Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng các trường THPT ngoài công lập Thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ

Kết luận số 14-KL/TW của Hội nghị lần thứ 6 BCH TW Đảng khoá IX: “Đạt
được những thành tựu nói trên trong điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn đã thể
hiện nỗ lực to lớn của toàn Đảng, toàn dân, sự đóng góp quan trọng của đội ngũ giáo
viên và các cán bộ quản lí của ngành giáo dục trong cả nước, nhất là các thầy giáo, cô
giáo công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”[9].
Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư đã nêu rõ: “Phát triển giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực
con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ
quản lí giáo dục là động lực nòng cốt, có vai trò quan trọng…Những năm qua, chúng
ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục ngày càng đông
đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu cầu
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự
nghiệp cách mạng của đất nước”[1].
Xuất phát từ những định hướng đó, trong thời gian qua đã có nhiều tác giả đề
cập vấn đề đào tạo giáo viên như: Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Cảnh
Toàn…tại Hội thảo Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên ở khoa Sư
phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội tháng 10/2004, Nguyễn Văn Lê với cuốn sánh
“Nghề thầy giáo”,…và nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về quản lí phát triển đội ngũ
giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo như:
- Qui hoạch phát triển giáo dục mầm non các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam
đến năm 2015. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Bá Hòa, 2006.
- Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học ở Thị xã
Thủ Dầu 1 – Bình Dương giai đoạn 2005 – 2010. Luận văn thạc sĩ của Trịnh Đức
Tài, 2005.
- Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS huyện Thuận Thành – Bắc
Ninh giai đoạn 2005 – 2010. Luận văn thạc sĩ của Lê Đình Thanh, 2005.
5
- Các giải pháp quản lí phát triển đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng các
trường THPT huyện Chiêm Hoá tỉnh Tuyên Quang. Luận văn thạc sĩ của Lâm Đình
Hưng, 2006.
- Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng các trường THPT huyện
Eaka (Đắc Lắc) Luận văn thạc sỹ của Lê Thanh Hùng, 2009.
Các tác giả đã rất công phu nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề,
khảo sát thực trạng về tình hình phát triển đội ngũ giáo viên của địa phương, nơi
mình công tác và đề xuất các giải pháp, biện pháp thiết thực, nhằm thực hiện tốt hơn
công tác phát triển đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên, ở mỗi địa phương, đơn vị có những
điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau. Sau một thời gian nghiên cứu, tác giả nhận thấy
đến nay các đề tài nghiên cứu khoa học về biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên chỉ
mới tập trung ở bậc mầm non, tiểu học, THCS và khối chuyên nghiệp, bậc THPT
công lập, ở bậc THPT ngoài công lập thì chưa có. Mặt khác, ở Thị xã Phú Thọ chưa
có công trình nào đi sâu nghiên cứu về thực trạng và đề xuất biện pháp phát triển đội
ngũ giáo viên ở các trường THPT ngoài công lập. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này
là hết sức cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các trường
THPT ngoài công lập Thị xã Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài:
1.2.1. Quản lý:
Nhận thức của con người về quản lí rất phong phú. Ngày nay thuật ngữ quản lí
đã trở nên phổ biến có thể dẫn ra một số định nghĩa như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Giáo dục, 1998), Quản lí là: Tổ chức điều
khiển hoạt động của đơn vị, cơ quan.
Theo An Napu F. F: “Quản lí là một hệ thống XHCN, là một khoa học và là
một nghệ thuật tác động vào một hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lí con người nhằm
đạt được những mục tiêu xác định. Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định bao gồm
nhiều thành phần có tác động qua lại lẫn nhau”[32].
Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lí là một quá trình có
định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lí là một hệ thống là quá trình tác động đến
6
hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng
cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lí mong muốn”[18].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lí là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (khách thể quản lí)
nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”[29].
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức, có
định hướng của chủ thể quản lí về các mặt văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội bằng hệ
thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ
thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”[11].
Nhóm tác giả Bùi Minh Hiền – Vũ Ngọc Hải – Đặng Quốc Bảo cho rằng:
“Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng
quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra”[16].
Quản lí là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ có tổ chức với
bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật v.v…) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế
độ hoạt động của các hệ đó. Quản lí là tác động hợp qui luật khách quan, làm cho hệ
vận động, vận hành và phát triển.
Theo quan điểm tiếp cận hệ thống: “Quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức,
lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và
việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định”.
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau, song có thể khái quát nội dung cơ
bản của quản lí được đề cập đến trong các khái niệm trên như sau:
- Quản lí là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội. Lao
động quản lí là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành
phát triển.
- Quản lí được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội.
- Quản lí là những tác động có tính hướng đích, là những tác động phối hợp nỗ
lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức.
- Quản lí bao giờ cũng là quản lí con người, trong đó chủ yếu bao gồm chủ thể
quản lí và đối tượng quản lí giữ vai trò trung tâm trong chu trình, hoạt động quản lí.
7
- Quản lí là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với qui luật
khách quan.
Như vậy, với cách hiểu quản lí là quản lí tổ chức của con người, hoạt động
của con người, tôi lựa chọn cách hiểu quản lí như sau:
Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí (người
quản lí) theo kế hoạch chủ động và phù hợp với qui luật khách quan tới khách thể
quản lí (người bị quản lí) nhằm tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại, ổn định và
phát triển của tổ chức.
Theo cách hiểu trên, quản lí luôn tồn tại với tư cách như là một hệ thống bao
gồm những thành tố cấu trúc cơ bản sau:
- Chủ thể quản lí: là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổ chức
và thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hướng đích, có chủ
định đến đối tượng quản lí. Chủ thể quản lí có thể là cá nhân hoặc tập thể.
- Đối tượng quản lí: là những đối tượng chịu tác động và thay đổi dưới những
tác động hướng đích có chủ định của chủ thể quản lí. Đối tượng quản lí là con người
(cá nhân và tập thể) trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng là nguồn lực của tổ
chức (thông qua việc khai thác, tổ chức thực hiện).
- Cơ chế quản lí: là phương thức vận động hợp qui luật của hệ thống quản lí,
mà trước hết là sự tác động lẫn nhau một cách hợp qui luật trong quá trình quản lí.
- Mục tiêu quản lí: là trạng thái tương lai, cái tiêu điểm tương lai hay cái kết
quả cuối cùng mà một tổ chức mong muốn đạt đến.
Hình 1.1. Sơ đồ mô tả hệ thống cấu trúc quản lí.
8
Chủ thể
quản lí
Đối tượng
quản lí
Cơ chế
quản lí
Mục tiêu
Nội dung
Phương pháp
* Các chức năng cơ bản của quản lí:
- Kế hoạch: có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương
lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục
đích đó.
- Tổ chức: là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành
viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các
kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
- Chỉ đạo: là việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành
những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Đây là khâu quan trọng
tạo nên thành công của kế hoạch dự kiến.
- Kiểm tra: là những hoạt động của chủ thể quản lí nhằm tìm ra những mặt ưu
điểm, mặt hạn chế, qua đó đánh giá, điều chỉnh và xử lý kết quả của quá trình vận
hành tổ chức, làm cho mục đích của quản lí được hiện thực hóa một cách đúng hướng
và có hiệu quả.
Các chức năng quản lí có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen và
ảnh hưởng lẫn nhau. Khi thực hiện chức năng này thường liên quan đến các chức
năng khác và ở mức độ khác nhau. Các chức năng đều cần đến yếu tố thông tin để
hoạch định kế hoạch; cơ cấu tổ chức; chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo và phản hồi và
thông tin kết quả hoạt động.
\
Hình 1.2. Sơ đồ mô tả mối quan hệ giữa các chức năng quản lí
9
Kế hoạch
Kiểm tra,đánh giá

Tổ chức
Chỉ đạo
Thông tin
1.2.2. Quản lí giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, một quá trình, một hoạt động của xã hội, vì
thế nó cần và phải được quản lí. Từ đó, hình thành một dạng quản lí trong hệ thống
quản lí xã hội. Dạng quản lí này có tên gọi là “Quản lí giáo dục”. Quản lí giáo dục
cũng được biểu đạt một cách rất đa dạng tùy theo phương tiện nghiên cứu và cách
tiếp cận của nhà nghiên cứu về quản lí giáo dục. Dưới đây là một số quan niệm về
quản lí giáo dục:
* Ở cấp vĩ mô
- Theo tác giả Nguyễn Kì, Bùi Trọng Tuân: “Quản lí giáo dục được hiểu là
những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui
luật) của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các
cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu
phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội”[22] .
- Theo PGS.TS. Trần Kiểm: “Quản lí giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt
trội (tính trồi) của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ
thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự
cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động”[19].
* Ở cấp vi mô
- Theo chuyên gia giáo dục Liên Xô (cũ) P. V. Zimin, M.I. Kônđacốp và N.I.
Xaxerđôtôp: “Quản lí nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống
này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lí
lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội –
kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn
lên”[41].
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí trường học là thực hiện đường
lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường
vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối
với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”[29].
10
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lí nhà trường, quản lí giáo dục là tổ
chức hoạt động dạy học…Có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các
tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lí được giáo
dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện
thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước”[15].
Như vậy, với những khái niệm phân tích trên, tôi lựa chọn quan niệm:
Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp qui luật
của chủ thể quản lí, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng,
thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến,
tiến lên trạng thái mới về chất.
1.2.3. Giáo viên
1.2.3.1 Khái niệm
Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Khoa học xã hội – Hà Nội 1994, định nghĩa: Giáo
viên (danh từ) là người dạy học ở bậc học phổ thông hoặc tương đương [40].
Điều 70 Luật giáo dục năm 2005, qui định đối với nhà giáo:
“Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở
giáo dục khác… Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông,
giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên”[25].
1.2.3.2. Những tiêu chuẩn đối với nhà giáo:
* Phẩm chất chính trị và đạo đức
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ.
- Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp.
- Lý lịch bản thân rõ ràng [25].
+ Yêu cầu về mặt phẩm chất và năng lực của người giáo viên.
Nghị quyết TW2 khoá VIII đã chỉ rõ:“Giáo viên phải có đủ đức, đủ tài”,“Phải
nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ giáo viên”[8].
Theo Chuẩn nghề nghiệp Giáo viên Trung học do Bộ GD&ĐT ban hành thì
phẩm chất và năng lực của người giáo viên được thể hiện ở các mặt sau:
11
* Phẩm chất.
- Phẩm chất chính trị: Yêu nước, yêu CNXH. Chấp hành đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia các hoạt động chính
trị xã hội; thực hiện nghĩa vụ công dân.
- Đạo đức nghề nghiệp: Yêu nghề, gắn bó với nghề dạy học. Chấp hành Luật
Giáo dục, điều lệ, qui chế, qui định của ngành. Có ý thức tổ chức kỉ luật và tinh thần
trách nhiệm, Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo. Sống trung thực, lành
mạnh, là tấm gương tốt cho học sinh.
- Ứng xử với học sinh: Thương yêu, tôn trọng, đối xử công bằng với học sinh,
giúp học sinh khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt.
- Ứng xử với đồng nghiệp: Đoàn kết, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp, xây
dựng tập thể sư phạm tốt để cùng thực hiện mục tiêu giáo dục.
- Lối sống, tác phong: Có lối sống lành mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc
dân tộc và môi trường giáo dục, có tác phong mẫu mực, làm việc khoa học.
* Năng lực.
- Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục:
Tìm hiểu đối tượng giáo dục: Có phương pháp thu thập và xử lý thông tin thường
xuyên về nhu cầu và đặc điểm của học sinh, sử dụng các thông tin thu được vào dạy
học, giáo dục.
Tìm hiểu môi trường giáo dục: Có phương pháp thu thập và xử lý thông tin về
điều kiện giáo dục trong nhà trường và tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội
của địa phương.
- Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục:
Xây dựng kế hoạch dạy học: Các kế hoạch dạy học được xây dựng theo hướng
tích hợp dạy học với giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học
phù hợp với đặc thù môn học, đặc điểm học sinh và môi trường giáo dục; phối hợp
hoạt động học với hoạt động dạy theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của
học sinh.
12
Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục khác: Kế hoạch các hoạt động giáo
dục khác (công tác chủ nhiệm lớp, công tác Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, công tác Đội,
các công tác khác khi được phân công) được xây dựng đảm bảo tính khả thi, sát hoàn
cảnh và điều kiện, thể hiện khả năng hợp tác, cộng tác.
- Năng lực thực hiện kế hoạch dạy học:
Đảm bảo kiến thức môn học: Làm chủ kiến thức môn học, đảm bảo nội dung dạy
học chính xác, có hệ thống, vận dụng hợp lí các kiến thức liên môn theo yêu cầu cơ
bản, hiện đại, thực tiễn.
Đảm bảo chương trình môn học: Thực hiện nội dung dạy học theo chuẩn kiến
thức, kĩ năng và thái độ quy định trong chương trình môn học.
Vận dụng các phương pháp dạy học: Vận dụng các phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, phát triển năng lực
tự học của học sinh
Sử dụng các phương tiện dạy học: Sử dụng các phương tiện dạy học làm tăng
hiệu quả dạy học
Xây dựng môi trường học tập: Tạo dựng môi trường học tập dân chủ, thân thiện,
hợp tác, thuận lợi, an toàn và lành mạnh.
Quản lí hồ sơ dạy học: Xây dựng, bảo quản, sử dụng hồ sơ dạy học.
- Năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục:
Giáo dục qua môn học: Thực hiện nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ
thông qua môn học và tích hợp các nội dung giáo dục khác trong các hoạt động chính
khoá và ngoại khoá theo kế hoạch đã xây dựng.
Giáo dục qua các hoạt động giáo dục khác: Thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua các
hoạt động giáo dục khác như: chủ nghiệm lớp, công tác Đoàn, Đội, hoạt động ngoài
giờ lên lớp theo kế hoạch đã xây dựng.
Giáo dục qua các hoạt động trong cộng đồng: Thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua
các hoạt động trong công đồng như: lao động công ích, hoạt động xã hội… theo kế
hoạch đã xây dựng.
13
Vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục: Vận dụng các nguyên
tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục học sinh vào tình huống sư phạm cụ
thể, phù hợp đối tượng, đáp ứng mục tiêu giáo dục đề ra.
- Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện đạo đức:
Đánh giá kết quả học tập: Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bảo đảm yêu cầu
công khai, công bằng, khách quan, chính xác, toàn diện và phát triển năng lực tự đánh
giá của học sinh; sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh dạy và học.
Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức: Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức một
cách khách quan, công bằng, chính xác và có tác dụng thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên
của học sinh.
- Năng lực hoạt động chính trị xã hội:
Phối hợp với gia đình học sinh và cộng đồng: Phối hợp với gia đình học sinh và
cộng đồng trong hỗ trợ và giám sát việc học tập, rèn luyện và hướng nghiệp của học
sinh và góp phần huy động các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường.
Tham gia hoạt động chính trị xã hội: Tham gia hoạt động chính trị xã hội trong
và ngoài nhà trường nhằm phát triển nhà trường và cộng đồng, xây dựng xã hội học
tập.
- Năng lực phát triển nghề nghiệp:
Tự đánh giá, tự học hỏi và tự rèn luyện: Tự đánh giá, tự học hỏi và tự rèn luyện
về phẩm chất chính trị, đạo đức và chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục.
Phát hiện và giải quyết vấn đề: Phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong
thực tiễn hoạt động nghề nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu mới.
1.2.3.3. Nhiệm vụ và quyền của nhà giáo
* Nhiệm vụ của nhà giáo (Điều 72, Luật giáo dục 2005)[25].
- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lí giáo dục, thực hiện đầy đủ và
có chất lượng chương trình giáo dục;
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các qui định của pháp luật và điều
lệ nhà trường;
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét