Bài Tập
LỜI MỞ ĐẦU
Một xã hội phát triển toàn diện đòi hỏi không chỉ tăng trưởng kinh tế đơn thuần
mà còn cần tới sự phân phối công bằng hơn. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là
những vấn đề lớn mà bất cứ xã hội nào cũng đều phải quan tâm đến. Tăng trưởng nhanh
và thực hiện phân phối công bằng là những mục tiêu mà nhiều quốc gia đều mong muốn
đạt được. Giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập có sự liên quan mật thiết với
nhau. Tuy nhiên, cũng tồn tại nhiều cách nhìn nhận khác nhau đối với mối liên hệ này.
Do đó, cho đến nay chưa có một quốc gia nào xây dựng được một mô hình giải quyết
hoàn hảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Việt Nam là một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải
kết hợp chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội. Qua hơn 20 năm
đổi mới theo nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập vào khu vực và thế giới, Việt
Nam đã đạt được những thành tựu rất ấn tượng. Đó là tăng trưởng kinh tế cao so với
một số nước trong khu vực và thế giới, trong khi tỷ lệ đói nghèo ngày càng giảm. Việt
Nam ngày càng được biết đến như một nền kinh tế năng động hàng đầu trong các nước
đang phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế thị trường sẽ tạo ra sự
chênh lệch về trình độ và phát triển từ đó dẫn đến sự bất bình đẳng và nếu vượt quá một
giới hạn nào đó sẽ là một trong các nguyên nhân dẫn tới sự mất ổn định. Và
Việt Nam cũng không bị loại trừ khỏi quy luật đó, cùng với quá trình tăng trưởng kinh
tế, nhiều vấn đề của xã hội ngày càng trở nên bức xúc: khoảng cách thu nhập giữa các
tầng lớp dân cư ngày càng lớn, phân hoá giàu nghèo ngày càng gay gắt… Chính vì vậy,
yêu cầu của sự phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn đòi hỏi bức thiết trong việc
thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, đặc biệt là công bằng trong phân phối thu nhập.
Do đó việc nghiên cứu lý luận tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập trong nền kinh tế
thị trường và vận dụng vào Việt Nam là hết sức cần thiết, cấp bách và có ý nghĩa quan
trọng cả về lý luận và thực tiễn. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi
quyết định chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu
nhập: thực trạng và giải pháp ở Việt Nam. ”
Với đề tài này tôi chỉ tập trung nghiên cứu những lý thuyết về tăng trưởng, bất
bình đẳng và những tác động của tăng trưởng kinh tế đối với phân phối thu nhập, từ đó
liên hệ thực tiễn Việt Nam. Tôi hi vọng khi nắm vững được những cơ sở
lý thuyết này, có thể áp dụng vào nền kinh tế Việt Nam giúp các nhà quản lý đưa
ra các chính sách thích hợp để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế
Việt Nam.
Đề tài gồm có 3 mục tiêu sau:
1. Hệ thống húa lý thuyết về tác động của phân phối thu nhập
đến tăng trưởng kinh tế.
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 1 /
Bài Tập
2. Phân tích thực trạng kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và thực
hiện công bằng trong phân phối thu nhập ở Việt Nam trong
thời gian qua.
3. Đề xuất các chính sách cần thực hiện nhằm thúc đẩy kinh tế
tăng trưởng nhanh và bền vững đi đôi với việc thực hiện
công bằng xã hội.
Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu mà đề tài sử dụng là các phương pháp
nghiên cứu chung và đặc thù như phân tích tổng hợp, lụgớc và lịch sử
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 2 /
Bài Tập
PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ Lí LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẤT BèNH ĐẲNG THU NHẬP
1.1.Những vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế
1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất mà mọi quốc gia trên thế giới đều theo
đuổi là duy trì mức tăng trưởng kinh tế thích hợp. Nhận thức đúng đắn về tăng trưởng
kinh tế và sử dụng có hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính
sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng. Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng,
tăng trưởngkinh tế trước hết là một vấn đề kinh tế, song nú còn mang tính chính trị, xã
hội sâu sắc.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượng hay thu nhập thực tế được tính cho
toàn bộ nền kinh tế (của một quốc gia, một vùng hay một ngành) trong một khoảng thời
gian nhất định (thường là một năm). Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt
đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng). Trongphân tích kinh tế,
để phản ánh mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ tăng trưởng
kinh tế thường được dùng. Đó là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ
nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc.
1.1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế
Bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh
tế. Do đó nhìn chung, tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của mức
sản lượng quốc dân.
trong đó:
g
t
là tốc độ tăng trưởng của thời kỳ t.
Y là GDP thực tế của thời kỳ t.
GDP là thước đo được chấp nhận rộng rói về mức sản lượng của một nền kinh
tế.Ngoài ra tăng trưởng kinh tế còn được tính bằng phần trăm thay đổi của GDP thực tế
bình quân đầu người của thời kỳ nghiên cứu so với thời kỳ trước - thông thường tính
cho một năm.
trong đó:
g
pc
t
là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu người của thời kỳ t.
y là GDP thực tế bình quân đầu người.
1.1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
1.1.3.1.Nhân tố kinh tế
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 3 /
Bài Tập
Nhân tố kinh tế là những nhân tố tác động trực tiếp đến các biến đầu vào và đầu ra
của nền kinh tế. Các nhân tố kinh tế bao gồm 4 yếu tố chủ yếu: vốn, lao động, tài
nguyên thiên nhiên, tiến bộ công nghệ.
Vốn: là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng trưởng
kinh tế.Ở các nước đang phát triển sự đóng góp của vốn sản xuất vào tăng trưởng kinh
tế thường chiếm tỷ trọng cao nhất.
Lao động: là yếu tố đầu vàokhông thể thiếu của sản xuất.Trước đây chỉ quan
niệm lao động là yếu tố vật chất đầu vào,được xác định bằng số lượng dân số nguồn lao
độngmỗi quốc gia.Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đó nhấn mạnh
đến khía cạnhphi vật chất của lao động gọi là vốn nhân lực, đó là các lao động có kỹ
năng sản xuất,có sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế… Hiện nay
tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng góp bởi quy mô (số lượng)
lao động, còn yếu tố vốn con người có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng nguồn
nhân lực của các nước này còn thấp.
Tài nguyên thiên nhiờn: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, được đưa vào
sử dụng để tạo ra sản phẩm cho xã hội càng nhiều càng tốt nhưng phải đảm bảo chúng
được sử dụng có hiệu quả, không lóng phí. Việc sử dụng tài nguyên là vấn đề có
tính chiến lược, lựa chọn công nghệ để có thể sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên
quốc gia là vấn đề sốngcòn của phát triển. Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng
để phát triển kinh tế.Nú tạo điều kiện thuận lợi cho các nước được thiên nhiên ưu đãi có
được những lợi thế so sánh.Từ đó phát triển các mặt hàng là thế mạnh của nước mình.
Tiến bộ công nghệ là nhân tố tác động này càng mạnh đến tăng trưởng ở các nền
kinh tế ngày nay. Yếu tố công nghệ cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng: thứ nhất, đó là
những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa ra những
nguyên lý, thử nghiệm và cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ
hay thiết bị kỹ thuật; thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm
vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất.Công nghệ sản xuất
cho phépquá trình sản xuất có hiệu quả hơn. Công nghệ phát triển ngày càng nhanh
chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới
có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất.
1.1.3.2. Nhân tố phi kinh tế
Khác với các yếu tố kinh tế, các nhân tố phi kinh tế có tính chất và nội dung tác
động khác. Ảnh hưởng của chúng là gián tiếp và không thể lượng hoá cụ thể được mức
độ tác động của nú đến tăng trưởng kinh tế.Các nhân tố phi kinh tế không tác động một
cách riêng rẽ mà mang tính tổng hợp, đan xen, tất cả lồng vào nhau tạo nên tính chất
đồng thuận hay không đồng thuận trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Có
rất nhiều nhân tố phi kinh tế tác động đến tăng trưởng kinh tế như:
Đặc điểm văn hoá xã hội: đây là nhân tố quan trọng có tác động nhiều đến quá
trình phát triển.Nhân tố văn húa- xã hội bao trùm nhiều mặt, từ tri thức phổ thông đến
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 4 /
Bài Tập
những tích lũy tinh hoa của văn minh nhõn loại về khoa học, công nghệ, văn học, lối
sống, phong tục,tập quán, …Trình độ văn hoá mỗi dân tộc là một nhân tố cơ bản để tạo
ra các yếu tố về chất lượng lao động, của kỹ thuật,của trình độ quản lý kinh tế-xã hội.
Nhân tố thể chế chính trị-xã hội: Các nhân tố thể chế chính trị-xã hội được thừa
nhận tác động đến quá trình phát triển đất nước theo khía cạnh tạo dựng hành lang pháp
lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư. Một thể chế chính trị- xã hội ổn định và
mềm dẻo sẽ tạo điều kiện để đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với
những điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng. Ngược lại,
một thể chế không phù hợp sẽ gây ra cản trở, mất ổn định, thậm chí đi đến chỗ phá vỡ
những quan hệ cơ bản làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái hoặc gây ra xung
đột xã hội.
Vai trò của Nhà nước: Việc mở rộng kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự can
thiệp của Nhà nước. Bằng những công cụ chính sách của mình,Chính phủ đưa ra những
định hướng cơ bản về phát triển kinh tế và những hướng ưu tiên cần thiết cho từng thời
kỳ như có những chính sách duy trì công ăn, việc làm; thực hiện phân phối lại thu nhập
thông qua các loại thuế; thực hiện các hoạt động phúc lợi công cộng, bảo trợ xã hội
nhằm phát triển kinh tế một cách bền vững.
Ngoài ra còn có một số nhân tố như cơ cấu dân tộc, tôn giáo, sự tham gia của cộng
đồng…cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế tuỳ thuộc vào chính sách của chính
phủ. Nói chung, một đất nước càng đa dạng về thành phần tôn giáo và sắc tộc thì đất
nước càng tiềm ẩn bất ổn về chính trị và xung đột, bạo lực trong nước,thậm chí là các
cuộc nội chiến, dẫn tới tình trạng lãng phí các nguồn lực quý giá đáng ra phải sử dụng
để thúc đẩy các mục tiêu phát triển khác.
1. 2.Những vấn đề lý luận về bất bình đẳng thu nhập
1. 2.1. Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập
Bất bình đẳng xã hội là sự không ngang bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối
với những cá nhân khác nhau trong nhóm hoặc nhiều nhóm xã hội.Từ đó ta có thể hiểu
bất bình đẳng thu nhập là sự không ngang bằng nhau về thu nhập, của cải của những cá
nhân khác nhau trong xã hội.Bất bình đẳng về thu nhập tức là người giàu sẽ giàu hơn
còn người nghèo sẽ lạinghốo thêm. Sự phân phối thu nhập cho người giàu nhiều hơn
người nghèo.Người nghèo sẽ ít được hưởng lợi từ sự phát triển của xã hội và việc tiếp
cận về giáo dục và y tế đối với người nghèo sẽ ngày càng khó khăn.
1.2.2. Nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng thu nhập
1. 2.2.1.Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản
Trong nền kinh tế thị trường,một bộ phận thu nhập của các cá nhân được phân
phối theo sở hữu các nguồn lực.Tuỳ theo các yếu tố sản xuất mà mỗi người có được
cũng như việc định giá các yếu tố đó trên thị trường cạnh tranh mà chúng có ảnh hưởng
đến mức thu nhập của mỗi cá nhân.Cách phân phối như vậy gọi là phân phối theo sở
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 5 /
Bài Tập
hữu các nguồn lực hay còn gọi là phân phối thu nhập từ tài sản.Tài sản của mỗi cá nhân
có được là do nhiều nguồn hình thành khác nhau.
Thứ nhất, bất bình đẳng thu nhập do được thừa kế tài sản. Nhiều cá nhân sinh ra đã
là người giàu vì họ được thừa kế một tài sản lớn. Sự bất công về thu nhập do của cải
thừa kế tập trung vào tay một số ít người đã gây nhiều sự phản đối và một cách được
Chính phủ áp dụng để hạn chế sự bất bình đẳng này là đánh thuế cao vào tài sản thừa kế
và quà tặng.
Thứ hai, bất bình đẳng thu nhập do hành vi tiêu dùng và tiết kiệm khác nhau của các
cá nhân ảnh hưởng lớn đến sự khác nhau về của cải tích luỹ được. Có những người tiết
kiệm nhiều để tích lũy một lượng của cải khi về hưu, tức là thu nhập của họ sẽ tăng
trong tương lai so với những người sẵn sàng tiêu dùng hết trong hiện tại.
Thứ ba, bất bình đẳng thu nhập do kết quả kinh doanh. Thực tế cho thấy nhiều người
giàu có vốn lớn, họ giám chấp nhận rủi ro, mạnh dạn đầu tư kinh doanh vào những lĩnh
vực lợi nhuận cao đồng thời rủi ro cũng cao như đầu tư chứng khoán, bất động sản, …
thì họ càng giàu hơn và tạo ra sự bất bình đẳng thu nhập với những người nghèo không
có vốn làm ăn.
1.2.2.2.Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ lao động
Lao động là điều kiện cơ bản tạo ra thu nhập.Tuy nhiên với kỹ năng lao động, điều
kiện lao động và tính chất nghề nghiệp khác nhau sẽ dẫn đến thu nhập khác nhau.Một số
nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng thu nhập từ lao động như:
Khỏc nhau về khả năng và kỹ năng lao động dẫn đến khác nhau về thu nhập: Xu
hướng chung là những người có thể lực khỏe mạnh, có trình độ học vấn cao và có kỹ
năng lao động giỏi thì nhận được mức thu nhập cao hơn, những người nghèo là những
người có trình độ học vấn thấp nên ít cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định. Học vấn
thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến đầu tư, kinh doanh, giáo dục, sinh
đẻ…; điều đó không những ảnh hưởng đến thế hệ hiện tại mà cả thế hệ tương lai. Do
đó, Nhà nước cần có những chính sách đầu tư vào các lĩnh vực y tế, giáo dục.
Khác nhau về cường độ làm việc: Ngay cả khi cơ hội làm việc của các cá nhân là như
nhau nhưng cường độ làm việc của họ khác nhau thì cũng sẽ dẫn đến mức thu nhập
không bằng nhau
Khỏc nhau về nghề nghiệp và tính chất công việc: Đây là yếu tố quan trọng quyết
định sự khác biệt về tiền lương. Những công việc phổ thông đòi hỏi ít kỹ năng thường
được trả lương thấp; còn những công việc chuyên môn, có hàm lượng chất xám nhiều sẽ
được hưởng mức lương cao hơn.
Ngoài ra bất bình đẳng thu nhập từ lao động còn có những nguyên nhân khác như sự
phân biệt đối xử trong xã hội,xuất phát điểm của các cá nhân hay sự không hoàn hảo của
thị trường lao động, ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác đều có liên quan đến sự
khác biệt về tiền lương của các cá nhân, gây nên tình trạng chênh lệch thu nhập.
1.2.3. Đo lường bất bỡnh đẳng trong phân phối thu nhập
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 6 /
Bài Tập
Các thước đo bất bình đẳng phụ thuộc vào mức thu nhập/tiêu dùng trung bình trong
một nước và sự phân phối thu nhập/ tiêu dùng trung bình đó. Một số thước đo bất
bình đẳng thu nhập điển hình:
ngưỡng chi phí chuẩn của giáo dục. Vì vậy, đầu tư vào nguồn vốn nhân lực là thấp.
Và nếu tăng trưởng dựa vào đầu tư vào nguồn vốn nhân lực thì sự tăng trưởng cũng sẽ
rất thấp. Phân phối lại làm tăng tổng sản lượng và dẫn đến tăng trưởng bởi vì nú cho
phép người nghèo đầu tư vào nguồn vốn nhân lực. Nếu thị trường vốn có xu hướng cải
thiện như là một nền kinh tế phát triển, thì các hiệu ứng liên quan đến thị trường vốn-
không hoàn hảo trong những nền kinh tế còn nghèo sẽ quan trọng hơn trong những nền
kinh tế giàu có. Vì vậy, dự báo các tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế
trong những nền kinh tế còn yếu kém sẽ lớn hơn nhiều so với những nền kinh tế giàu
có.Lưu ý rằng thị trường tín dụng đối số hoàn hảo thực sự phù hợp hơn để giải thích
mối quan hệ giữa cộng đồng cũng như tỷ lệ đói nghèo và tăng trưởng kinh tế. Trong khi
sự bất bình đẳng cao không phải luôn luôn hàm ý rằng một phần lớn dân số là quá
nghèo để được tiếp cận đến tín dụng, tỷ lệ đói nghèo cao đồng nghĩa với việc có nhiều
người hơn bị hạn chế tín dụng. Ví dụ, tình trạng bất bình đẳng trong một nền kinh tế có
thể rất cao, cho dù tất cả mọi người trong nền kinh tế tương đối thỏa mãn đi chăng nữa.
Vì vậy, chúng ta nên mong đợi một mối quan hệ tiêu cực giữa tỷ lệ đói nghèo và tăng
trưởng kinh tế.
1.3.4. Lý thuyết liên kết của Benabou (1996)
Mô hình này cung cấp một khuôn khổ tích hợp trong đó các tác động của việc tái
phân phối đến sự tăng trưởng không nhất thiết là tuyến tính. Có tác động hai chiều: Tái
phân phối là tốt nếu công khai chi tiêu cho tài chính giáo dục trong một thế giới với thị
trường vốn không hoàn hảo, và sẽ là xấu nếu như nú chỉ chuyển khoản thu nhập từ
người giàu sang người nghèo vì nú làm giảm lợi nhuận ròng để đầu tư của những người
giàu. Do đó, tốc độ tăng trưởng là hình chữ “U ngược’ đối với tái phân phối và phân
phối là hình chữ U đối với bất bình đẳng.
1.3.5. Lý thuyết bất ổn định về chính trị xã hội của Alesina(1996); Benhabib và
Rustichini (1996); Grossman và Kim(1996); Fay (1993)
Mô hình này nhấn mạnh những hệ quả của sự bất bình đẳng đến sự bất ổn định
chính trị và tình trạng bất ổn định xã hội. Theo mô hình bất ổn kinh tế chính trị, bất bình
đẳng là một yếu tố quan trọng quyết định sự bất ổn của chính trị-xã hội. Và điều này đã
tác động tiêu cực đến tăng trưởng thấp hơn dự kiến thông qua đầu tư trở lại. Cụ thể,
mâu thuẫn bất bình đẳng xã hội trầm trọng thêm và lần lượt làm cho quyền sở hữu trở
nên ít an toàn hơn và làm giảm tăng trưởng. Hơn nữa, sự tham gia của người nghèo
trong công tác chống tội phạm và các hành động chống lại xã hội
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 7 /
Bài Tập
đã cho thấy sự lãng phí trực tiếp các nguồn lực. Vì thời gian và năng lượng của bọn
tội phạm này không dành cho những nỗ lực sản xuất. Nỗ lực phòng ngự của những nạn
nhân tiềm năng cũng là một đại diện thêm nữa cho sự mất mát của các nguồn tài
nguyên.
1.3.6. Lý thuyết đối với vấn đề sinh sản và giáo dục của Perotti (1996)
Theo mô hình kinh tế chính trị, bất bình đẳng có hiệu ứng tiêu cực đến tăng trưởng
kinh tế thông qua các biến dạng của các quyết định của hộ gia đình về giáo dục và sinh
sản. Cha mẹ có phải tối ưu húa việc sử dụng các nguồn lực của các hộ gia đình thông
qua sự cải tiến về chất lượng (giáo dục) hoặc số lượng (khả năng sinh sản) của con cái.
Kể từ khi giáo dục có chi phí bằng thu nhập đã được định trước tại trường học,các hộ
gia đình nghốo không đầu tư vốn con người. Do đó một xã hội mà trong đó có sự bất
bình đẳng cao sẽ có một số lượng tương đối lớn các hộ nghèo được đầu tư về số lượng
hơn là giáo dục. Tỷ lệ sinh cao của xã hội này cũng dẫn đến sự tăng trưởng thấp.
1.3.7. Lý thuyết so sánh xã hộicủa Knell (1998)
Mô hình này được xây dựng dựa trên mô hình Benabou (1996), trong đó so sánh
các cá nhân làm nên xã hội. Mô hình này được dựa trên giả định rằng hành vi tối đa húa
lợi ích cá nhân không phụ thuộc hoàn toàn vào tiêu dùng riêng mà còn trên mức tiêu thụ
trung bình của một số nhóm tham khảo. Trong một xã hội bất bình đẳng, hộ nghèo bị lôi
cuốn để phù hợp với các định mức và để đáp ứng các nhu cầu xã hội, mong đợi về các
hoạt động tiêu dùng cao hơn và do giảm đầu tư vào nguồn nhân lực để giảm khoảng
cách với các hộ gia đình giàu có. Tối đa húa các hoạt động phúc lợi hiện nay nhưng dẫn
đến tổn hại về phúc lợi xã hội và tăng trưởng trong tương lai.
Theo quan điểm hiện nay, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đặc biệt là hướng
tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo cho nền
kinh tế hoạt động hiệu quả hơn để có tăng trưởng nhanh hơn. Lý do cơ bản là để lấy thu
nhập của người giàu chuyển cho người nghèo, Chính phủ phải thực hiện các chính sách
tái phân phối thu nhập, ví dụ như thông qua hệ thống thuế thu nhập luỹ tiến và các
chương trình phúc lợi.
trong sử dụng vốn nhà nước vẫn còn xảy ra; công tác cải cách hành chính được thúc
đẩynhưng còn nhiều bất cập.
Hệ số ICOR của một số nước
Nước và vùng lãnh thổ Đầu tư/ GDP
(%)
Tăng trưởng
GDP (%)
ICOR
Việt Nam (2000- 2007) 38, 0 7, 6 5, 0
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 8 /
Bài Tập
Trung Quốc (1991- 2003) 39, 1 9, 5 4, 1
Đài Loan (1981- 1990) 21,9 8, 0 2, 7
Hàn Quốc (1981- 1990) 29, 6 9, 2 3, 2
Nhật Bản (1961- 1970) 32, 6 10, 2 3, 2
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu
tư
Năng suất lao động thấp
Năng suất lao động thấp do cơ cấu lao động theo ngành kinh tế chuyển dịch
chậm và chất lượng lao động còn thấp. Lực lượng lao động tuy đông về số lượng nhưng
chủ yếu là lao động phổ thong, ít qua đào tạo. Hiện tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề mới
chỉ chiếm khoảng gần 30%. Cơ cấu lao động mất cân đối, nhiều lao động trẻ được đào
tạo có trình độ kỹ thuật, có sức khỏe vẫn bị thất nghiệp. Chương trình đào tạo chưa đáp
ứng được yêu cầu của thị trường lao động, cơ cấu đào tạo thừa thầy thiếu thợ. Học sinh
học lý thuyết nhiều nhưng khả năng vận dụng thực tiễn rất yếu.
Mô hình tăng trưởng kinh tế nước ta trong thời gian qua dựa nhiều
tăng vốn đầu tư mà phần lớn là từ ngõn sách nhà nước và các tập đoàn, tổng công
ty nhà nước
Kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đầu tư, lúc cao nhất là 59% (năm
2000), lúc thấp nhất là 40% (năm 2007) nhưng đóng góp vào GDP lúc cao nhất chỉ là
40% (năm 1995) và đang trên đà sụt giảm, năm 2007 còn 36,4%. Thu ngân sách nhà
nước từ thu nội địa chỉ chiếm hơn 50%, còn lại là thu từ dầu thô và thuế xuất nhập khẩu.
Xuất khẩu chiếm tới 60% GDP của cả nước nhưng chủ yếu là hàng nguyên liệu, hàng
thô, hàng sơ chế, hàng gia công (chiếm tới ắ tổng kim ngạch xuất khẩu) do đó hiệu quả
kinh tế thấp.
Hiệu quả vốn đầu tư theo thành phần kinh tế
có thu nhập cao ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng thị trường tiêu
dùng, với sự gia tăng mạnh mẽ của lượng ô tô nhập khẩu, các mặt hàng tiêu dùng xa xỉ,
các dịch vụ giải trí cao cấp…, trong khi đó các hộ gia đình nghèo phải thắt chặt chi tiêu
trong bối cảnh lạm phát tăng cao làm xói mòn không ít thu nhập của họ. Tuy nhiên,
cũng cần phải nhìn nhận rằng bất bình đẳng này ở Việt Nam không phải là hiện tượng
người giàu giàu lên, người nghèo nghèo đi mà là người giàu ngày càng giàu nhanh hơn
người nghèo vì thực tế cho thấy ngay trong bối cảnh khoảng cách chênh lệch giàu nghèo
doóng ra thì thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo đã tăng lên và tỷ lệ hộ nghèo
đã giảm mạnh trong thời gian qua.
Tỷ trọng chi tiêu của các nhóm 20% ở Việt Nam
Năm Phần năm Phần năm Phần năm Phần năm Phần năm
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 9 /
Bài Tập
giàu nhất gần giàu nhất trung bình gần nghèo
nhất
nghèo nhất
1993 41, 78 21, 56 15, 99 12, 27 8, 41
1998 43, 30 21, 46 15, 57 10, 72 8, 05
2002 45, 90 20, 60 14, 60 11, 20 7, 80
2004 44, 68 21, 82 15, 20 11, 18 7, 12
2006 43, 30 22, 30 15, 80 11, 50 7, 20
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Điều tra mức sống dân cư từ 1993 đến 2006
Chúng ta cũng có thể xem xét thực trạng bất bình đẳng thu nhập qua hệ số Gini
Hệ số Gini theo chi tiêu: Theo tính toán của Tổng cục Thống kê Việt Nam, hệ số
Ginichung của nước ta tăng từ 0, 34 năm 1993 lên 0, 35 năm 1998 và 0,37 năm 2002; 0,
37 năm 2004và 0, 36 năm 2006 phản ánh sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng doóng
ra nhưng sự gia tăng giữa các năm không quá lớn và trong những năm gần đây dần dần
đã đi vào ổn định.Xét hệ số Gini theo thu nhập có xu hướng này càng tăng nhanh hơn:
tăng từ 0, 34 năm 1993 lên 0, 39 năm 1998 và 0, 43 năm 2006. Như vậy, hệ số Gini của
Việt Nam trong những năm vừa qua đã vượt qua giới hạn (0,2; 0,35) phản ánh tình trạng
bất bình đẳng của Việt Namđã gần qua ngưỡng tương đối bình đẳng và đáng báo
động trong tương lai nếu nhà nước không có những chính sách ngăn chặn từ bây giờ.
2.1.2.2. Bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn
Tăng trưởng kinh tế đã kéo theo tình trạng bất bình đẳng giữa khu vực thành thị
và nông thôn ngày càng tăng và sự gia tăng bất bình đẳng theo cả thu nhập và
đẳng.Khoảng cách giàu nghèo không chỉ gia tăng ở tầm quốc gia mà còn giữa vùng và
trong nội bộ mỗi vùng.
2.2. Đánh giá mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu
nhập ở Việt Nam
2.2.1.Thành tựu về tác động của tăng trưởng kinh tế đối với công bằng xã hội
2.2.1.2.Thu nhập thực tế bình quân đầu người tăng
Trong quá trình phát triển, nước ta đã đạt được những thành quả quan trọng về
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Kết quả của tăng trưởng kinh tế làm cho thu
nhập thực tế bình quân đầu người có sự gia tăng liên tục. Theo số liệu của Tổng cục
Thống kê, thu nhập bình quân một người một tháng của nhóm thu nhập cao nhất năm
2003 - 2004 tăng 304, 4 nghìn đồng, nhưng nhóm thu nhập thấp chỉ tăng 34, 1 nghìn
đồng, bằng 11% của nhóm thu nhập cao nhất. Từ năm 1999, thu nhập thực tế bình quân
đầu người đã tăng 1, 51 lần. Khu vực thành thị và nông thôn đều có sự gia tăng thu
nhập, tuy nhiên chênh lệch thu nhập bình quân giữa thành thị và nông thôn vẫn ở mức
hầu như không đổi, khoảng 2, 1 lần.Chênh lờch giữa vùng có thu nhập cao nhất là Đông
Nam Bộ với vùng có thu nhập thấp nhất là Trung du và miền núi phía Bắc là khoảng 2,
6 lần.
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 10 /
Bài Tập
Thu nhập thực tế bình quân đầu người
Đơn vị: (1000 đồng/ người/ tháng)
1999 2002 2004 2006
Cả nước 295 356 484 636
Phân theo thành thị và nông thôn
Thành thị 517 622 815 1058
Nông thôn 225 275 378 506
Phân theo vùng
Đồng bằng Sông Hồng 282 358 498 666
Trung du và miền núi phía Bắc 199 237 327 442
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 299 268 361 476
Tây Nguyên 345 244 390 522
Đông Nam Bộ 571 667 893 1146
Đồng bằng Sông Cửu Long 342 371 471 628
Nguồn: Niên giám Thống kê
học và công nghệ tuy có tăng lên nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ.GDP bình quân đầu
người thấp và tốc độ tăng chậm do dân số vẫn tăng cao, điều kiện để nâng cao mức sống
của người nghèo, người có thu nhập thấp vượt qua ngưỡng một nước nghèo, đặc biệt
đối với khu vực nông thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc còn khó khăn.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp đã ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng thu nhập.
Giảm nghèo chưa bền vững,nguy cơ tái nghèo cao
Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế tác động đến phân phối thu nhập công
bằng hơn đã phần nào xúa đói giảm nghèo cho người dân nhưng còn thiếu tính bền
vững, chủ yếu mới xúa tình trạng đói (nghèo về lương thực, thực phẩm), đa số hộ mới
thoát nghèo còn nằm sát chuẩn nghèo, những cá nhân và hộ gia đình này rất dễ bị tổn
thương nếu những cú sốc kinh tế xảy ra do các yếu tố bên ngoài hoặc trong nước gây
ra nên nguy cơ tái nghèo cao, tỷ lệ tái nghèo lớn (7-10% trong tổng số hộ mới thoát
nghèo). Mặt khác, không ít hộ có mức thu nhập thấp không ổn định nằm giáp ranh
chuẩn nghèo đói cũng có nguy cơ tái nghèo đói cao (chiếm 70-80%).
Tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại, tỷ lệ nghèo còn cao
Tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại do tác động của tăng trưởng kinh tế đến
giảm nghèo giảm đi: hệ số co giãn giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo giảm từ 1-0,
7 giai đoạn 1992 - 1998 xuống còn khoảng 1-0, 3 giai đoạn 1998 - 2005, đặc biệt là ở
các vùng bị chia cắt địa lý, cơ sở hạ tầng còn yếu kém và dân trí chưa phát triển. Nghèo
đói vẫn còn đang phổ biến, số hộ nghèo là dân tộc thiểu số đã giảm nhưng tỷ lệ trong
tổng số hộ nghèo của cả nước vẫn tăng lên theo chuẩn nghèo mới của quốc gia đến cuối
năm 2007, tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước vẫn còn khoảng 14,87%; nhóm dân tộc có tỷ lệ
nghèo cao là Vân Kiều (60,3%), Pakụ (58,5%) và H’mụng vào năm 2003. Tình trạng
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 11 /
Bài Tập
nghèo dai dẳng ở nông thôn phổ biến đối với người chỉ có việc làm nông nghiệp, thu
nhập từ hoạt động nông nghiệp là chính. Đó cũng là hộ gia đình đông nhân khẩu và
đông con, chủ hộ có trình độ học vấn thấp. Đối với những hộ nghèo này thì việc bứt phá
xa khỏi ngưỡng nghèo là rất khó khăn và là thách thức lớn cho chính sách xúa đói giảm
nghèo.
Những lợi ích mà quá trình tăng trưởng đem lại đã không được phân bố
đồng đều giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, chênh lệch về thu nhập có xu
hướng gia tăng
Một phần lớn thu nhập được chuyển sang cho những người sở hữu các nguồn lực
khác ngoài lao động thay vì chuyển một phần thỏa đáng cho những người sở
chính sách giải quyết một số vấn đề xã hội" theo nghĩa hẹp của thuật ngữ " chính sách
xã hội", bên cạnh các chính sách cụ thể đối với các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc,
tôn giáo,
Tại Đại hội IX của Đảng, quan điểm về kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội được nêu rõ: " Đường lối kinh tế của Đảng ta là: đẩy mạnh công
nghiệp húa, hiện đại húa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành
một nước công nghiệp… tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn húa, từng bước
cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội… ". Gắn bó các yếu tố kinh tế - xã hội, đặt nội dung " giải quyết tốt các vấn đề xã
hội" trong tổng thể " Đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội" đã thể hiện một
bước phát triển mới trong nhận thức, lý luận của Đảng ta về sự kết hợp tăng trưởng kinh
tế với tiến bộ, công bằng xã hội.Về chính sách xã hội đã được cụ thể húa thêm: " Thực
hiện chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh húa xã hội, thực hiện công
bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao
động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm
giàu hợp pháp". Và một số chính sách được đề cập đến gồm: giải quyết việc làm, cải
thiện điều kiện làm việc cho người lao động; cải cách cơ bản chế độ tiền lương của cán
bộ, công chức theo hướng tiền tệ húa đầy đủ tiền lương; thực hiện chương trình xúa đói
giảm nghèo; thực hiện các chính sách ưu đãi xã hội, chính sách dân số nhằm chủ động
kiểm soát quy mô và nâng cao chất lượng dân số; thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ
và chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe,
chính sách trợ cấp, bảo hiểm y tế cho người nghèo
Trên cơ sở khái quát những thành tựu và hạn chế của hơn 20 năm đổi mới, trong
đó có thành tựu và hạn chế của việc xây dựng và phát triển các vấn đề xã hội, Đại hội X
của Đảng khẳng định quan điểm “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội
trong phạm vi cả nước, từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã
hội trên cơ sở phát triển kinh tế…”. Nội dung chủ yếu của quan điểm Đại hội X là:Thứ
nhất, kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trên bình diện cả nước cũng
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 12 /
Bài Tập
như từng lĩnh vực, địa phương. Sự kết hợp này đảm bảo tính đồng bộ, công bằng và
bình đẳng cho mọi người dân, mọi vùng miền; khắc phục tình trạng phân húa, bất bình
đẳng do các khuyết tật của cơ chế thị trường và những phát sinh do nền kinh tế trong
quá trình chuyển đổi gây ra.Thứ hai, thực
của họ. Nhưng vấn đề phát sinh là khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội và sản xuất của
họ vào đời sống thành thị lại bị hạn chế. Những hiện tượng này dẫn đến hậu quả xã hội
là vấn đề nghèo tương đối ngày càng nghiêm trọng và phân hoá giàu nghèo gia tăng ở
khu vực thành thị. Do đó, Nhà nước cần phải thực hiện những chính sách có mục tiêu để
hạn chế những mặt tiêu cực và bảo vệ những người di dân từ những rủi ro.Nhà nước cần
phải xúa bỏ những hạn chế tiếp cận dịch vụ công chính đáng của người nhập, đồng
thời cần nhanh chóng có giải pháp cho vấn đề nhà ở, điều kiện sinh hoạt, … đảm
bảo cho những người di cư có cơ hội được hưởng một cuộc sống chấp nhận được.
3.2.4. Thực hiện chính sáchan sinh xã hội đối với những khu vực kém phát
triển và đối với người nghốo
Thực tế, khi mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng càng gắn kết thì vai trò
của chính sách xã hội đối với quá trình tăng trưởng và giảm bất bình đẳng cần đặc biệt
chú trọng hơn. Các chính sách xã hội của Nhà nước cần hướng tới xõy dựng hệ thống
an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt, bao gồm hệ thống bảo hiểm xã hội; thị trường lao động
tích cực và thụ động; trợ giúp xã hội; chương trình giảm nghèo , và trong quá trình
thực hiện cần đặc biệt chú trọng đầu tư vào các khu vực kém phát triển, quan tâm đến
người nghèo. Điều này có thể thực hiện thông qua nhiều kênh: các chương trình trợ giúp
về phát triển cơ sở hạ tầng, các trợ giúp về tín dụng, đất đai, dạy nghề, tạo việc làm,
truyền đạt kinh nghiệm sản xuất; các ưu đãi về y tế, giáo dục, văn húa, nhà ở; cân đối
các khoản giải ngân ODA cũng cần hướng đến các tỉnh vùng sâu, vùng xa, vùng khó
khăn.Do vậy, trong quá trình tăng trưởng kinh tế, cần kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ
các chỉ tiêu phát triển xã hội, trong đó trọng tâm là xúa đói giảm nghèo, giảm bất bình
đẳng và nhấn mạnh ngày càng nhiều hơn đến yêu cầu giải quyết các nội dung này trong
các chính sách và giải pháp tăng trưởng.
3.2.5. Việt Nam cần phải cải cách chính sách phân phối tài sản, thu nhập
trong nền kinh tế theo hướng phải đảm bảo công bằng, hướng đến người nghèo
Nhà nước cần đưa ra và áp dụng các biện pháp để hạn chế tình trạng bất bình đẳng tài
sản từ những hoạt động không phải từ sản xuất kinh doanh như: thực hiện bắt buộc về
kê khai tài sản đối với cán bộ công chức; nghiên cứu và áp dụng các loại thuế thừa kế tài
sản, thuế tài sản, thuế vốn… trong thời gian tới.Đối với tiếp cận nguồn lực cho phát
triển kinh tế, cần sớm khắc phục tình trạng thiếu công bằng
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 13 /
Bài Tập
trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn lực, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế, các tổng công
ty nhà nước đang dễ tiếp cận và trên thực tế đang nắm giữ và sử dụng khối lượng nguồn
lực rất lớn, nhưng kết quả hoạt động đem lại không ngang tầm, thậm chí hiệu quả đang
thấp nhất so với các loại hình doanh nghiệp khác. Thực hiện tốt những điều chỉnh quyết
liệt, công khai minh bạch đối với " nhóm lợi ích" này là biện pháp hữu hiệu để sớm tạo
ra sự bình đẳng thực sự giữa các chủ thể kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thực tế cho thấy, sự bình đẳng về cơ hội quan trọng hơn sự bình đẳng về thu nhập. Do
vậy, Nhà nước cần bảo vệ các quyền đảm bảo cho mọi người có cơ hội như nhau trong
việc sử dụng cơ hội phát triểnvà đạt được thành công.
3.2.6. Cần tăng cường vai trò của Nhà nước trong các chính sáchđịnh hướng
phát triển kinh tế thị trường đảm bảo tăng trưởng bền vững đồng thời giảm bất
bình đẳng thu nhập
Để thực hiện được tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo công bằng xã hội trong
nền kinh tế thị trường, vai trò quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước là hết sức
quan trọng. Nhà nước phải biết tận dụng mặt mạnh của cơ chế thị trường để giải phóng,
phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời Nhà nước phải kết hợp sử
dụng có hiệu quả các công cụ pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sức mạnh của
khu vực kinh tế Nhà nước để khắc phục những thất bại của cơ chế thị trường nhằm thỳc
đẩy cơ chế tăng trưởng bền vững, đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ lợi ích chính
đáng của mọi tầng lớp nhân dân.
KẾT LUẬN
Việt Nam luôn được đánh giá là một nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và
phân phối thu nhập tương đối công bằng. Từ những phân tích về mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn, có
lẽ chúng ta nên có cách nhìn lại về tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam hiện
nay.Tuy nền kinh tế tăng trưởng nhanh, quy mô thu nhập kinh tế quốc dân cũng tăng lên
nhưng tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng cao chưa phù hợp với mô
hình phát triển kinh tế của Việt Nam: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với giảm bất bình
đẳng” và chưa thực hiện được mục tiêu tăng trưởng gắn với đảm bảo công bằng xã
hội.Để giải quyết hợp lý mối quan hệ này, việc phân phối thu nhập cần có sự kết hợp
giữa thị trường và Nhà nước. Nhà nước cần có những chính sách tích cực đảm bảo vừa
tăng trưởng vừa giảm tình trạng bất bình đẳng thu nhập. Nhà nước có thể thông qua
chính sách thuế để phân phối lại thu nhập, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các
vùng, giữa thành thị và nông thôn, đặc biệt cần có những chính sách phát triển kinh tế ở
các vùng dõn tộc thiểu số bằng các chính sách phân phối hợp lý.Từ đó mới đảm bảo
được nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng bền vững.
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hiền 14 /
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét