đây là trong các bài
viết
nhỏ, bài chuyên
luận,
bài báo cáo khoa học,
luận văn
tốt
nghi
ệ
p
trong
trường đại
học.
Tất cả những
bài
viết
này
đều
làm nổi
bật hiệu quả
s
ử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong sáng tác
văn chương
nói chung.
Trên
tạp
chí “ Ngôn
Ngữ”
số 1/1980, Thái Hòa có bài
viết
“ Tìm
hiểu
cách
dùng tục
ngữ
trong
những
bài
viết
và bài nói của chủ tịch Hồ Chí Minh”. Trong bài
viết
này, tác
giả
đã
đề cập đến khả năng sử
dụng tục
ngữ hết sức
linh
hoạt
của Bác trên
hai lĩnh
vực
nói và
viết.
Theo tác
giả,
tùy theo
đối tượng, đề
tài, và
thể loại
mà Bác có
cách
sử
dụng tục
ngữ
phù
hợp.
Có khi Bác dùng tục
ngữ
làm một chủ
điểm,
một ý
chính
để
nêu lên
vấn đề,
có khi Bác dùng tục
ngữ để
chuy
ể
n
ý
chuy
ể
n
đọan
hoặc
k
ế
t
thúc một
đọan
bài
văn.
Sau đó, tác
giả
đã
đưa
ra
nhận
xét “ Tóm
lại,
Bác dùng tục
ng
ữ
làm một
tư
duy
sắc
bén,
lợi hơn
trong
lập luận,
trình bày cũng
như
xây
dựng văn
b
ả
n” [
17;12]. Có
thể
nói, đây là một bài
viết
khá sâu
sắc
và tỉ mỉ đã phân tích
được
giá
tr
ị
sử
dụng tục
ngữ
trong
những
bài
văn,
bài
viết
của Bác
nhằm
mục đích cổ động
qu
ầ
n
chúng tin và làm theo cách
m
ạ
ng.
Trung
tâm
B
H
ài
ọ
v
c
i
ế
l
t
iệ
“
u
Ph
Đ
an
H
Bộ
C
i
ầ
C
n
hâu
T
v
h
ậ
ơ
n
d
@
ụ
ng
T
th
à
à
i
n
l
h
iệ
n
u
g
ữ
h
,
t
ọ
ụ
c
c
n
t
g
ậ
ữ
p
t
v
ro
à
ng
n
s
g
á
h
ng
iê
tá
n
c
c
th
ứ
ơ
u
ca của
Nguy
ễ
n
đ
ứ
c
Can
đăng
trên “
Ngữ
học
trẻ
2001” đã phân tích
rất
tỉ mỉ
về hiệu
qu
ả
sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong sáng tác
thơ
ca của Phan Bội Châu. Sau khi
khảo
sát
14 bài
thơ
của Phan Bội Châu, tác
giả
đã
nhận thấy
có hai cách
vận
dụng thành
ng
ữ
,
tục
ngữ
vào sáng tác
thơ
của “cụ Phan” là: dùng nguyên
dạng
thành
ngữ,
tục
ngữ
và
lấy
ý của thành
ngữ,
tục
ngữ để
sáng
tạo
nên
những
câu
thơ mềm mại với
một ý
thơ
có
nội hàm cao
hơn.
Ngoài ra tác
giả
còn phát
hiện thấy rằng,
Phan Bội Châu đã sáng
t
ạ
o
ra
những
câu nói mang tính thành
ngữ,
tục
ngữ
mà “Ngay lúc
xuất hiện
và
cả
ngày nay
nhân gian
vẫn sử
dụng chúng trong giao
tiếp
hàng ngày (…)
như:
thất bại là
m
ẹ
thành công; Nhất gian nan khốn khó là
t
r
ư
ờ
n
g
học anh hùng; Cần
k
i
ệ
m
là
n
g
u
ồ
n
bể
nhân ái;…” [2;348]. Và sau đó tác
giả
đã
đưa
ra
kết luận:
“đây
là một
bằng
ch
ứ
ng
chứng
minh cho
sức
sống,
sức mạnh mẽ
của kho tàng ngôn
ngữ
dân tộc
(ở
đây là kho
tàng thành
ngữ,
tục
ngữ
). Vì
thế
nó
được
trân trọng và phát huy” [2;348].
đ
ặ
ng
Thanh Hòa cũng có bài
viết về
“ Thành
ngữ,
tục
ngữ
trong
thơ
Nôm Hồ
Xuân
Hương” đăng
trên
tạp
chí “ Ngôn
ngữ
&
đ
ờ
i
sống” số 4/2001. Giống
nh
ư
Nguy
ễ
n
đ
ứ
c
Can, sau khi
khảo
sát 39 bài
thơ
trong
tập
“
Thơ
Hồ Xuân
Hương”
tác
giả
đã
nhận thấy rằng:
Hồ Xuân
Hương
khi
đưa
thành
ngữ,
tục
ngữ
vào trong sáng tác
thơ thường
chủ
yếu
thông qua hai
phương thức
chính đó là
vận
dụng nguyên
d
ạ
ng
thành
ngữ,
tục
ngữ
và chỉ
lấy
ý thành
ngữ
tục
ngữ
vào trong sáng tác
thơ
của mình.
Bài
viết
đã làm nổi
bật
lên
biệt
tài
sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong
thơ
Nôm của Hồ
Xuân
H
ươ
ng.
Vấn đề
nghiên
cứu việc sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong tác
phẩm văn
ch
ươ
ng
cũng
được
khai thác trong bài
luận văn
tốt
nghi
ệ
p
trong
trường đại
học.
Như
các
đề
tài “Thành
ngữ,
tục
ngữ
trong tác
phẩm
Nguy
ễ
n
Khải”
[2006]; “Tìm
hiểu
thành
ng
ữ
,
tục
ngữ
trong tác
phẩm
của Bình Nguyên Lộc” [2006]; “Tìm
hiểu
thành
ngữ,
tục
ng
ữ
trong
những
sáng tác của
Nguy
ễ
n
Minh Châu”;
Hầu hết
trong
những luận văn
này,
các tác
giả
đã khái quát
được
thành
ngữ,
tục
ngữ
là gì và
đưa
ra một số quan
đ
i
ể
m
khác nhau của các nhà nghiên
cứu văn
học cũng
như
của các nhà nghiên
cứu
ngôn
ngữ.
Thông qua đó các tác
giả
đã tìm ra
được sự tương
đồng và
sự
di
biệt giữa
thành
ngữ
và tục
ngữ.
Và
vấn đề
quan trọng
hơn nữa
là các tác
giả
đã làm nổi
bật
lên
đ
ượ
c
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên
cứu
hiệu quả sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong các tác
phẩm văn chương
của
Nguy
ễ
n
Khải,
Bình Nguyên Lộc,
Nguy
ễ
n
Minh Châu,
Không chỉ
được vận
dụng trong sáng tác
văn chương,
thành
ngữ,
tục
ngữ
còn
được sử
dụng khá phổ
biến
trên báo chí. Bàn
về vấn đề
này, tác
giả
Bùi Thanh
L
ươ
ng
đã có bài
viết
“ Cách
sử
dụng thành
ngữ mới
trong một số
ấn phẩm
báo chí”
đăng
trên
tạp
chí “ Ngôn
ngữ
và
đ
ờ
i
sống” số 9/2006. Sau khi
khảo
sát bốn
loại
báo:
đ
ạ
i
đòan
kết; Thể
thao –
Văn
hóa, Sài Gòn
giải
phóng; Hà Nội
mới,
tác
giả
đã
nhận
ra
được
ba
cách
để tạo
thành
ngữ mới
trên báo chí:
Cải biến
các thành
ngữ
quen thuộc
nh
ư
ng
nghĩa không thay
đổi bằng
cách
thế từ đồng
nghĩa
hoặc
chen
từ; cải biến bằng
cách
s
ử
dụng các mô hình đã có và xây
dựng
thành
ngữ mới. Từ
đó tác
giả
đã
đưa
ra
kết
lu
ậ
n
“… Sáng
tạo
trong cách
sử
dụng thành
ngữ mới
góp
phần
làm cho
tiếng Việt
ngày
càng phong phú, giàu
đẹp”
[25;11].
đây
là một bài
viết
có vị trí vai trò
đặc biệt
quan
trọng trong
việc
nghiên
cứu
ngôn
ngữ
báo chí.
Không chỉ tìm
hiểu việc sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong sáng tác
văn
ch
ươ
ng
hoặc
trên các
ấn phẩm
báo chí mà
gần
đây còn có bài “Tục
ngữ
-
ngữ cảnh
và các hình
thức thể hiện”
của
Nguy
ễ
n
Văn Nở
trên
tạp
chí “ Ngôn
ngữ”
số 2/2007 đã tổng
h
ợ
p
đầy
đủ
được
giá trị
sử
dụng của tục
ngữ
trên
cả
hai lĩnh
vực văn chương
và báo chí .
Tác
giả
đã chỉ ra, có hai hình
thức vận
dụng tục
ngữ
trên báo chí và trên tác
phẩm
v
ă
n
chương:
nguyên
dạng
và
cải biến,
mô phỏng,
triển
khai khuôn hình tục
ngữ. Hơn
th
ế
nữa,
tác
giả
còn phân tích tỉ mỉ giá trị
sử
dụng đó trong
từng ngữ cảnh
cụ
thể,
giúp độc
giả tiếp cận vấn đề
một cách
dễ
dàng.
Nói tóm
lại,
nghiên
cứu về
giá trị
vận
dụng của thành
ngữ,
tục
ngữ
trên các
ấ
n
phẩm
báo chí cũng
như
trong tác
phẩm văn chương từ trước đến giờ
cũng đã có khá
nhiều
công trình nghiên
cứu
khác nhau. Tuy nhiên,
vấn đề
nghiên
cứu về
thành
ng
ữ
,
tục
ngữ
trong
những
sáng tác của
Nguy
ễ
n
Huy
Thiệp
thì
vẫn chưa
có công trình
nghiên
cứu
nào, sách
vở
nghiên
cứu về
các sáng tác của
Nguy
ễ
n
Huy
Thiệp
chỉ có ba
bốn: “ Tác
phẩm
và
dư luận”
(
Tạp
chí Sông
Hương,
NXB
Trẻ, Huế,
1989) ; “Tác
phẩm
và
dư luận”
( Hồng Lĩnh, California,1991, tái
bản);
“
đ
i
tìm
Nguy
ễ
n
Huy
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên
cứu
Thi
ệ
p”
(
Phạm
Xuân Nguyên
(sưu tầm
và biên sọan), NXB
Văn
hóa thông tin Hà Nội,
2001).
Cả
ba cuốn sách này
đều
chủ
yếu
đi vào phân tích, bình
luận,
… nội dung của
tác
phẩm; Về nghệ thuật
của tác
phẩm
cũng có
đề cập đến nhưng
không có bài nào đi
sâu vào tìm
hiểu nghệ thuật sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong tác
phẩm
của ông. Do
đó, tìm
hiểu về:
“Thành
ngữ,
tục
ngữ
trong
truyện ngắn
của
Nguy
ễ
n
Huy
Thiệp
là
đ
i
ề
u
hết sức cần
thi
ế
t.
3.Mục đích yêu
c
ầ
u
:
Vấn đề
tìm
hiểu
vốn thành
ngữ,
tục
ngữ
của dân tộc là một
điều
vô cùng bổ ích.
Thực hiện đề
tài này
nhằm
giúp cho
người
đọc và
bản
thân
người viết
thu
nhận
đ
ượ
c
một vốn
hiểu biết
sâu
sắc hơn về
thành
ngữ,
tục
ngữ
của dân tộc cũng
như hiểu
bi
ế
t
hơn về những điểm
khác nhau
giữa
thành
ngữ
và tục
ngữ, đồng thời thấy được
giá
tr
ị
,
ý
nghĩa
biểu đạt
của thành
ngữ,
tục
ngữ
trong sáng tác
văn chương.
Và
đặc biệt
quan
trọng
hơn
giúp
người viết
khám phá ra
được
nét
đặc sắc
của
việc sử
dụng thành
ng
ữ
,
tục
ngữ
trong
truyện ngắn
của
Nguy
ễ
n
Huy
Thiệp. Từ
đó
nhận
ra
được những
đóng
góp của nhà
văn đương đại
này đối
với
kho tàng ngôn
ngữ
dân tộc trên con
đ
ườ
ng
hiện đại
hóa.
4.Phạm vi ngiên
c
ứ
u
:
Nguy
ễ
n
Huy
Thiệp
sáng tác trên
rất nhiều thể loại: Tiểu
thuy
ế
t,
truyện
ng
ắ
n,
tạp văn, tiểu luận,
phê bình,
giới thiệu
và kịch. Tuy nhiên, do
hạn chế về thời
gian nên
người viết
chỉ
đề cập đến việc sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong
truyện ngắn
của
Nguy
ễ
n
Huy
Thiệp. Tất cả những truyện ngắn
đó
được tập hợp lại
trong cuốn
“Nguy
ễ
n
Huy
Thiệp tuyển tập truyện ngắn”
do
đ
ỗ
Hồng
Hạnh sưu tầm
và biên
so
ạ
n,
NXB
Văn
hoá Sài Gòn, 2006.
đó
cũng là tài
liệu
chủ
yếu để người viết căn cứ
vào
khảo
sát và tìm
hiểu
v
ề
thành
ngữ,
tục
ngữ
trong
truyện ngắn
của
Nguy
ễ
n
Huy
Thi
ệ
p.
5.Phương pháp nghiên
c
ứ
u
:
đ
ể
thực hiện đề
tài này,
bước cần thiết đầu
tiên đối
với người viết
là đọc tòan
bộ
truyện ngắn
của
Nguy
ễ
n
Huy
Thiệp,
sau đó
sẽ tiến
hành thống kê và tổng
h
ợ
p
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên
cứu
những
thành
ngữ,
tục
ngữ
mà tác
giả
đã
sử
dụng trong tác
ph
ẩ
m.
Tiếp đến, để
làm nổi
bật
cái hay, cái độc đáo trong cách
vận
dụng thành
ng
ữ
,
tục
ngữ
của tác
giả, người viết
dùng
phương
pháp
chứng
minh,
giải
thích, phân tích và
bình
lu
ậ
n.
Ngoài ra,
để đề
tài
được
phong phú
hơn người viết sẽ
dùng
phương
pháp đối
chiếu,
so sánh
để từ
đó có cái nhìn chung chính xác
hơn,
khách quan
h
ơ
n.
PHẦN NỘI
DUNG
CHƯƠNG
1
:
KHÁI QUÁT VỀ THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT
NA
M
1.1 Một số vấn
đề về
khái
n
i
ệ
m
Thành
ngữ,
tục
ngữ
là đối
tượng
thu hút
rất nhiều sự
quan tâm của các nhà nghiên
cứu
ngôn
ngữ
và các nhà nghiên
cứu văn chương.
đã
có
rất nhiều
cuộc tranh
luận nhiều
ý
kiến
xoay xung quanh
vấn đề
xác định khái
niệm
thành
ngữ,
tục
ngữ, nhưng
rút cục
v
ẫ
n
chưa đưa
ra một
kiến giải
thỏa đáng nào, ngay
cả vấn đề
phân định ranh
giới giữa
chúng
vẫn
còn khá
rắc
rối và
phức tạp.
Tuy nhiên, chúng ta cũng
phải thừa nhận
là mỗi một lĩnh
vực
nghiên
cứu,
mỗi một nhà nghiên
cứu sẽ
có cách nhìn
nhận
đánh giá khác nhau
v
ề
cùng một
vấn đề.
Sau đây chúng tôi xin
giới thiệu
một số quan
niệm
khác nhau
về
thành
ngữ,
tục
ngữ
.
1.1.1 Thành ngữ, tục ngữ theo quan
n
i
ệ
m
của các nhà nghiên cứu văn học
Xét trong lĩnh
vực văn
học,
giữa
thành
ngữ
và tục
ngữ
thì chỉ tục
ngữ được
coi là
một
thể loại
của
văn
học dân gian. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên
cứu
thì các tác
gi
ả
văn
học luôn luôn
đề cập tới
bộ đôi song hành thành
ngữ,
tục
ngữ
trong
sự
so sánh đối
chiếu.
Có
thể
nói, cho
đến
nay
chưa
có một khái
niệm
chính xác nào
về
thành
ngữ,
tục
ngữ. Mặc
dù
giữa
các
thế hệ những
nhà nghiên
cứu
luôn luôn tìm cách
kế thừa,
chọn lọc,
bổ sung,
sửa
đổi, sáng
tạo kiến giải
của mình một cách hoàn chỉnh
hơn. Nhưng
d
ườ
ng
như
càng tìm tòi nghiên
cứu
thì các tác
giả lại
càng
thấy xuất hiện
thêm
nhiều vấn đề
nan
Tru
g
n
i
ả
g
i
h
t
â
ơ
n
m
xo
H
ay
ọ
x
c
un
l
g
iệ
q
u
ua
Đ
nh
H
kh
C
ái
ầ
ni
n
ệ
m
T
t
h
hà
ơ
nh
@
ng
ữ
T
,
t
à
ụ
i
c
l
n
iệ
g
ữ
u
V
h
i
ệ
ọ
t
c
Na
t
m
ậ
.
p và nghiên
cứu
1.1.1.1 Trong các nhà nghiên
cứu văn
học đã
từng đề cập đến vấn đề
thành
ng
ữ
,
tục
ngữ
thì có
lẽ Dương
Qu
ả
ng
Hàm là
người đầu
tiên
đưa
ra tiêu chí
để
xác định và phân
loại
thành
ngữ,
tục
ngữ Việt
Nam.
Trong cuốn:
“Việt
Nam
văn
học
sử yếu”
tác
giả viết:
“Tục
ngữ
là
những
câu nói
gọn
ghẽ
và có ý nghĩa
lưu
hành
từ đời xưa,
rồi do
cửa miệng người đời truyền
đi”[8;6].
Còn “Thành
ngữ
là
những lời
nói do
nhiều tiếng
ghép
lại
đã
lập
thành
sẵn,
ta có
thể
m
ượ
n
để diễn đạt
một ý
tưởng
của ta khi nói
chuy
ệ
n
hoặc viết văn”
[8;9].
Từ việc
xác định định nghĩa thành
ngữ,
tục
ngữ,
tác
giả
đã đi
đến
phân
loại
thành
ngữ,
tục
ngữ dựa
trên tiêu chí nội dung: “… một câu tục
ngữ tự
nó
phải
có một ý nghĩa
đầy đủ hoặc
khuyên
răn hoặc
chỉ
bảo điều
gì; còn thành
ngữ
chỉ là
những lời
nói có
sẵn để
ta
tiện
dùng mà
diễn
một ý gì
hoặc tả
một
trạng
thái gì cho có màu mè [8;9].
Mặc
dù
những kiến giải
của tác
giả Dương
Qu
ả
ng
Hàm
về
định nghĩa thành
ng
ữ
,
tục
ngữ
và phân
loại giữa
chúng
chưa thật đầy
đủ,
thậm
chí còn đánh đồng nội dung
gi
ữ
a
chúng
nhưng thật sự
đây
lại
là một công trình có vai trò quan trọng trong
việc
định
h
ướ
ng
nghiên
cứu
thành
ngữ,
tục
ngữ
sau này.
1.1.1.2
Tiếp
tục
đưa
ra
những
ý
kiến về
thành
ngữ,
tục
ngữ,
nhóm các tác
giả
Chu
Xuân Diên (chủ biên),
Lương Văn
đan,
Phương
Tri trong cuốn Tục
ngữ Việt
Nam” đã
đưa
ra tiêu chí
nhận thức luận để
phân
biệt giữa
thành
ngữ
và tục
ngữ. Với
tiêu chí này,
các tác
giả
xem xét thành
ngữ,
tục
ngữ như
một
hiện tượng
ý
thức
xã hội và thành
ng
ữ
chủ
yếu như
một
hiện tượng
ngôn
ngữ.
Trong đó “Nội dung của thành
ngữ
là nội dung
của
những
khái
ni
ệ
m”[4;41],
còn “Nội dung của tục
ngữ
là nội dung của phán
đoán”[4;41].
1.1.1.3 Cũng
lấy
tiêu chí nội dung
để
phân
biệt giữa
thành
ngữ,
tục
ngữ,
trong cuốn
“Tục
ngữ
ca dao dân ca
Việt
Nam”, Vũ Ngọc Phan đã
đưa
ra quan
điểm về
thành
ngữ,
tục
ngữ Việt
Nam sau khi nhìn
nhận
và đánh giá một số
mặt
còn
thiếu
sót trong cách nhìn
nhận
của tác
giả Dương
Qu
ả
ng
Hàm
về
thành
ngữ,
tục
ngữ:
“định
nghĩa
như vậy
không
được
rõ, vì
nếu thế
tác dụng của thành
ngữ
cũng không khác gì tác dụng của tục
ngữ”
[38;38]. Và
từ
đó ông xác định: “Tục
ngữ
là một câu
tự
nó
diễn
trọn
vẹn
một ý, một
nh
ậ
n
xét, một kinh
nghi
ệ
m,
một luân lý, một công lý, có khi là một
sự
phê phán” [38;39]. Còn
“Thành
ngữ
là một
phần
câu
sẵn
có, nó là một bộ
phận
của câu mà
nhiều người
đã quen
dung,
nhưng tự
riêng nó không
diễn được
một ý trọn
vẹn”
[38;39].
Kiến giải
của Vũ Ngọc Phan có
vẻ nhận được sự
đồng tình của
nhiều người.
Tuy
nhiên khái
niệm về
thành
ngữ,
tục
ngữ
không chỉ
dừng ở
đó.
1.1.1.4 Tác
giả
Phan Thị
đào
trong cuốn “Tìm
hiểu
thi pháp tục
ngữ Việt
Nam” đã
Tru
đ
n
ư
g
a
r
t
a
â
n
m
h
ậ
n
H
đ
ọ
ị
n
c
h:
li
“
ệ
T
u
ụ
c
Đ
ng
H
ữ
l
C
à
ầ
m
n
ột
T
hi
h
ện
ơ
tư
@
ợng
T
ý
à
th
i
ứ
li
c
ệ
x
u
ã h
h
ộ
ọ
i
c
ph
t
ả
ậ
n
p
án
v
h
à
l
ố
n
i
n
g
ó
h
i,
i
l
ê
ố
n
i n
c
gh
ứ
ĩ
u
và lối sống của nhân dân
trải
qua bao
thời đại…
là
sự
đúc
kết
trí
tuệ
và tâm hồn của nhân
dân lao động…”[6;23]. Và qua đó tác
giả
đã
dựa
vào 3 tiêu chí: hình
thức,
nội dung và
chức năng để
phân
biệt
thành
ngữ
và tục
ng
ữ
.
“Về
hình
thức,
thành
ngữ được thể hiện bằng
cụm
từ
cố định
(tương đương với
t
ừ
),
còn tục
ngữ thể hiện bằng
câu.
Về
nội dung, thành
ngữ thể hiện
khái
niệm
còn tục
ngữ thể hiện
phán đoán.
Về chức năng,
thành
ngữ
có
chức năng
định danh, còn tục
ngữ
có
chức năng
thông
báo”[6;27]
1.1.1.5 Tác
giả
Hoàng
Tiến Tựu
trong cuốn
“Văn
học dân gian
Việt
Nam” cũng
đưa
ra một số
nhận
định
về
thành
ngữ,
tục
ngữ như
sau: “Tục
ngữ
là một
thể loại văn
học
dân gian có
chức năng
chủ
yếu
là đúc
kết
kinh
nghi
ệ
m,
tri
thức,
nêu lên
những nhận
xét
dưới những
câu nói
ngắn
gọn, súc tích, giàu
vần điệu,
hình
ảnh dễ nhớ, dễ
truy
ề
n”
[44;
129]. Tác
giả
cũng
đưa
ra tiêu chí
để
phân
biệt giữa
thành
ngữ
và tục
ngữ
đó là tiêu chí
chức năng ngữ
pháp và nội dung ý nghĩa: “Mỗi câu tục
ngữ đều diễn
trọn một ý (một
phán đoán) còn thành
ngữ
(…) chỉ
diễn đạt
một khái niêm
tương đương với
một
từ,
ho
ặ
c
một cụm
từ”.
[44;130]
1.1.1.6 Cũng nói
về
thành
ngữ,
tục
ngữ
các tác
giả
Lê Bá Hán,
Trần
đình
S
ử
,
Nguy
ễ
n
Khắc
Phi trong cuốn
“Từ điển thuật ngữ Văn
học” (NXB Giáo dục, 2004) cũng
đưa
ra hai khái
niệm rạch
ròi
về
thành
ngữ,
tục
ngữ.
Theo các tác
giả
thành
ngữ
là “một
cụm
từ
hay
ngữ
cố
đ
ị
nh,b
ề
n
vững,
có tính nguyên khối
về ngữ
nghĩa không
nhằm
di
ễ
n
trọn một ý, một
nhận
xét
như
tục
ngữ
mà
nhằm thể hiện
một quan
niệm dưới
một
hi
ệ
n
tượng
sinh động hàm xúc. Thành
ngữ hoạt
động
như
một
từ
trong câu. Còn tục
ngữ
là
“một
thể loại văn
học dân gian mà
chức năng
chủ
yếu
là đúc
kết
kinh
nghi
ệ
m,
tri
th
ứ
c
dưới
hình
thức những
câu nói
ngắn
ngọn, xúc tích, giàu
vần điệu,
hình
ảnh dễ nhớ,
d
ễ
truyền
c
ả
m…”[10;377].
Nhìn chung,
vấn đề
khái
niệm về
thành
ngữ,
tục
ngữ vẫn chưa
có
sự
thống
nh
ấ
t
giữa
các tác
giả
nghiên
cứu văn
học. Mỗi tác
giả đều
cố
gắng đưa
ra một khái
niệm để
làm rõ
hơn về
thành
ngữ,
tục
ngữ nhưng hầu hết những
khái
niệm đưa
ra
vẫn chưa
lí
gi
ả
i
được hết
giá trị của thành
ngữ,
tục
ngữ.
Tuy nhiên, cũng
cần phải
ghi
nhận những
đóng
góp của các nhà nghiên
cứu
trong
việc
tìm tòi khám phá
chiều
sâu giá trị của thành
ng
ữ
,
tục
ngữ.
Nó đóng vai trò quan trọng,
tạo cơ sở tiền để
cho
việc
nghiên
cứu
thành
ngữ,
tục
ngữ
sau này.
1.2 Thành ngữ, tục ngữ theo quan
đi
ể
m
của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ.
Trung t
â
K
m
hô
H
ng
ọ
c
c
h
ỉ
l
l
i
à
ệ
đ
u
ố
i
Đ
t
ư
H
ợ
n
C
g
n
ầ
g
n
hiê
T
n
h
c
ơ
ứu
@
của
T
cá
à
c
i
tá
li
c
ệ
g
u
i
ả
h
v
ă
ọ
n
c
h
ọ
t
ậ
c,
p
th
v
àn
à
h
n
n
g
g
ữ
h
,
t
i
ụ
ê
c
n
ng
c
ữ
ứ
c
u
òn
làm tốn
biết
bao
giấy mực
của các nhà nghiên
cứu
ngôn
ngữ.
Cũng giống các nhà nghiên
cứu văn
học, khi nhìn
nhận về
thành
ngữ,
tục
ngữ
thì
giữa
các nhà ngôn
ngữ
học cũng có
rất nhiều
ý
kiến
đánh giá khác nhau xoay xung quanh khái
niệm về
thành
ngữ,
tục
ng
ữ
.
Nếu như
các nhà nghiên
cứu văn
học chủ
yếu dựa
trên tiêu chí nội dung
để
xác định ranh
giới giữa
thành
ngữ
và tục
ngữ
rồi trên
cơ sở
đó
sẽ đưa
ra quan
điểm
của mình
về
khái
niệm
thành
ngữ,
tục
ngữ
thì các nhà nghiên
cứu
ngôn
ngữ
học
lại
chủ
yếu dựa
vào tiêu chí
hình
thức
hay tiêu chí
kết cấu ngữ
pháp
để
xác định ranh
giới
thành
ngữ,
tục
ngữ
và sau
đó
đưa
ra khái
niệm bước đầu về
thành
ngữ,
tục
ngữ Việt
Nam.
1.2.1 Trong cuốn
“Hoạt
động của
từ Tiếng Việt”
(NXB Khoa học xã hội Hà Nội,
1978) tác
giả
đái
Xuân Ninh đã cho
rằng
tục
ngữ
là đối
tượng
của
văn
học dân gian có
chức năng
thông báo là một câu hoàn chỉnh,
diễn đạt
một ý trọn
vẹn.
Thành
ngữ
là đối
tượng
của
từ vựng
học có
chức năng
định danh, là tên gọi của
những
khái
niệm.
Và qua
đó tác
giả
đã
đưa
ra
những điểm
chung của thành
ngữ
và tục
ngữ: đều
là
những đơn
vị
s
ẵ
n
có trong
tiếng
nói chúng
được
sáng
tạo
ra trên
những
quá trình sinh
hoạt
của xã hội, và
được lưu truyền lại về
sau là
bởi
chúng đúc
kết được
kinh
nghi
ệ
m,
kết
tinh
được
trí
tu
ệ
của
quần
chúng trong khái quát hóa
hiện thực để
rút ra một
kết luận,
một
nhận
định
về
s
ự
vật
khách quan.
1.2.2 Trên
tạp
chí ngôn
ngữ
số 4 / 1980, tác
giả
Hoàng
Văn
Hành trong bài
vi
ế
t
“Tục
ngữ
trong cách nhìn của
ngữ
nghĩa học” đã
đưa
ra cách nhìn
nhận
của mình
về
tục
ngữ như
sau: Tục
ngữ
là
những
câu mang thông
điệp nghệ thuật.
Nó không chỉ có
c
ấ
u
trúc
ngữ
pháp là cách tổ
chức
các
yếu
tố
ngữ
âm và
từ vựng
mà nó còn là
cấu
trúc
ng
ữ
nghĩa
tức
bao gồm:
những yếu
tố thuộc
về
nội dung miêu
tả hiện thực (chức năng
định
danh) cũng
như
dụng ý thông báo
(chức năng
thông tin). Và bên
cạnh cấu
trúc
ngữ
pháp,
cấu
trúc
ngữ
nghĩa thì Hoàng
Văn
Hành còn xác định tục
ngữ
có thêm
cấu
trúc
văn
học
(bao gồm
những yếu
tố
như thực tại
mà tục
ngữ phản
ánh,
hệ
thống hình
ảnh, tư
t
ưở
ng,
chủ
đề,
v.v ) hòa
quyện với cấu
trúc ngôn
ngữ
thành một
thể
không tách
r
ờ
i.
1.2.3 Tác
giả
Nguy
ễ
n
đ
ứ
c
Dân trong bài
viết “Ngữ
nghĩa thành
ngữ
và tục
ngữ
-
Sự vận
dụng” trên
tạp
chí ngôn
ngữ
số 3/1986 cũng
đưa
ra quan
điểm về
khái
niệm
thành
ngữ,
tục
ngữ như
sau: Thành
ngữ,
tục
ngữ
là
những đơn
vị ngôn
ngữ
ổn định
về
hình
th
ứ
c
phản
ánh
những
lối nói, lối suy nghĩ
đặc
thù của một dân tộc. Thành
ngữ phản
ánh các
khái
niệm
và
hiện tượng;
tục
ngữ phản
ánh các quan
niệm, những
suy nghĩ,
những
tri
th
ứ
c
và cách
tư
duy của một dân tộc
về
các
hiện tượng,
các quy
luật tự
nhiên và xã hội”[3;1]
1.2.4. Sau khi
đưa
ra khái
niệm về
thành
ngữ:
“Là một
loại đơn
vị ngôn
ngữ
có
sẵn.
Chúng là
những ngữ
có
kết cấu chặt chẽ
và ổn định, mang một ý nghĩa
nhất
định, có
Tru
c
n
h
g
ứ
c
t
â
n
ă
m
ng
H
đ
ị
n
ọ
h
c
d
l
a
i
n
ệ
h
u
và
Đ
đ
H
ượ
C
c
t
ầ
hự
n
c
T
hi
h
ệ
n
ơ
tr
@
ong
T
gi
à
ao
i
l
t
i
ế
ệ
”[
u
27
h
;1
ọ
2
c
],
t
t
á
ậ
c
p
gi
v
ả
à
Ng
n
u
g
y
ễ
h
n
iê
V
n
ă
n
c
M
ứ
ệ
u
nh
trong bài
viết
“Vài suy nghĩ góp
phần
xác định khái
niệm
thành
ngữ Tiếng Việt”
trên
t
ạ
p
chí ngôn
ngữ
số 3/1986 cũng
đưa
ra ba tiêu chí
để
xác định ranh
giới giữa
thành
ngữ
và
tục
ngữ:
tiêu chí ý nghĩa,
ngữ
pháp,
chức năng. Về mặt
ý nghĩa thành
ngữ thường
nghiêng
về
cái có tính
chất hiện tượng, ngẫu
nhiên, riêng
lẻ.
Còn nội dung của tục
ngữ
th
ườ
ng
nghiêng
về
cái
bản chất,
khái quát và
tất yếu; về mặt ngữ
pháp đa số thành
ngữ
có
c
ấ
u
trúc
những ngữ
còn
tất cả
tục
ngữ
có
cấu
trúc
ngữ
pháp của
đơn
vị câu;
về mặt chức
n
ă
ng
thành
ngữ
làm
nhiệm
vụ định danh, còn tục
ngữ giữ chức năng
thông báo.
1.2.5. Trong cuốn “Tục
ngữ Việt
Nam
cấu
trúc và
thư
pháp”, (NXB Khoa học xã
hội, 1997) tác
giả
Nguy
ễ
n
Thái Hòa cũng
đưa
ra quan
niệm
của mình
về
tục
ngữ như
sau
“Tục
ngữ
là một
loại
phát ngôn
đặc biệt
hình thành
từ
trong
lời thoại hằng
ngày
nhưng
tồn
tại như
một
đơn
vị ngôn
ngữ,
có
thể
nghiên
cứu ở
các
cấp
độ và các chuyên ngành khác
nhau: cụm
từ, ngữ
cú
(từ vựng
học,
ngữ vựng
học), câu cố định, phát ngôn làm
sẵn
(ng
ữ
pháp học) và
văn bản
-
thể loại văn
học
(văn
học dân gian – thi pháp học), có
cơ cấu
ng
ữ
nghĩa – cú pháp đa
dạng,
có khuôn hình cố định làm
cơ sở
cho
sự
tái
hiện, lưu giữ
và
s
ả
n
sinh
những kiểu
nói tục
ngữ”
[18;72]
1.2.6. Cùng bàn
về vấn đề
thành
ngữ
và tục
ngữ
thì tác
giả
Hoàng
Văn
Hành trong
cuốn
“Kể
chuy
ệ
n
thành
ngữ,
tục
ngữ”
cũng
đưa
ra một số
nhận
định sau. Theo tác
giả
thì
“…thành
ngữ
là một
loại
tổ
hợp từ
cố định,
bền vững về
hình thái -
cấu
trúc, hoàn
ch
ỉ
nh,
bóng
bẩy về
ý nghĩa
được sử
dụng rộng rãi trong giao
tiếp hằng
ngày
đặc biệt
là trong
khẩu ngữ”
[12;25] (…) còn “tục
ngữ
là
những
câu – ngôn
bản đặc biệt, biểu
thị
nh
ữ
ng
phán đoán một cách
nghệ thuật”
[12;29].
Từ việc đưa
ra định nghĩa và
sự
khác
biệt
gi
ữ
a
thành
ngữ
và tục
ngữ,
Hoàng
Văn
Hành đã đóng góp một
phần
không nhỏ trong
việc
định
nghĩa và phân
biệt
thành
ngữ,
tục
ng
ữ
.
Nhìn chung, các tác
giả đều
đã cố
gắng đưa
ra
những
ý
kiến để
lí
giải
thành
ng
ữ
,
tục
ngữ
là gì.
đồng
thời
cũng
đưa
ra
được những
tiêu chí
để
phân
biệt
thành
ngữ,
tục
ng
ữ
.
Tuy nhiên cách nhìn
nhận
lí
giải
chỉ
dựa
trên ý
kiến
chủ quan của mỗi
người chưa
có
s
ự
đồng
tình thống
nhất giữa
các nhà nghiên
cứu với
nhau. Vì
vậy
đã gây không ít khó
kh
ă
n
cho
người
đọc trong
việc tiếp nhận. Nhưng
bên
cạnh sự
khó
khăn
đó, nó cũng góp
ph
ầ
n
định
hướng
một cách rõ ràng cho
việc
nghiên
cứu
của
những thế hệ
các nhà nghiên
c
ứ
u
sau này.
1.2 MỘT SỐ NÉT TƯƠNG
đỒNG
VÀ
D
Ị
BIỆT GIỮA THÀNH NGỮ VÀ
T
Ụ
C
NGỮ
1.2.1 Một số nét tương đồng
1.2.1.1. Nguồn gốc
Trung t
â
T
m
hàn
H
h
ọ
n
c
g
ữ
l
,
iệ
t
ụ
u
c
Đ
ng
H
ữ
l
C
à
n
ầ
h
n
ữ
n
T
g
h
đ
ơ
ơ
n
@
vị
l
T
ời
à
n
i
ó
l
i
iệ
có
u
s
h
ẵn
ọ
đ
c
ượ
tậ
c
p
hìn
v
h
à
th
n
à
g
nh
hi
v
ê
à
n
s
ử
c
d
ứ
ụ
u
ng
rộng rãi,
tự
nhiên
trong
đời
sống xã hội. Giống
như
các
đơn
vị
từ
trong ngôn
ngữ,
thành
ngữ,
tục
ngữ được
hình thành
từ nhiều
nguồn khác nhau,
ở những thời điểm
khác nhau.
a. Thành ngữ, tục ngữ có nguồn gốc vay mượn từ thành ngữ, tục ngữ
nước
n
go
à
i
Như
chúng ta đã
biết, nước
ta
trải
qua một
thời
kì lịch
sử
dài và chịu
sự
đô hộ một
ngàn
năm
của Trung Quốc cho nên
ở
một
thời
kì nào đó
văn
hóa
phương Bắc
đã chi phối
và
ảnh hưởng đến văn
hóa
nước
ta trên các
tất cả
các lĩnh
vực từ đời
sống,
tư
duy
vật
ch
ấ
t,
ngôn
ngữ
mà trong đó thành
ngữ,
tục
ngữ
là một bộ
phận
chịu
ảnh hưởng
không nhỏ.
Thành
ngữ,
tục
ngữ
của chúng ta
phần lớn
là vay
mượn từ
thành
ngữ,
tục
ngữ
Quốc Hán.
Những
thành
ngữ,
tục
ngữ
này khi
mượn
vào
Tiếng Việt
có
thể được giữ
nguyên hình thái
ngữ
nghĩa, dịch
từng chữ,
dịch nghĩa chung của thành
ngữ,
tục
ng
ữ
.
* Thành ngữ, tục ngữ giữ nguyên hình thái cấu
trúc
ngữ nghĩa: Theo thống kê
trong tổng số 354 thành
ngữ,
tục
ngữ mượn từ tiếng
Hán trong
Tiếng Việt,
có 71 thành
ngữ,
tục
ngữ
nguyên
vẹn chiếm
kho
ả
ng
20%.
Ví dụ:
Thành
ngữ“Khai
thiên
lập
địa”
“Thất
điên bát
đảo:
”
Tục
ngữ:
“Dân dĩ
thực
vi tiên”
“
đ
i
ệ
u
hổ li
s
ơ
n”
Thành
ngữ,
tục
ngữ
gốc Hán
mượn
nguyên
vẹn
chủ
yếu
dùng trong
văn viết
và
mang tính sách
vở
rõ
rệt.
Chúng ta có
thể
tìm
thấy
các thành
ngữ,
tục
ngữ
này trong các
tác
phẩm văn
học cổ, trong
văn
chính
luận trước
và nay.
* Thành ngữ, tục ngữ mượn gốc Hán dịch một bộ phận
ra
T
i
ế
n
g
Vi
ệ
t
:
có
th
ể
kể đến
một số thành
ngữ,
tục
ngữ
sau:
“An
phận
thủ kỉ” dịch là “an
phận
thủ
th
ườ
ng”
“An
như
bàn
thạch”
dịch là
“vững như
bàn
th
ạ
ch”
* Thành ngữ, tục ngữ mượn gốc Hán
được
dùng
trong
hình thức dịch toàn
b
ộ
các
yếu
tố ra
Tiếng Việt
và
giữ
nguyên
cấu
trúc.
đó
là
những
thành
ngữ,
tục
ngữ như
sau:
“Ngồi
ăn
núi
lở”
dịch
từ
“Tọa
thực sơn
b
ă
ng”
“
đ
ứ
ng
ngồi không yên” dịch
từ
“Tọa
lập bất
an”
Tục
ngữ
“Một
chữ
cũng là
thầy, nửa chữ
cũng là
thầy” được
dịch
từ
câu tục
ng
ữ
“Nhất tự
vi
sư,
bán
tự
vi
s
ư
”
* Thành ngữ, tục ngữ mượn từ gốc Hán được dùng
trong
hình thức
d
ị
c
h
nghĩa chung của thành
ngữ,
tục
ngữ
ra
Tiếng
Vi
ệ
t
Ví dụ:
Trung tâm Học
liệ
“
u
T
ư
Đ
ớ
H
ng
C
c
ơ
ầ
h
n
àn
T
h s
h
ự
ơ
” t
ạ
@
m
d
T
ị
c
à
h
i
“
l
T
iệ
ùy
u
c
h
ơ
ọ
ứ
n
c
g
t
b
ậ
i
ế
p
n”
và
nghiên
cứu
“Tâm
đầu bất tự khẩu đầu” tạm
dịch “Nghĩ một
đằng
làm một
n
ẻ
o”
b. Thành ngữ, tục ngữ hình thành từ văn chương
Có
thể
nói
văn chương vừa
là
mảnh đất để
dung
dưỡng
thành
ngữ,
tục
ngữ
đồng
thời
cũng là
nơi để
thành
ngữ,
tục
ngữ
“đâm chồi
nảy
lộc” và phát
triển
thêm
nhiều
thành
ngữ,
tục
ngữ mới
làm giàu thêm vốn ngôn
ngữ
của dân tộc.
Qua
sự kiểm
nghi
ệ
m
của
thời
gian, có
rất nhiều
thành
ngữ,
tục
ngữ được
hình
thành
từ văn chương
cổ
như:
“
Rắn
già
rắn
lột,
nguời
già
người
tụt vào
săng” (xuất
phát
t
ừ
truyện thần thoại
cùng tên); “ Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng
Bân”
(xuất
phát
từ truyện
“Nàng Bân”);
“Th
ạ
ch
Sùng còn
thiếu mẻ
kho”
(từ truyện
“
S
ự
tích con mối”); “Áo
vải cờ
đào” (
bắt
nguồn
từ
bài
thơ
khóc chồng của Ngọc Hân công
chúa, bài “Ai
tư
vãn”) :
“ Mà nay áo
vải cờ
đ
ào
Giúp dân
dựng nước kiến
bao công
trình”
đồng
thời
thành
ngữ,
tục
ngữ
cũng
được
hình thành qua con
đường
sáng
tạo
ngôn
ngữ
của một số nhà
thơ,
nhà
văn, được sử
dụng
lặp
đi
lặp lại nhiều lần
mà
trở
thành,
thành
ngữ,
tục
ngữ.
Ví dụ
như
một số
trường hợp
tiêu
biểu
sau:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét