Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Một số giải pháp góp phần phát triển hoạt động cung cấp dịch vụ Ngân hàng nhằm tăng thêm thu nhập tạI NHCT_HBT

ở Việt Nam điều 20 Luật các Tổ chức Tín dụng có hiệu lực thi hành
ngày 01/10/2000 quy định Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng đợc thực
hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên
quan
Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thờng xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Mặc dù có rất nhiều định nghĩa, nhiều cách thể hiện nhng khi phân
tích và khai thác nội dung ta dễ dàng nhận thấy các Ngân hàng thơng mại đều
có chung tính chất đó là nhận tiền gửi ký thác (tiền gửi không kỳ hạn và tiền
gửi có kỳ hạn ) để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch
vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng

Trong bớc chuyển đổi sang kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà n-
ớc Ngân hàng thơng mại và cơ cấu hoạt động của nó đóng vai trò quan trọng
trong thể chế tài chính của mỗi quốc gia.

2.2: Chức năng và vai trò của Ngân hàng Thơng mại trong nền kinh
tế.
*Chức năng là trung gian tín dụng
X
uất phát từ điểm tuần hoàn của vốn tiền tệ trong quá trình tuần hoàn vốn xã hội
đã phát sinh hiện tợng cùng một lúc có những doanh nghiệp, tổ chức kinh tế,
cá nhân có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi cha sử dụng đến. Ngợc lại có những
doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh tế và các chủ thể khác lại có nhu cầu về
vốn để bổ xung vào sản xuất kinh doanh. Mâu thuẫn này cần đợc giải quyết để
tăng hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế và đợc thoả mãn bằng quan hệ tín
dụng trực tiếp hoặc gián tiếp. Nhng quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các chủ thể
gặp nhiều hạn chế vì các chủ thể khó biết đợc nhu cầu và khả năng về vốn của
nhau. Hơn nữa giữa họ khó có đủ sự tin tởng để thực hiện quan hệ chuyển nh-
ợng vốn cho nhau.
5
Để khắc phục hạn chế này Ngân hàng thơng mại đứng ra làm chiếc
cầu nối giữa ngời có vốn và ngời cần vốn



(ngời thừa vốn) (ngời thiếu vốn)
1. Gửi tiền, uỷ thácđầu t 3. Cho vay, đầu t
2.Chứng chỉ tiền gửi 4. Trái phiếu, cổ phiếu
Ngân hàng thơng mại huy động vốn bằng cách phát hành các chứng chỉ tiền
gửi thu hút lợng tiền nhàn rỗi trong xã hội.Những chứng chỉ tiền gửi do Ngân
hàng phát hành hấp dẫn ngời đầu t hơn nhiều so với các cổ phiếu, trái phiếu
của các công ty (nhất là trong điều kiện thị trờng chứng khoán cha phát triển
nh ở Việt Nam). Bởi vì nó ít chịu rủi ro giá cả, tính thanh khoản cao, lại không
phải mất chi phí giám sát hoạt động của các công ty. Trên cơ sở nguồn vốn
huy động đợc các Ngân hàng sử dụng để cho vay hoặc đầu t vào các công ty
bằng cách mua cổ phiếu trái phiếu do các công ty phát hành từ đó đáp ứng
nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế. Nh vậy Ngân hàng là môi giới trung
gian giữa ngời đi vay và ngời cho vay mà thực chất Ngân hàng thực hiện
nghiệp vụ kinh doanh bằng việc đi vay để cho vay. Ngân hàng thực hiện đợc
chức năng này vì Ngân hàng là một cơ quan chuyên trách, chuyên kinh doanh
về tiền tệ, tín dụng có khả năng nhận biết đợc tình hình cung cầu về tín dụng.
Đó là nơi khách hàng có thể tin tởng trong việc gửi tiền. Thông qua việc thu
hút tiền gửi với khối lợng lớn Ngân hàng có thể giải quyết mối quan hệ giữa
cung và cầu tiền tệ cả về khối lợng vốn và thời hạn.
Với chức năng này Ngân hàng Thơng mại tạo lợi ích cho các bên trong
quan hệ là ngời gửi tiền, ngời đi vay, Ngân hàng và đảm bảo lợi ích cho nền
kinh tế
6
Cá nhân
Doanh
nghiệp
Các tổ
chức kinh
tế
Ngân
Hàng
Thương
Mại
Cá nhân
doanh
nghiệp
Các tổ chức
kinh tế
Đây là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thơng mại vì nó phản
ánh bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay, nó quyết định sự duy trì và
phát triển của ngân hàng đồng thời nó tạo tiền đề cho các chức năng khác của
Ngân hàng.

*Chức năng trung gian thanh toán
rên cơ sở nhận tiền gửi của khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán
theo yêu cầu của khách hàng nh trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để
thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hay nhập vào tài khoản tiền gửi đó tiền thu
bán hàng và các khoản thu khác. ở đây Ngân hàng đóng vai trò là "ngời thủ
quỹ" cho khách hàng. Nền kinh tế càng phát triển thì việc thanh toán qua ngân
hàng ngày càng mở rộng.
T

Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở nó thực
hiện chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi ngân
hàng mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu chi theo
lệnh của chủ tài khoản. Đó chính là cơ sở cho khách hàng thực hiện thanh toán
qua ngân hàng đặt ngân hàng vào vị trí trung gian thanh toán. Hơn nữa hàng
ngày nền kinh tế xuất hiện hàng loạt các quan hệ giao dịch với khối lợng các
khoản thanh toán lớn. Nếu việc thanh toán đợc thực hiện bằng tiền mặt trực
tiếp sẽ dẫn đến các khoản chi phí nh in ấn vận chuyển bảo quản tiền mặt tăng
lên. Đặc biệt khách hàng giao dịch ở cách xa nhau có khi gặp rủi ro mất tiền
trong quá trình thực hiện thanh toán .Điều đó đã tạo nên nhu cầu khách hàng
thực hiện thanh toán qua Ngân hàng.
Ngân hàng Thơng mại thực hiện chức năng này có ý nghĩa rất lớn đối
với nền kinh tế. Nó cung cấp cho khách hàng nhiều công cụ thanh toán nh : uỷ
nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc, thẻ thanh toán.v.v. giúp cho các chủ thể kinh tế
không phải giữ tiền hoặc mang theo tiền trong giao dịch thanh toán. Từ đó
giảm lợng tiền mặt trong lu thông, góp phần đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc
độ luân chuyển vốn tiết kiệm chi phí in ấn vận chuyển bảo quản tiền mặt
7
Với bản thân Ngân hàng chức năng này góp phần tăng lợi nhuận thông
qua việc thu lệ phí thanh toán. Ngoài ra còn làm tăng nguồn vốn cho vay của
Ngân hàng. Nhìn vào hệ thống thanh toán của Ngân hàng thơng mại ngời ta có
thể đánh giá ngay đợc hoạt động của ngân hàng đó có hiệu quả không. Nó còn
là cơ sở thực hiện chức năng tạo tiền của Ngân hàng thơng mại.
* Chức năng tạo tiền

hi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng hình thành nên ngân hàng
phát hành và Ngân hàng thơng mại thì các ngân hàng thơng mại không
còn thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng. Nhng với chức năng
trung gian tín dụng và trung gian thanh toán Ngân hàng thơng mại có khả
năng tạo ra tiền ghi sổ thực hiện trên tài khoản thanh toán của khách hàng tại
Ngân hàng thơng mại. Đây chính là một bộ phận của lợng tiền giao dịch
K
Từ một khoản tiền gửi ban đầu vào một ngân hàng thông qua hành vi cho
vay bằng chuyển khoản kết hợp với thanh toán không dùng tiền mặt. Hệ thống
ngân hàng thơng mại có khả năng tạo nên số tiền gửi gấp nhiều lần số tiền gửi
ban đầu. Khả năng mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi. Hệ
số này chịu tác động của tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ d thừa và tỉ lệ tiền
mặt so với tiền gửi thanh toán.
Gỉa sử trong điều kiện không có khoản thanh toán nào bằng tiền mặt,
không có khách hàng nào rút tiền hoặc vay bằng tiền mặt, và tất cả các ngân
hàng đều cho vay bằng chuyển khoản hết quỹ cho vay của ngân hàng thì hệ số
mở rộng tiền gửi đợc tính theo công thức:
1
H = (H:hệ số mở rộng tiền gửi)
Tỷlệ dự trữ bắt buộc
Khi dự trữ bắt buộc là 10% thì hệ số mở rộng tiền gửi là 10. Nghĩa là hệ
8
thống ngân hàng thơng mại có khả năng mở rộng tiền gửi gấp 10 lần tiền gửi
ban đầu

Trong thực tế thì không xảy ra trờng hợp trên mà khả năng tạo tiền của
ngân hàng luôn bị giới hạn bởi dự trữ d thừa,và tỉ lệ rút tiền mặt của công
chúng.Nghĩa là nếu một khách hàng nào đó rút tiền mặt hay vay tiền mặt để
thanh toán thì quá trình tạo tiền sẽ chấm dứt hoặc nếu khách hàng rút hay vay
một phần bằng tiền mặt để thanh toán hoặc ngân hàng không cho vay hết quỹ
cho vay thì khả năng mở rộng tiền gửi cũng giảm đi.
Vậy hệ số mở rộng tiền gửi của ngân hàng thơng mại trong thực tế đợc
tính theo công thức :
1
H =
Tỷ lệ dự trữ Tỷ lệ rút tiền mặt Tỷ lệ dự
bắt buộc + so với tiền gửi thanh toán + trữ d thừa
Nh vậy khả năng mở rộng tiền gửi của các Ngân hàng thơng mại phải
đợc thực hiện trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa nghiệp vụ cho vay và nghiệp vụ
thanh toán không dùng tiền mặt. Do đó đòi hỏi ngân hàng ngày càng hiện đại
hoá hệ thống thanh toán để tạo thành thói quen thanh toán qua ngân hàng.
Đồng thời tận dụng quỹ cho vay để giảm đến mức thấp nhất các khoản dự trữ
d thừa.

Mặt khác khả năng tạo tiền của Ngân hàng thơng mại có thể mang rủi
ro đến cho ngân hàng khi khách hàng có nhu cầu rút vốn ồ ạt mà ngân hàng lại
thiếu phơng tiện thanh toán tiền mặt. Để giảm rủi ro ngân hàng thơng mại
phải gửi tiền vào tài khoản của mình mở tại Ngân hàng Trung ơng và tham gia
thanh toán ra ngoài hệ thống của mình.
Chức năng tạo tiền có ý nghĩa kinh tế to lớn. Thông qua hoạt động
này làm cho nguồn vốn Ngân hàng Thơng mại tăng lên tạo điều kiện thanh
toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế.

9
Hoạt động ngân hàng cùng với các chức năng của nó thể hiện sự phát
triển về mặt tài chính nói riêng và sự phát triển nền kinh tế nói chung của mỗi
quốc gia. Qua các chức năng vị trí vai trò của ngân hàngthơng mại đợc thể
hiện:
Thứ nhất Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế :

Vốn đợc tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân doanh
nghiệp và nhà nuớc trong nền kinh tế. Muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập
quốc dân, giảm nhịp độ tiêu dùng. Mà tăng thu nhập quốc dân tức là mở rộng
qui mô cả chiều sâu lẫn chiều rộng của sản xuất và lu thông hàng hoá. Để đẩy
mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế cần thiết phải có vốn và
ngợc lại khi nền kinh tế tăng trởng sẽ tạo ra nhiều vốn. Và Ngân hàng thơng
mại qua nghiệp vụ huy động vốn và cho vay sẽ là chủ đề chính đáp ứng nhu
cầu vốn cho sản xuất kinh doanh
Ta thử hình dung trong một thế giới giản đơn không tồn tại ngân hàng
thì các khoản tiết kiệm của dân chúng chỉ có thể sử dụng hoặc dới dạng tiền
mặt hoặc dới dạng đầu t chứng khoán vào các công ty. Nhng quy mô luồng
vốn vào các công ty nhìn chung là thấp do ngời thừa vốn phải mất chi phí rất
lớn để có thể giám sát hoạt động của các công ty hay chi phí chuyển nhợng
chứng khoán công ty và rủi ro biến động giá cả chứng khoán trên thị trờng
cao". Đó là nguyên nhân khiến dân chúng giảm động lực tiết kiệm tăng tiêu
dùng hoặc tiết kiệm dới dạng tiền mặt hoặc vật chất.

Tuy nhiên chúng ta đang sống trong một thế giới mà ở đó hệ thống ngân
hàng phát triển mạnh mẽ và đọc coi là bộ xơng sống của nền kinh tế. Hệ thống
Ngân hàng sẽ cung cấp kênh dẫn vốn từ ngời có nhu cầu đầu t đến các công ty
bằng cách Ngân hàng thơng mại đứng ra huy động vốn nhàn rỗi và tạm thời
nhàn rỗi của mọi tổ chức cá nhân, các thành phần kinh tế. Vốn huy động đợc
trong xã hội qua nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng thơng mại đã cung cấp vốn cho
mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng các nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá
trình tái sản xuất nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
10
Thứ hai Ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp với thị trờng
Trong cơ chế thị trờng hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động
mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan nh quy luật giá trị, quy luật cạnh
tranh, quy luật cung cầu, sản xuất dựa trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trờng trên
mọi phơng diện. Hoạt động của các doanh nghiệp phải đạt hiệu quả kinh tế
nhất định theo quy luật chung của thị trờng thì mới đảm bảo đứng vững trong
cạnh tranh.Để đáp ứng đợc yêu cầu đó thì doanh nghiệp không những nâng cao
chất lợng lao động, củng cố hoàn thiện cơ chế quản lý mà còn mở rộng quy mô
sản xuất, cải tiến máy móc công trình, áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản
xuất kinh doanh. Những đòi hỏi đó cần phải có một lựơng vốn đầu t lớn nhiều
khi vợt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Để giải quyết khó khăn này
doanh nghiệp tìm đến Ngân hàng để xin vay vốn. Thông qua hoạt động tín
dụng Ngân hàng là chiếc cầu nối" giữa doanh nghiệp và thị trờng. Vốn của
Ngân hàng gián tiếp giúp doanh nghiệp thoả mãn nhu cầu thị trờng từ đó tạo
chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Ngoài ra doanh nghiệp thông qua việc thực hiện các dịch vụ thanh toán
cho nền kinh tế đã thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá, luân chuyển vốn
trong xã hội, tiết kiệm chi phí thanh toán cho từng cá nhân, doanh nghiệp,
nâng cao hiệu quả kinh tế. Đồng thời Ngân hàng cũng giám sát đợc các hoạt
động kinh tế góp phần tạo môi trờng kinh doanh lành mạnh cho các doanh
nghiệp, tạo sự ổn định cho nền kinh tế.
Thứ ba Ngân hàng thơng mại là công cụ để nhà nớc đIều tiết vĩ mô
nền kinh tế
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trờng Ngân hàng thơng mại hoạt
động một cách có hiệu quả thông qua nghiệp vụ kinh doanh của mình sẽ thực
sự là một công cụ để nhà nớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế.Và Ngân hàng thơng
mại nh một kênh quan trọng để Ngân hàng trung ơng có thể cung ứng tiền vào
lu thông hay thu hẹp khối lợng tiền tệ ngoài lu thông nhằm đảm bảo cân đối
cung cầu về tiền tệ, thực hiện chính sách giá cả
11
Cụ thể bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng trong
hệ thống, các Ngân hàng thơng mại đã góp phần mở rộng khối lợng tiền cung
ứng trong lu thông. Hay thông qua việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh
tế, Ngân hàng thơng mại thực hiện dẫn dắt các luồng tiền tập hợp và phân chia
vốn trên thị trờng điều khiển chúng một cách có hiệu quả thực thi vai trò điều
tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế theo phơng châm Nhà nớc điều tiết Ngân
hàng, Ngân hàng dẫn dắt thị trờng
Thứ t Ngân hàng thơng mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền
tài chính quốc tế
Nền kinh tế càng phát triển thì các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ càng đ-
ợc mở rộng, nhu cầu giao lu kinh tế xã hội giữa các nớc trên thế giới càng trở
nên cần thiết và cấp bách.Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn
liền với sự triển kinh tế thế giới. Vì vậy nền tài chính của mỗi nớc cũng phải
hoà nhập với nền tài chính quốc tế. Ngân hàng thơng mại đóng vai trò quan
trọng trong sự hoà nhập này. Cùng với các nghiệp vụ nh nhận tiền gửi, cho
vay, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại
thơng không ngừng phát triển. Từ đó Ngân hàng thơng mại thực hiện vai trò
điều tiết nền tài chính quốc gia phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc
tế

3.Các nghiệp vụ của Ngân hàng th ơng maị
úa trình hoạt dộng của Ngân hàng dựa trên nguyên tắc đi vayđể cho
vay tức là tự cân đối vốn và nguồn vốn có vậy mới bảo đảm phục vụ
tốt cho công tác huy động vốn, sử dụng vốn cũng nh các nghiệp vụ
khác của Ngân hàng. Để khái quát toàn bộ hoạt động của Ngân hàng thơng
mại, ta đi vào tìm hiểu các nghiệp kinh doanh chủ yếu sau
Q
3.1 Nghiệp vụ tài sản nợ :
12
ghiệp vụ tài sản nợ là nghiệp vụ hình thành nguồn vốn của Ngân hàng
thơng mại. Các hoạt động của Ngân hàng dựa trên cơ sở nguồn vốn huy
động đợc. Đây là nghiệp vụ quan trọng quyết định đến các nghiệp vụ còn lại
của Ngân hàng thơng mại. Về cơ bản nghiệp vụ này bao gồm :
N
*Vốn tự có và coi nh tự có

Vốn tự có của Ngân hàng bao gồm vốn pháp định - vốn điều lệ, quỹ dự
trữ của ngân hàng thuộc sở hữu riêng có của ngân hàng. Vốn pháp định của
Ngân hàng thơng mại là mức vốn tối thiểu phải có khi thành lập Ngân hàng do
pháp lệnh Nhà nớc quy định hình thành tuỳ theo tính chất sở hữu của các Ngân
hàng thơng mại. Vốn điều lệ là vốn đợc ghi trong điều lệ của mỗi ngân hàng.
Vốn điều lệ thờng lớn hơn vốn pháp định. Quỹ dự trữ của Ngân hàng bao gồm
quỹ dự trữ để bổ xung vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro. Việc
hình thành các quỹ này làm tăng vốn tự có của Ngân hàng đồng thời đảm bảo
an toàn trong kinh doanh.
Vốn tự có của Ngân hàng thơng mại chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng
nguồn vốn nhng mang tính chất ổn định và là cơ sở để thu hút các nguồn vốn
khác. Nó không phải là vốn dùng trực tiếp vào kinh doanh nhng lại có vai trò
quan trọng trong kinh doanh của Ngân hàng thơng mại. Vốn tự có của Ngân
hàng không những là căn cứ pháp lý để thành lập Ngân hàng mà còn là cơ sở
để xác định quy mô hoạt động của Ngân hàng khẳng định thế mạnh cũng nh
khả năng thanh toán của Ngân hàng thơng mại đối với khách hàng.
Vốn coi nh tự có của Ngân hàng : Lợi nhuận cha chia hoặc các quỹ cha
sử dụng nh quỹ phát triển nghiệp vụ Ngân hàng, quỹ khấu hao tài sản cố định,
quỹ khen thởng phúc lợi.
* Nghiệp vụ huy dộng vốn
Đây là nghiệp vụ tạo nguồn vốn chính của Ngân hàng. Vốn đợc huy
13
động từ nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng
thơng mại. Nguồn vốn này chủ yếu đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng.
Vấn đề đặt ra các Ngân hàng thơng mại làm sao tăng tỷ trọng nguồn vốn này
càng cao càng tốt. Mặc dù Ngân hàng phải trả lãi cho các loại tiền gửi huy
động nhng việc thu hút vốn nhanh và biết sử dụng vốn có hiệu quả sẽ mang lại
lợi nhuận cao cho Ngân hàng.
Ngân hàng thơng mại huy động vốn dới dạng :
Tiền gửi thanh toán : Đây là các khoản tiền mà khách hàng gửi vào
Ngân hàng với mục đích thông qua Ngân hàng để thực hiện các giao dịch
thanh toán. Mục đích chủ yếu là tính thanh khoản chứ không phải mục đích h-
ởng lãi nên số d trên tài khoản này thờng xuyên biến dộng, họ có thể rút vốn
bất kỳ lúc nào. Mặc dù Ngân hàng chỉ phải trả lãi rất thấp cho loại tiền gửi này
nhng Ngân hàng phải xây dựng quỹ đảm bảo khả năng thanh toán. Điều đó
làm cho Ngân hàng có một khoản tiền không có khả năng sinh lời và việc kế
hoạch nguồn vốn này tơng đối khó và phức tạp.
Tiền gửi tiết kiệm : Đây là nguồn tiền gửi mà khách hàng gửi vào Ngân
hàng với mục đích chính là hởng lãi. Thời hạn gửi tiền của hình thức này đợc
Ngân hàng quy định cụ thể tơng ứng với mức lãi suất, khách hàng muốn rút
tiền trớc thời hạn chỉ đợc hởng lãi suất thấp hoặc không đợc hởng laĩ suất. Lãi
suất tiền gửi tiết kiệm thờng cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán. Nhng tiền gửi
tiết kiệm tạo cho Ngân hàng nguồn vốn tơng đối ổn định.Cho nên các Ngân
hàng thơng mại có thể chủ động tạo kế hoạch sử dụng vốn cho vay hợp lý.
Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá : Khi thiếu vốn ngoài hình
thức huy động tiền gửi Ngân hàng có thể huy động vốn bằng hình thức khác
nh phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu ,các loại giấy tờ có giá
này phát hành theo từng đợt và có quy định rõ thời hạn, lãi suất và cách trả lãi.
Lãi suất trả cho hình thức này cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm và thời hạn t-
ơng đối dài. Khoản vốn này Ngân hàng dùng đầu t vào các dự án hay cho vay
trung dài hạn. Với nghiệp vụ này giúp Ngân hàng thơng mại tăng cờng tính ổn
định vốn trong hoạt động kinh doanh của mình
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét