảm lãi suất - mở ra một chu kỳ điều
hành lãi suất mới. Từ tháng 9-1997 đến hết tháng 1-2008, FED đã 5 lần cắt giảm
lãi suất, đưa mức lãi suất cơ bản từ 5,25% xuống còn 3%. Đồng thời với việc cắt
giảm lãi suất cơ bản, FED cũng tiến hành cắt giảm lãi suất chiết khấu từ mức
6,25% xuống còn 5,75%. Tiếp sau Mỹ, ngân hàng trung ương Canađa cũng thực
hiện cắt giảm lãi suất cơ bản 0,25% xuống còn 4,25% vào ngày 4/12/2007.
2.2.Chính sách điều hành lãi suất của NHTW mỹ
2.1.1.Hệ thống dự trữ liên bang Mỹ
Hệ thống dự trữ liên bang (viết tắt là FED – Federal Reserve System) là một
tổ chức nhà nước của Mỹ, chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ của nước này
trong quá trình cung ứng tiền tệ.
FED ra đời dựa trên Luật dự trữ liên bang năm 1913, nhằm điều tiết những
mục tiêu về tối đa việc làm, ổn định giá cả và điều chỉnh lãi suất dài hạn. Cấu
trúc chính thức của Hệ thống dự trữ liên bang là nhằm phân rộng quyền lực theo
vùng lãnh thổ, giữa khu vực tư nhân và nhà nước; giữa các ngân hàng, giới kinh
doanh và công chúng.
2.1.2.Qúa trình điều chỉnh lãi suất
Từ 2001 đến hết tháng 1-2008, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã 35 lần
điều chỉnh lãi suất, trong đó, mỗi đợt tăng giảm lãi suất cơ bản đều có quan hệ
chặt chẽ với những biến động của kinh tế toàn cầu và có ảnh hưởng lớn đến hoạt
động điều hành chính sách tiền tệ của các nước trên thế giới.
Qua Biểu đồ 1, ta thấy sự tăng/giảm của lãi suất chủ đạo mà FED điều chỉnh
tác động vào giá trị đồng đôla từ đó để thực thi chính sách điều hành nền kinh tế
của mình.
Trang 7
Tiền tệ ngân hàng
Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/11/05/2108/
Cùng với sự thăng trầm của lãi suất, diễn biến của đồng USD trong thời gian
qua vô cùng phức tạp. Từ năm 2001, lãi suất chủ đạo của nền kinh tế Mỹ bắt đầu
giảm mạnh và giữ mức 1-2% từ 6 tháng cuối năm 2001 đến cuối năm 2003.
Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/11/05/2108/
Cuối quý I.2005 sau khi FED tiếp tục nâng lãi suất đồng USD lên 0,25%, đạt
mức mới là 2,75% vào ngày 22.3.2005. Kết quả là đồng USD đã liên tiếp tăng
giá tới 4% so với đồng Euro, bảng Anh, đồng Yên Nhật.
Đầu năm 2005 với chính sách một đồng đôla mạnh, nổ lực tiếp tục thắt chặt
chính sách tiền tệ, thắt chặt ngân sách và việc tăng lãi suất. Chỉ trong vòng 6
tháng đầu năm 2005, đồng USD đã tăng giá tới 13% so với đồng Euro, 7,5% so
với đồng bảng Anh và đồng Yên Nhật. Lý do đầu tiên cho cuộc phục hồi này là
do FED liên tục tăng lãi suất. Đến thời điểm bây giờ, tổng cộng FED đã tiến
hành 17 lần tăng lãi suất chủ đạo.
Bảng 2: Diễn biến lãi suất chỉ đạo của FED trong năm 2004-2006
Trang 8
Tiền tệ ngân hàng
Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/11/05/2108/
3.Chính sách điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương việt nam
3.1.Thực trạng lãi suất ở Việt Nam trong những năm gần đây
Lãi suất thị trường ổn định và tiếp tục xu hướng giảm dần:
- Thực trạng của nền kinh tế nước ta hiện nay đang phải đối mặt với áp lực
lạm phát và với sức phục hồi nền kinh tế còn thiếu vững chắc: Mặc dù tăng
trưởng kinh tế quí I/2010 đạt 5,83%, cao hơn nhiều mức tăng trưởng quí I/2009,
vốn đầu tư toàn xã hội tăng 26,23%, cao hơn rất nhiều mức tăng 9% của quý
I/2009, song nhập siêu vẫn ở mức đáng lo ngại (xuất khẩu đạt 14 tỷ USD, nhập
khẩu đạt 17,5 tỷ USD, nhập siêu đạt 3,5 tỷ USD), lạm phát tuy vẫn trong tầm
kiểm soát nhưng đang có xu hướng tăng trở lại.
- Cho đến thời điểm hiện nay, có thể thấy hệ thống ngân hàng Việt Nam đã
có sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt, đặc biệt trong việc ứng dụng các công
nghệ ngân hàng mới. Tuy nhiên, năng lực tài chính, năng lực quản trị, khả năng
cạnh tranh của các thành viên trên thị trường tài chính không đồng đều, tính bền
vững trong phát triển chưa cao: Xét trong hệ thống các tổ chức tín dụng với 73
ngân hàng và 08 tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ có một số ít các ngân hàng
thương mại có vốn điều lệ và tài sản có lớn. Riêng khối NHTM nhà nước (3
NHTM nhà nước, 2 NHTM mà trong đó Nhà nước chiếm cổ phần chi phối, 1
Ngân hàng Chính sách xã hội) vốn điều lệ đã chiếm 27,28% tổng vốn điều lệ
của cả khối, thị phần huy động vốn và cung cấp tín dụng khoảng 60%; mức
chênh lệch trong chiếm lĩnh thị phần của một ngân hàng lớn nhất với một ngân
hàng lớn kế tiếp là tương đối lớn. Mức độ lớn về vốn điều lệ và tài sản có quyết
định khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Đối với những ngân hàng có vốn nhỏ
vẫn có sức mạnh trong cạnh tranh thị trường, song với một cấu trúc thị trường
Trang 9
Tiền tệ ngân hàng
có tồn tại nhiều các NHTM có vốn và thị phần thấp thường nảy sinh những hành
vi hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh. Mặt khác, đối với nhóm
ngân hàng lớn, thông qua vị thế mạnh của mình trong hệ thống, những hành vi
chi phối thị trường của các ngân hàng này có thể gây ảnh hưởng tới tác động
tổng thể của chính sách NHNN nói chung và chính sách lãi suất nói riêng.
Tình trạng đua nhau tăng lãi suất cho vay và lãi suất huy động trong năm
2008 và những biểu hiện của thị trường những tháng đầu năm 2010 là sự biểu
hiện rõ nét của tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh. Khi NHNN thực hiện cơ
chế lãi suất thỏa thuận đối với cho vay trung hạn, các NHTM đã đẩy mức lãi
suất cho vay rất cao, khoảng 18%. Mức lãi suất này đã hạn chế khả năng mở
rộng tín dụng của các NHTM (mức tăng trưởng tín dụng quí I chỉ đạt 3,34%).
Trong quí I/2010, tăng trưởng tín dụng không cao, nguồn vốn vay của các
NHTM từ NHNN để đáp ứng thanh khoản tăng lên, điều đó cho thấy vốn của
các NHTM là không khan hiếm. Do vậy, với mức lãi suất huy động mà NHNN
đã khuyến cáo các NHTM cần thực hiện theo thỏa thuận của Hiệp hội Ngân
hàng là 10,5% và lạm phát mục tiêu của Chính phủ là 7% thì đã đảm bảo một
mức lãi suất thực hợp lý cho người gửi tiền, nhưng phản ứng của các NHTM là
vẫn đua nhau tăng mức lãi suất huy động cao hơn dưới nhiều hình thức. Những
hiện tượng này biểu hiện sự bất cập lớn của thị trường, nếu không có những biện
pháp ngăn chặn sẽ gây ra những bất ổn của hệ thống ngân hàng, từ đó có thể gây
ra khủng hoảng ngân hàng.
Trong cấu trúc thị trường hiện nay, còn có một đặc điểm ảnh hưởng không
nhỏ đến tính hiệu quả của tự do hóa lãi suất, đó là thị phần tín dụng áp dụng
mức lãi suất chính sách là không nhỏ. Ngoài các khoản vay áp dụng cơ chế hỗ
trợ lãi suất trong thời gian qua, thì chúng ta cũng có không ít các dự án, các lĩnh
vực sản xuất được áp dụng lãi suất ưu đãi được thực hiện thông qua Ngân hàng
Phát triển, Ngân hàng Chính sách xã hội, các dự án đầu tư phát triển được sử
dụng các nguồn vốn ưu đãi ODA khác nữa Các chính sách ưu đãi này là cần
thiết trong quá trình phát triển nền kinh tế hiện nay, nhưng ở chừng mực nào đó
nó làm giảm hiệu quả của chính sách tự do hóa lãi suất, vì khi đó lãi suất hình
thành trên thị trường chưa phản ánh đúng cung cầu vốn nên việc phân bổ nguồn
vốn qua công cụ lãi suất cũng bị méo mó.
- Các nhà đầu tư nắm bắt thông tin thị trường không đầy đủ, dẫn đến phản
ứng theo “bầy đàn” - là đặc điểm nổi bật của thị trường tài chính của Việt Nam
hiện nay. Đặc điểm này dễ gây nên những kỳ vọng về lạm phát trước bất cứ một
động thái chính sách kinh tế vĩ mô nào tạo tín hiệu áp lực lạm phát, nhất là chính
sách tiền tệ - một chính sách theo đuổi mục tiêu lạm phát là trụ cột.
- Về lý thuyết, khi cân nhắc lợi ích thu được từ các quyết định đầu tư, kinh
doanh, các chủ thể trong nền kinh tế thường sẽ quan tâm đến mức lãi suất thực
mà mình được nhận được là bao nhiêu. Nhìn vào thực tế của Việt Nam, hiện tại,
mức lãi suất thực mà người gửi tiền nhận được là mức lãi suất thực dương, trung
Trang 10
Tiền tệ ngân hàng
bình trong 3 tháng đầu năm 2010 khoảng 2,8% - chưa kể đến các hình thức
khuyến mại khác. Tuy nhiên, lãi suất thực đang có xu hướng giảm xuống bắt
đầu từ tháng 2 do ảnh hưởng của tốc độ gia tăng CPI. Và trong trường hợp này,
thường để theo đuổi mục tiêu lãi suất thực dương thì lãi suất danh nghĩa sẽ được
tăng dần lên. Như vậy có nghĩa là các NHTM sẽ vẫn có thể tăng lãi suất huy
động để cạnh tranh thu hút vốn nếu như NHNN dỡ bỏ trần lãi suất huy động vào
thời điểm này. Hơn nữa, với xu hướng này, một tín hiệu nâng lãi suất chính sách
có thể tạo ra kỳ vọng về lạm phát.
Mặt khác, xét về góc độ lãi suất thực tác động đến tăng trưởng kinh tế, thì
hiện nay, các nhà đầu tư vay vốn ngân hàng đang chịu một mức lãi suất thực
tương đối cao. Đánh giá tác động của lãi suất thực đến tăng trưởng kinh tế, theo
kết quả ước lượng mô hình đánh giá tác động của lãi suất thực lên tăng trưởng
kinh tế theo phương pháp OLS (41 quan sát từ quý I/2000 đến tháng 3/2010 với
mức ý nghĩa 10%) cho thấy khi lãi suất thực cho vay ngắn hạn tăng 1% sẽ làm
tăng trưởng kinh tế giảm 0,04% so với quý trước. Điều này là hoàn toàn phù hợp
với lý thuyết về mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất, đầu tư và tổng sản lượng
trong nền kinh tế. Tuy nhiên, ngoài lãi suất thực còn nhiều yếu tố khác tác động
lên tăng trưởng kinh tế, vì vậy, mức độ biến động của lãi suất thực mới chỉ giải
thích được 12,3% biến động của tăng trưởng kinh tế.
- Là một nền kinh tế đôla hóa, lãi suất đồng nội tệ, lãi suất ngoại tệ và tỷ giá
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, với mức chênh lệch quá lớn giữa lãi suất nội
tệ với lãi suất đồng ngoại tệ cộng với mức kỳ vọng về tỷ giá sẽ làm dịch chuyển
sự nắm giữ giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ của các thành viên trong thị
trường, điều này sẽ gây ra những rối loạn thị trường, tạo áp lực lên tỷ giá. Do
vậy, chính sách lãi suất tiền đồng cũng phải giải quyết hài hòa mối quan hệ này.
Trong năm 2009, vấn đề tỷ giá nổi lên như một điểm nhấn của sự ổn định, chính
sách lãi suất của NHNN cùng hàng loạt các chính sách khác (như yêu cầu các
tổng công ty lớn bán ngoại tệ cho NHNN, điều chỉnh tỷ giá công bố, điều chỉnh
dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, qui định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các
doanh nghiệp ) đã phải hướng tới sự ổn định này.
Theo báo cáo của NHNN, trong tháng 5/2010, lãi suất cho vay ngắn hạn
VND của nhóm các NHTM Nhà nước ở mức 13-14%/năm; trung và dài hạn ở
mức 13,5-14,5%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn VND của nhóm các NHTM cổ
phần là 14 – 14,5%/năm; trung và dài hạn ở mức 14,5-15,5%/năm; riêng đối với
cho vay sản xuất nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu mức lãi suất thấp hơn từ
0,5- 1%/năm.
Để có được những kết quả này, trong những tháng đầu năm 2010, NHNN đã
rất chủ động, khẩn trương và quyết liệt triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ổn
định lãi suất thị trường như: Yêu cầu các TCTD không được huy động vốn trên
thị trường liên ngân hàng vượt quá 20% tổng huy động vốn trên thị trường tín
dụng; thực hiện mua vào trên 1 tỉ đô la Mỹ từ tháng 4/2010 để tăng cường cho
quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia và tạo thanh khoản cho thị trường; tiếp tục hỗ trợ
Trang 11
Tiền tệ ngân hàng
thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở, SWAPS ngoại tệ, tái cấp vốn…
cho các TCTD để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn trên thị trường liên ngân
hàng; yêu cầu các TCTD báo cáo về lãi suất huy động và dư nợ cho vay ngoại tệ
cũng như đưa ra cảnh báo sẽ thanh tra các TCTD có lãi suất huy động vượt quá
12%/năm; phối hợp với Hiệp hội ngân hàng và chỉ đạo các NHTM nhà nước
tiếp tục nâng cao vị thế và giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn, từng bước
điều chỉnh giảm dần mặt bằng lãi suất cho phù hợp với diễn biến kinh tế và quy
luật thị trường… Chính những động thái điều hành chính sách tiền tệ cương
quyết, linh hoạt và đúng hướng đã đóng góp quan trọng vào việc ổn định các chỉ
số kinh tế vĩ mô. Theo thống kê, tăng trưởng kinh tế quý 1 đạt 5,83% (dự báo 6
tháng tăng trưởng trên 6%), tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 26,2%; CPI 5
tháng tăng 4,55% so với 31/12/2009 và tăng 8,76% so 5 tháng cùng kỳ năm
2009.
Đến nay, tăng trưởng tín dụng đã lấy lại nhịp độ bình thường: tháng 1 tăng
0,26%; tháng 2 tăng 2,09%, tháng 3 tăng 2,26%, tháng 4 tăng 1,64%, tháng 5
tăng 1,7%. Mặc dù nhiều ý kiến cho rằng 6 tháng đầu năm tăng trưởng tín dụng
đạt thấp so với chỉ tiêu định hướng cả năm là 25% nhưng trước bối cảnh hiện
nay của kinh tế trong nước và quốc tế, mức tăng trưởng tín dụng dự kiến 10,52%
trong 6 tháng đầu năm là tương đối hợp lý.
Cũng trong tháng 5/2010, Kho bạc Nhà nước đã tổ chức thành công 3 phiên
phát hành trái phiếu Chính phủ với kỳ hạn từ 3 - 5 năm, huy động được 8.125 tỉ
đồng, lãi suất 10,9%/năm trong đó đối tượng mua trái phiếu Chính phủ phần lớn
là các TCTD. Đây là những tín hiệu tích cực chuẩn bị cho việc hạ dần lãi suất,
bởi trái phiếu Chính phủ là chứng từ có giá để TCTD thế chấp vay vốn từ
NHNN với lãi suất 7%-8%/năm, kỳ hạn 7-28 ngày. Từ đó, các TCTD sẽ cân đối
nguồn vốn để hạ lãi suất huy động, kéo lãi suất cho vay đi xuống.
Theo ý kiến của hầu hết các chuyên gia kinh tế, lãi suất, tín dụng ngân hàng
hiện đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các TCTD và
doanh nghiệp hiện nay; chính vì vậy, việc Chính phủ chỉ đạo hệ thống ngân
hàng tiếp tục hạ thấp mặt bằng lãi suất nhằm giúp doanh nghiệp phát triển sản
xuất kinh doanh và những dấu hiệu tích cực về việc lãi suất tín dụng tiếp tục xu
hướng giảm có được từ cam kết đồng thuận của các TCTD đã tạo kỳ vọng và
động lực đáng kể cho nền kinh tế. Dự báo, lãi suất từ nay tới cuối năm lãi suất sẽ
tiếp tục giảm hơn nữa.

3.2.Qúa trình điều chỉnh lãi suất trong những năm gần đây
Cơ chế lãi suất của Việt Nam dần dịch chuyển từ kế hoạch hóa tập trung, tách
biệt với mặt bằng lãi suất của kinh tế thế giới sang điều chỉnh linh hoạt, từng
bước tự do hóa, hội nhập với hệ thống tài chính toàn cầu. Thời gian qua, cơ chế
điều hành lãi suất đã có những thay đổi căn bản, nhất là từ khi hệ thống ngân
hàng hai cấp được thiết lập
(1)
.
Cơ chế điều hành lãi suất trước năm 1996
Trang 12
Tiền tệ ngân hàng
NHTW can thiệp ở mức độ cao và trực tiếp vào lãi suất thông qua ấn định
mức lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay. Cơ chế lãi suất âm và mang nặng tính
chất bao cấp được duy trì suốt thời kì này với mức lãi suất cho vay đối với
doanh nghiệp nhà nước thấp hơn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
NHTW đã có nhiều bước điều chỉnh trong điều hành chính sách lãi suất:
chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương, xóa bỏ về cơ
bản sự chênh lệch lãi suất cho vay giữa các thành phần kinh tế, thay vì ấn định
mức lãi suất cụ thể bằng quản lí lãi suất theo một khung bao gồm lãi suất tối
thiểu về tiền gửi và lãi suất tối đa về tiền vay. Bắt đầu từ tháng 10/1993 trần lãi
suất cho vay có hai loại (1,8%/tháng đối với DNNN và 2,1%/tháng cho kinh tế
ngoài quốc doanh) và NHNH cho phép NHTM được thỏa thuận lãi suất với
khách hàng (áp dụng trong trường hợp huy động vốn bằng phát hành kì phiếu –
lãi suất huy động có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kì hạn 0,2%/tháng và
cho vay cao hơn mức trần 2,1%/tháng
Điều hành lãi suất giai đoạn 1996-2000
Trần lãi suất được điều hành linh hoạt trong thời kỳ từ năm 1996 đến tháng
7-2000. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã bước đầu thực hiện tự do hóa lãi
suất huy động. Thay thế cho khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và tối đa về tiền
vay, NHNN chỉ quy định các mức lãi suất "trần" theo thời hạn cho vay và khống
chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động vốn bình quân ở mức
0,35%/tháng (tương đương 4,2%/năm). Quy định này nhằm khắc phục tình trạng
hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi doanh
nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do biến động kinh tế khu vực và thế giới. Tới
cuối tháng 1-1998, quy định chênh lệch lãi suất được xóa bỏ, chỉ giữ lại quy
định trần lãi suất cho vay.
Song hành với việc nới lỏng kiểm soát lãi suất, NHNN liên tục điều chỉnh
trần lãi suất cho vay theo hướng giảm ngưỡng trần và mức khống chế, đặc biệt
trong hai năm 1998-1999. Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm để phù hợp
với chỉ số lạm phát, quan hệ cung – cầu vốn trên thị trường và thực hiện giải
pháp kích cầu của Chính phủ. Lãi suất tái cấp vốn năm 1997 là 1,1%/tháng,
giảm xuống còn 0,7%/tháng kể từ ngày 4-9-1999.
Các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá cho ngân hàng
thương mại cũng được đưa vào sử dụng để bổ sung thêm công cụ điều chỉnh lãi
suất. Lãi suất tái chiết khấu được qui định ở mức thấp hơn 0,05%/tháng so với
lãi suất tái cấp vốn. Từ tháng 7-2000, nghiệp vụ thị trường mở được áp dụng với
lãi suất hình thành qua các phiên giao dịch.
Trong một thời gian dài, từ cuối những năm 80 cho tới năm 2000, cơ chế lãi
suất của Việt Nam luôn cố gắng duy trì mức lãi suất thực dương – như một giải
pháp cho vấn đề lạm phát. Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được. Thậm chí,
có những thời điểm còn xuất hiện thiểu phát. Nếu chia lãi suất dương cho tỷ lệ
Trang 13
Tiền tệ ngân hàng
lạm phát thì tỷ lệ này rất cao… Năm 1999 là 5.350% và năm 2000 là trên
6.000% (2). Lãi suất cao, trong tương quan với các nền kinh tế khu vực, là cơ
hội tốt đầu tư vào trái phiếu Việt Nam trong thời kỳ này.
Cơ chế điều hành lãi suất với một mức cơ bản kèm biên độ dao động được
NHNN áp dụng kể từ tháng 8-2000 thay cho cơ chế lãi suất trần. Hai chỉ tiêu
này được công bố chính thức định kỳ hàng tháng và điều chỉnh kịp thời trong
trường hợp cần thiết. Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản, các ngân
hàng thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở
lãi suất thị trường quốc tế và cung – cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ.
Đây là nền tảng cho việc xác định điểm cân bằng tỷ giá theo cách tính sức mua
tương đương (PPP), từ đó, hình thành một cơ chế tự điều chỉnh.
Điều hành lãi suất từ sau năm 2000
Đến tháng 5-2001, NHNN từng bước chuyển sang áp dụng hình thức cho vay
bằng ngoại tệ. Và kể từ sau tháng 5-2002, cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp
dụng trong hoạt động tín dụng.
Trước sự vận động bất lợi của thị trường chứng khoán và lạm phát tăng cao
ngay từ đầu năm 2008, NHNN thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, sử dụng
đồng thời các công cụ lãi suất và hoạt động thị trường mở. Công cụ lãi suất được
phát huy tối đa, liên tục có điều chỉnh và triển khai quyết liệt. Từ giữa tháng 1-
2008, dự trữ bắt buộc đã tăng thêm 1% với tiền gửi nội tệ và ngoại tệ từ không
kỳ hạn tới dưới 12 tháng. Lãi suất tái cấp vốn cũng tăng gấp hai lần trong
khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6-2008. Mức lãi suất chiết khấu so với
cuối năm 2007 tăng thêm 8,5%, ở mức 13%/năm kể từ 10-6-2008. Thời điểm
này, NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 14%/năm. Với quy chế điều hành là
cho phép tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh không vượt quá 150% lãi
suất cơ bản, trần lãi suất cho vay lên tới 21%/năm. Đặc điểm đáng chú ý trong
giai đoạn các ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản này là lãi suất huy động
ngắn hạn bằng, thậm chí cao hơn lãi suất huy động dài hạn.
Năm 2008 chứng kiến sự biến động mạnh của lãi suất với sự điều hành chính
sách tiền tệ linh hoạt và uyển chuyển của NHNN. Nghiệp vụ thị trường mở được
thực hiện theo cả hai hướng mở rộng và thắt chặt tiền tệ đã không tạo tác động
đáng kể nào tới lãi suất. Trong tuần thứ ba của tháng 2-2008, NHNN bổ sung
33.000 tỉ đồng vào lưu thông nhưng các ngân hàng thương mại vẫn tiếp tục tăng
lãi suất huy động tiền gửi. Tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
(SHB), lãi suất huy động điều chỉnh 3 lần chỉ trong vòng 10 ngày và tăng lên
12,5%/năm với kỳ hạn 1 tháng. Thông báo phát hành 20.300 tỉ đồng tín phiếu
bắt buộc được đưa ra vào giữa tháng 2-2008 và thực hiện một tháng sau đó.
Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất đang đi lên, rất khó xác định ảnh hưởng của
nghiệp vụ này tới lãi suất. Trong tháng 6-2008, lãi suất huy động của các ngân
hàng thương mại tiến gần tới trần lãi suất cho vay. Ngày 30-6-2008, Ngân hàng
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét