Cá không ăn muối cá ương
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư
Những câu ca dao lục bát như thế ắt phải nằm sẳn trên môi của mọi người một cách dể dàng và
thông đạt lắm!
Đó là cái nhìn nội giới trong ca dao mà mỗi khi chúng ta phóng vào hiện tượng; đó là bản thể
của “cái tình” trong ca dao.Tuy mỗi câu hò điệu hát có khác nhau nhưng cái nhìn của tình yêu
vẫn là một và cái gặp gỡ đó,nói chung; là cái đồng tình bất biến của con người.Sự gặp gỡ
chính nơi lòng ý thức,nơi thức tỉnh của ý thức trước những hiện hữu đời và gia đình hay chính
là nơi những gì mà con người kêu lên thiết tha hay để bộc lộ sự thống khổ.Hình ảnh của thi ca
nói chung và của ca dao Việt Nam nói riêng là tiếng kêu thức tỉnh của con người tạo nên, dùng
để ví von của người dân quê trước cuộc đời.Mà cuộc đời này; con người đã gắng bó chặt chẽ
trong mọi hoàn cảnh trong mọi tình huống của đời người,từ những tình cảm của cái tình đó đã
nói lên được một cái gì âu yếm và thầm kín.
Anh đi ba bửa nhớ về
Rừng sâu nước độc chớ hề ở lâu
Hình ảnh “anh đi ba bửa”rồi”chớ hề ở lâu” nó biến ca dao thành thi ca,từ những hiện tượng
thực thể biến thành tha thể xuất phát từ ngoại giới đi vào nội giới giữa mối liên hệ tha nhân và
chủ thể nó cặp kè,sánh vai trong hoàn cảnh đối đáp để nên vợ nên chồng,ca dao không còn
hiện diện với ca với hát mà biến dạng thành hò,câu hò trực diện với thực tại như một sự hiến
dâng!
Trai nào nỗi tiếng anh hào
Anh mà đối đặng má đào em xin trao ơ…ơ
Cái vũ trụ mộng mơ ấy hoàn toàn ở trong đôi mắt chiêm ngưỡng của con người khi phóng cái
nhìn vào tương lai giữa sự viên mãn của tình yêu.Vũ trụ này chưa hiện thực rốt ráo nhưng đã
xuất phát một ước vọng thực hữu.Hình ảnh cuộc đời không bị tha hóa mà bắt nguồn từ vũ trụ
thực hữu;vì vũ trụ ấy có thực trong cuộc đời này.
Trai nước Việt nỗi tiếng anh hào
Anh đà đối đặng vậy má đào xin trao dâng ơ…ơ
Hẳn nhiên; ý thức giữa trai gái rất đặc thù trong phạm vi lứa đôi,nói trắng ra là tình yêu qua
mọi lứa tuổi, đặc biệt tình yêu nông thôn, ý thức ấy bừng lên từ cuộc sống và chiếu sáng cuộc
sống đó là lối tả chân mà cảnh đời không có hoặc chưa có nên chi vũ trụ dự ước của con người
cũng là những cảnh đời có thực mà được phóng nhiệm lên cảnh đời có thực trong ca dao.Cho
5
nên ca dao phát ra giữa chốn đồng quê,giữa nơi xa phố thị tự nó dâng tràn trong nhân gian,vì
thế tìm đến một tác giả trong ca dao đều trở nên không cần thiết và có muốn biết chăng nữa
cũng không được vì mọi người đã đi vào cảnh đời một cách tự nhiên và tự nhiên như mình là
tác giả vậy! Nó vượt thoát cả không gian và thời gian kể cả hiện tại,quá khứ và tương lai,vượt
thoát từ những người sáng tạo ra ca dao,ca dao bỗng nhiên độc lập để tạo cái đắm đuối,rụt rè,e
lệ nhưng đầy tính lãng mạng cho dù mối tình chân lấm tay bùn.
Ngó em chẳng dám ngó lâu
Ngó qua một chút đở sầu mà thôi!
Cái ngó ấy là cái ngó thức tỉnh,một cái ngó của kẻ tình si và cũng là cái nhìn mơ mộng của
người đồng quê đứng trước cuộc đời có thực.Chính đó là sự sáng tạo của ca dao.Nói đến mơ
mộng hình như chúng ta đụng phải một phản ứng tâm lý.Theo tâm lý học giài thích: khi mơ
mộng thì đó không phải là một trạng thái thức tỉnh.Tâm lý học quan niệm như thế nầy”En
suivant la pente de la reverie”Tiếp đó là cái mơ về của ý thức thức tỉnh “đở sầu” nằm trong ý
thức mơ về (rêver à/daydreaming)mà ở đây mơ không có nghĩa là buông xả theo giòng đời và
chìm dần trong mộng để rồi mất luôn tính sáng tạo nghệ thuật vì ý thức thức tỉnh thường đối
lập với ý thức thức tỉnh nghệ thuật và làm lu mờ ý thức mơ về cho dù trong chiêm bao chăng
nữa đã cho thấy một ý thức thức tỉnh.
Một duyên, hai nợ, ba tình
Chiêm bao lẫn quất bên mình năm canh
Thành ra mơ chiêm bao ở đây là cái nhìn sáng tỏ của cái mơ về giữa duyên,nợ và tình đã bừng
lên trong ý thức về thân phận của người phụ nữ.
Mơ về hay chiêm bao không còn là mối sầu buông xuôi của tâm lý học mà trái lại mơ và chiêm
để phóng thể ngôn từ”bên mình năm canh”trong giấc mơ nữa đêm trở nên ý thức chớ không
phải chiêm bao vô thức.
Trong cái nhìn vũ trụ quan như thế đã cho ta thấy được ca dao là một lối sáng tạo hết sức đặc
biệt mà chất liệu là cảnh đời,cô đọng trong từng câu hò điệu hát mượn từ ca dao để mơ về…
Ca dao không đòi hỏi tác giả là ai,nó đã trở thành của chung,tác giả chung giữa cuộc đời này
mà trong thi ca vốn có sự bừng tĩnh đầy sáng tạo,ca dao đại diện cho những cuộc tình trọn vẹn
hay tan hợp,nói lên nỗi nghẹn ngào,uất nghẹn tất cả qui về sự mơ về cõi thực để tìm thấy được
chân lý của cuộc đời.Giờ đây ngôn từ sáng tạo của ca dao đã thành thơ,những thể thơ mới như
ngày nay.
Cá lý ngư sầu tư biếng lội
6
Chim phượng hoàng nhớ cội biếng bay
Anh thương em đừng vội nắm tay
Miệng thế gian ngôn dực
Phụ mẫu hay sẽ rầy
Ca dao như thế đấy! mỗi khi đọc lên đã cho chúng ta cái cảm giác tợ như ức chế,như phụ rẫy
như khoa phân tâm học quan niệm.Lối thoát bằng ức chế chỉ xẩy ra với cảnh đời,những người
bị tập quán kiềm chế mới lâm vào khát vọng của bản năng cho nên mới tìm lối thoát bằng lối
này hay hình thái khác để tránh né.Quan điểm đó đôi khi cũng có tính võ đoán và không hoàn
toàn đúng hẳn,cho nên đừng để cái nhìn ức chế vào đây.Vì sao? Vì “anh thương em” có nghĩa
là đừng vội đánh mất cái đẹp mà đây là tiếng nói mặn mà,bất luận ở đâu nơi chốn nào người
phụ nữ Việt Nam đoan trang trong tiếng nói ấy tức tiếng nói của ca dao,tiếng nói soi sáng,tiếng
nói của ái tình.
Em có thương anh
Em nói cho thiệt tình
Để anh lên xuống
Ơ…ơ chớ một ơ…ơ mình ơ bơ vơ
Đó là một thứ gì vô biên chân thật của tình đồng quê một bày tỏ cao nhất trong đời nhưng biết
nói làm sao khi ý thức vô biên chưa có thì nói làm sao khi cái nhìn tuyệt đối chỉ ngưng trong
hiện tượng của đất trời cho nên họ không ngần ngại bộc bạch một cách chân tình cho dù ngập
ngừng bày tỏ “ơ ơ chớ một ơ ơ mình ơ bơ vơ” Ca dao nông thôn nó diễn tả tích cực như thế
đó!diễn tả cái mùi vị chất phát mặn mà, đượm bạc,cái ngập ngừng dể yêu ấy.
Đó là hướng đi lên của ngôn từ ca dao Việt Nam thoát ra từ tiếng nói văn chương bình dân để
đạt tới hiệu năng của sự bày tỏ.Cho nên hình ảnh của ca dao;dù sao đi nữa nó vẫn có cái mới
của riêng mình,mở ra một ngôn từ sáng lạn và nó cũng đánh dấu những bước thăng trầm của
sức diễn đạt giữa người với người,những hình ảnh của ca dao vô hình chung trở nên tư liệu của
cảnh đời:người,cảnh vật,nhân sinh và tình yêu.Chúng ta cũng có thể nghĩ rằng nhờ ý thức
chuyển vị đẹp đẻ đó của con người cuộc đời trở nên tươi đẹp hơn “the beautiful-life”nhờ đó
tình cảm con người được tỏa rạng.Cho nên khi bắt gặp một hình tượng trong ca dao,dù có mộc
mạc bao nhiêu cũng mở rộng cho chúng ta một chân trời mới đầy ý nghĩa hơn nhất là tình yêu
có một sắc màu luôn luôn lung linh của người con gái xuân thì dưới một cái gì lả lướt của ca
dao.Ngôn ngữ ca dao rất cô đọng và tràn đầy.
Tóc em dài em cài bông hoa lý
Miệng em cười anh để ý anh thương
7
Cho nên cái mộc mạc của nông thôn đã làm cho họ cảm thấy hạnh phúc,sung sướng và mỗi
câu ca dao nói lên cảnh đời;dù trong mơ vẫn trung thực với đời.Vì vậy cái nhìn của họ như bao
trùm từ ngoại giới đến nội giới đều đúc kết thành lời thơ,lời thơ đó chúng ta gọi là ca dao.
Nàng về nàng nhớ ta chăng
Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười
Mỗi lúc cái nhìn hay cái nhớ càng phóng ra rộng rãi, càng thấy cuộc đời đẹp và bao la diệu
vợi,kể cả nụ cười nhe răng”cần cẩu” vẫn là niềm nhớ không quên,bởi vì; chán gì những cái
nhớ mà lại đi nhớ hàm răng em cười,biết đâu trong cái nhớ đó có một chút gì lãng mãn của ca
dao ,tầm thường thật nhưng bao la và mênh mông vô cùng đối với ngôn từ của ca dao.
Ca dao bình dân nói lên được cái khát vọng đó mà nhà thơ bình dân của chúng ta hoà nhập một
cách tài tình giữa vũ trụ đầy khát vọng tình người.
Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon
Đọc lên ta cảm nhận được phần nào lẽ sống,một lẽ sống nồng đượm của tình yêu khát khao đi
từ chủ thể con người đến cuộc đời.Ca dao diễn đạt được cái mối giây liên lạc ấy.Mối giây đó
không phải hai chiều giữa người và sự vật.Vũ trụ khát vọng của ca dao là hình ảnh cuộc đời
mà con người mơ về một cái gì tầm thường nhưng ước sống.Ca dao tạo được cảnh giới mơ về
cho những người thành thị và những người xa tầm vóc bình thường.Ngay cả việc mơ về của
tình yêu trong cái dung dị đó nó đã hàm chứa một tương lai,một lối đi về của cuộc đời.Mơ về ở
đây là cuộc đời có thực chính đấy là phần ý nghĩa hiện hữu của con người.Ca dao tạo nên
những giấc mơ hiện thực như vậy đó; cho nên cuộc đời mà ca dao vốn có ý nghĩa và sống có ý
nghĩa để đưa tới cảnh đời hiện thực.
Trầu vàng ăn với cau xanh
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời
Duyên,nợ,tình là khát vọng của tình cảm song hành với công việc và sự vật đó là cái
nhìn mơ về của hạnh phúc,một gắng bó thực hữu giữa tình yêu vợ chồng một lối mơ về của ca
dao,một khát vọng trung thành phát xuất từ cảnh đời hiện thực cho nên lối mơ về đó tạo nên
một hiện hữu đồng nhất giữa người và vũ trụ.Con người trôi chảy vào đời nhờ những hình ảnh
thuần đơn mà khát vọng đó đã tạo nên thơ;một nguồn thơ nhất thể.Thành thử vũ trụ khát vọng
của ca dao là vũ trụ bắt nguồn từ cuộc đời thực hữu để tiến tới khát vọng.Vì thế ca dao là tiếng
kêu chân thành của con người ham sống,yêu đời,yêu người.Ca dao không yêu cầu cái ủy mị
đài các,mơ mộng viễn vông,ca dao đi gần với quần chúng,nhất là đồng bào miền quê và hoá
giải mọi uẩn khúc,vui buồn đưa con người về với hạnh phúc.Tác giả của ca dao muốn vậy! Đó
8
chính là cuộc đời mà người nghệ sĩ miền quê yêu cầu.
Sớm mai gánh nước mờ mờ
Đi qua ngõ giữa tình cờ gặp anh
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu
Trầu nầy ăn thật là cay
Dù mặn dù lạt dù cay dù nồng
Dù chẳng nên vợ nên chồng
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương
Cầm lược thì nhớ tới gương
Cầm trầu nhớ túi,nằm giường nhớ nhau.
Ca dao còn là hình ảnh, ở đây là những hiện tượng của bản thể.Do đó hình ảnh không còn là
hiện tượng đơn thuần mà hiện tượng có nội dung cho nên mới được gọi là hình ảnh.Chính
những chất liệu trong ca dao đã tạo nên hình ảnh,hình ảnh của vật thể,hình ảnh của vũ trụ,hình
ảnh của tình yêu. Đó là những cái nhìn khai phóng của chúng ta để tìm ra cái nội dung đó;với
cái nhìn của ca dao luôn luôn có sự ẩn dấu,tiềm ẩn, đẩy cái hình ảnh đó như thúc dục người
nghệ sĩ ca dao phải ẩn mình, đấy là cái nhìn thuở ban đầu.Cái nhìn hai chiều song phương từ
bản thể đến hiện tượng để rồi từ hiện tượng qui về bản thể tạo nên một nội dung hình thể như
thế là cái nhìn trực tiếp của ca dao nói riêng và thi ca nói chung do đó những sự vật cùng từ
ngữ tham dự vào cuộc đời và tạo nên hình ảnh và từ hình ảnh tạo nên ý nghĩa của mình.
Cho nên cái nhìn trong ca dao dù chỉ là cái nhìn ban đầu là truyền thừa vào biến trình diễn đạt
của dân tộc,nội dung ý nghĩa vẫn còn vang vọng nhờ những hình ảnh đó.Cái ngôn từ trong ca
dao Việt Nam trước sau vẫn vướng vít hình ảnh của tình yêu mà ca dao là môi giới trong lãnh
vực của tình yêu.
Ca dao là mạch thở của thơ,là nguồn sáng tạo vô tận,là ngôn từ của văn chương bình dân chứa
đựng hết thảy tình người trong đó.Ca dao càng mộc mạc bao nhiêu thì càng chan chứa bấy
nhiêu,ca dao không đỏm dáng,chải chuốt bóng bẩy mà thường xử dụng những ngôn từ thực tế
của cuộc đời,mà chúng ta thường gắn liền với nhau:con người và cuộc đời,nó trở thành như
định lệ.Nhưng nghĩ cho cùng đó chính là sức sống,chính bản thể thôi thúc,con người với hiện
tượng tình yêu và từ hiện tượng nầy thoát ra hiện tượng khác bằng ý thức bản thể có ý hướng
của mình.Ca dao gợi lên sức sống để đi vào cuộc đời và hoà mình với hiện tượng rồi từ hiện
tượng ấy hoà mình với sự vật để đột biến thành hình ảnh cho ca dao,lúc đó sự hiện diện của ca
dao sáng tỏ không còn gì gọi là ẩn tàng hay ẩn dụ nó biến thành thi ảnh mang nội dung ý nghĩa
biến động của bản thể con người.Do đó ca dao trở nên hiện hữu như ta đã thấy trong ca dao.
Tóm lại ca dao đã du nhập những giòng thơ của văn chương bình dân,biến hình từ câu
hò điệu hát,trao đổi,hò đối đáp,cắt xén,rút gọn,dể dàng truyền khẩu từ đó được gọi là ca dao,nó
thường mô tả tình người dưới muôn hình vạn trạng, từ nội giới tới ngoại giới. Đấy cũng là một
phần bản thể dân tộc,một văn hoá văn minh truyền thống. Điều đặc biệt của ca dao ,ngôn từ
9
không ước lệ,ca dao nói những gì thực hữu giữa cuộc đời,nương theo chiều sáng tạo của thi ca
qua bao thế kỷ và chế ngự cả thơ Việt lẫn thơ Đường bằng những câu rất đơn sơ mà đầy ý
nghĩa và đi sâu vào mọi tầng lớp trong xã hội một cách dể dàng và nhanh chóng.Một ngôn từ
thiết tha,một đường giây giữa nội tâm và ngoại giới. Đó là nhân tố trong văn chương bình dân
Việt Nam.Một thứ triết lý của văn chương bình dân cần phải tô điểm và nghiên cứu chiều sâu
của nó
2.2 Ca dao luôn gắn liền với tình yêu.
2. 2.1 Ca dao – Tình yêu quê hương, đất nước
“Ðất Quảng Nam, chưa mưa đà thấm,
Rươụ hồng đào chưa nhấm đà say
Ðối vớI ai ơn trọng, nghĩa dày ,
Một hột cơm cũng nhớ ,
Một gáo nước đầy vẫn chưa quên ”
.Vâng! Chắc hẳn đây là ca dao quen thuộc của người dân xứ Quảng – cũng là quê hương
của tôi. Hình ảnh quê hương đất nước bao giờ cũng in dấu đậm đà trong ca dao. Đọc ca dao
, ta cảm thấy tâm hồn nhân dân ôm trọn bóng hình quê hương đất nước. Mỗi vùng quê có
một cách nói riêng, cảm nhận riêng về sự giàu đẹp của nơi chôn rau cắt rốn của mình. đọc
nhưng bài ca ấy , ta vô cùng sung sướng như vừa được đi tham quan 1 số dan lam thắng
cảnh từ bắc vào nam .
Có lẽ đối với tất cả những người dân Việt Nam, ca dao đã trở thành một cái gì đó rất đỗi
quen thuộc, thân thương. Trải qua bao bước thăng trầm của lịch sử, những câu ca dao vẫn
còn đó với một sức sống mãnh liệt đến diệu kỳ. Ca dao được thể hiện đầy đủ dưới nhiều
phong cách, cung bậc khác nhau nhưng có lẽ đề tài được nhân dân ta chú ý đến nhiều nhất
chính là tình yêu quê hương đất nước.
Quê hương! Tiếng gọi thật giản dị mà sao thiêng liêng, tha thiết!
Quê hương chính là nơi ta đã sinh ra, "oa, oa "khóc chào đời. Đó cũng là nơi mà chúng ta
trưởng thành. Có thể nói rằng quê hương là người mẹ thứ hai của mõi người, nó nuôi dưỡng
tâm hồn ta. Chính vì thế nên dù khi phải xa quê hương, ta cũng không thể nào quên được
những hình ảnh thân thương của quê hương, dù nó chỉ là những hình ảnh, những sự vật rất
bình dị:
"Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao."
.
Với nhân dân ta, quê hương là nơi quê cha đất mẹ, là cái nôi thân thiết yêu thương. Quê
hương là mái nhà , luỹ tre, cái ao tắm mát , là sân đình , cây đa , giếng nước , con đò . Là
10
cánh đồng xanh là con đò trắng , cánh diều biếc tuổi thơ. Đất nước với quê hương chỉ là
một, là cơ đồ ông cha để lại, là núi sông hùng vĩ thiêng liêng. Quê hương đất nước được nói
đến trong ca dao, dân ca đã thể hiện biết bao tình cảm yêu thương , tự hào của nhân dân ta
biết bao đời nay.
Đất nước ta nơi nào cũng đẹp. Cảnh trí non sông nư gấm như hoa ; sản phẩm phong phú,
con người cần cù, thông minh sáng tạo đã xây dựng quê hương đất nước ngày thêm giàu
đẹp.
Lên ải Bắc đến thăm Chi Lăng , núi ngập trùng cao vút tầng mây , nơi Liễu thăng bỏ mạng .
Ta đến thăm thành Lạng , soi mình xuống dòng sông xanh Tam cờ, thăm chùa Tam Thanh ,
đến với nàng Tô Thị trong huyền thoại:
"Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa núi Thành Lạng, kìa sông Tam Cờ"
"Đồng Đăng có phố Kì Lừa,
Có nàng Tô Thị , Có chùa Tam Thanh"
Thời gian và không gian chẳng thể nào chia cắt được tình cảm của người con nhớ về đất
mẹ, nhớ về quê hương mà ngược lại nó chính là nguồn nuôi dưỡng tình cảm ấy ngày càng lớn
mạnh thêm. Người ta nhớ về quê hương không phải bởi những gì xa hoa, lộng lẫy mà lại nhớ
đến những thứ rất bình dị: "canh rau muống", "cà dầm tương". Hương vị đó quả là đậm đà,
không thể trộn lẫn với bất kỳ hương vị nào khác: hương vị của món ăn đồng quê, những món
ăn đó thật bình dị nhưng đậm đà hương vị quê hương và cũng tràn ngập tình yêu thương. Câu
ca dao còn đưa ta về với làng xóm, ở đó, có những người "dãi nắng dầm sương:, "tát nước bên
đường". Chắc chắn rằng những hình ảnh thân thương, trìu mến của quê hương đó sẽ mãi mãi
sống trong tim của mỗi người.
2.2.2 Ca dao - Tình yêu con người.
Chất nhân văn trong ca dao gắn với quan niệm về con người của người bình dân, thể hiện ý
thức và tình cảm của người bình dân, gắn với một quan niệm khoẻ khoắn, lành mạnh, trong
sáng của chính người lao động. Là quá trình tự nhận thức bản thân của người bình dân trong
hoàn cảnh cuộc sống vất vả, chịu đựng nhiều nỗi bất bình, tủi nhục, đắng cay vẫn giữ được bản
chất tốt đẹp, tình nghĩa đậm đà.vẻ đẹp con người trong các quan hệ cộng đồng, quan hệ xã hội:
nền tảng xã hội là bất công, những xung đột giữa các giai cấp đối kháng - kẻ thống trị và người
bị trị. Vì vậy, ca dao là sự dồn nén của tinh thần đấu tranh, sức phản kháng mạnh mẽ của
người bình dân. Sức sống con người bộc lộ ở nét cứng cỏi trong nhân cách, không chịu khuất
phục trước hoàn cảnh, luôn tìm cách vượt lên những áp lực, định kiến xã hội, chiến thắng số
phận, tin tưởng tương lai và đứng về phía lẽ phải. Chất nhân văn bộc lộ rõ nhất trong lao động
11
sản xuất và đấu tranh xã hội: cần cù, bền bỉ, nhẫn nại, luôn ý thức rõ giá trị của chính mình. Đó
là tầm vóc vĩ đại của nhửng con người bình thường.
Không những thế, vẻ đẹp nhân văn còn bộc lộ trong những quan hệ riêng tư, gắn kết con người
với con người, đi sâu vào đời sống tình cảm của con nguời. Vẻ đẹp ấy hiện lên đằm thắm,
nồng hậu, trọn vẹn cả hai mặt nghĩa và tình. Tinh thần trọng nghĩa khinh tài, quan niệm đạo lí
thủy chung được đề cao trong những mối quan hệ gia đình, tình làng nghĩa xóm… giữa những
người cùng chung cảnh ngộ. Ca dao là tiếng lòng tha thiết, làm đẹp thêm tâm hồn con người
trongnhững ân tình nhắn nhủ hướng về quê hương, những con người cùng tâm tư, đồng điệu về
cảm xúc. Từ đó, ca dao tạo nên những cung bậc trạng thái, cảm xúc uyển chuyển, đa dạng diễn
tả tâm hồn người bình dân, hướng tới những giá trị ổn định, vững bền: thương người, tương
thân tương ái, đoàn kết.
Đặc biệt, vẻ đẹp con người trong mối quan hệ với bản thân tạo nên tiếng nói nội tâm thầm kín
và mãnh liệt nhất, luôn thể hiện tấm lòng nhân hậu, vị tha, hướng đến cái cao cả hoàn thiện. Vẻ
đẹp đáng quí ở cái hồn nhiên chân thật, mạnh mẽ đầy cá tính, giản dị bộc trực. Bên cạnh đó là
sự bay bổng của trí tuởng tượng ắp tràn ước mơ, khát vọng sống của người lao động.
2.2.3 Ca dao – Tình yêu thiên nhiên.
Thiên nhiên là một đề tài lớn trong ca dao. Hình ảnh thiên nhiên cũng như từ chỉ thiên
nhiên xuất hiện rất nhiều trong những lời ca dao, từ ca dao đồng bằng Bắc Bộ, ca dao xứ Nghệ,
xứ Huế đến ca dao Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Sự hiện diện của thiên nhiên trong ca dao phản
ánh mối quan hệ gắn bó giữa con người với môi trường cũng như vai trò thiên nhiên trong tư
duy nghệ thuật của những sáng tác dân gian. Sự hiện diện này không chỉ thể hiện lòng mến yêu
quê hương đất nước của người dân, nét văn hóa đặc trưng từng vùng miền mà thông qua đó,
thiên nhiên còn là phương tiện diễn tả tình cảm, thể hiện triết lý, quan niệm của con người về
thế giới và cuộc sống.
Con người bao giờ cũng là trung tâm của những vẻ đẹp tự nhiên, đem lại sức sống và nét
hài hoà cho thiên nhiên vũ trụ. Thiên nhiên trong ca dao bao giờ cũng được mô tả ở nét tinh tế,
gợi cảm và trữ tình nhất, gắn với cảm quan thẩm mĩ dân gian cụ thể, tinh lọc. Thậm chí có
những bài chỉ tả cảnh nhưng cũng giúp nhận ra tấm lòng với thiên nhiên, sự gắn bó con người
với thiên nhiên. Ca dao cũng có những bài rất hay nói đến khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ của
đất nước:
"Gió đua cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mùng khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ"
Bài ca dao dựng lên trước mắt ta một bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, bình yên của Hồ Tây buổi
sáng sớm. Trong bức tranh đó, người nghệ sĩ dân gian đã khéo léo đan xen cả hai không gian:
12
Động và tĩnh. Một cành trúc mơ màng, mềm mại trong gió sớm, một hồi chuông ngân nga,
một thoáng khói sương huyền ảo cùng nhịp chầy giã giấy nhịp nhàng:"Tiếng chuông Trấn Vũ
canh gà Thọ Xương" như hòa quyện với "nhịp chày Yên Thái tạo nên một khung cảnh thật
bình ên, êm đềm. Làn "khói tỏa ngàn sương" mơ màng như xua đi mọi ưu phiền, những bon
chen tất bật của cuộc sống, đưa ta đến với thiên nhiên tươi sáng, đẹp đẽ, đưa ta trở lại về là ta,
những công dân Việt Nam với phẩm cách tuyệt vời đáng quý.
Từ miền Bắc, ta bước chân vào xứ Nghệ miền Trung:
"Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ."
Đường vào xứ Nghệ nước non nhộm màu xanh tươi mát, còn đường vào miền Nam là sông
nước mở rộng mênh mang:
" Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về"
Mỗi địa danh, mỗi dòng sông, mỗi cánh đồng, ngọn núi đã in đạm bóng hình trong trái tim
người Việt Nam. Người ta gắn bó với quê hương bằng một tình yêu sâu đậm, nồng nàn và ca
dao chính là bức thông điệp dể gửi gắm những tình cảm thiết tha, nồng nàn đó.
Đôi dòng sơ lược về ca dao không thể nào diễn tả được trọn vẹn tình cảm mãnh liệt của người
dân Việt Nam đối với đất nước. Tuy nhiên nó cũng như một nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy mỗi
người hãy biết học tập, tu dưỡng thật tốt vì tương lai sáng rạng tốt đẹp của quê hương, đất
nước!
2.2.4 Ca dao - Tình cảm gia đình
Từ xưa đến nay, những câu hát ru ngọt ngào theo năm tháng cứ đọng lại cứ đọng lại mãi, nuôi
dưỡng tâm hồn chúng ta. Trong đó, những câu hát về tình cảm gia đình
luôn giữ một vị trí quan trọng. Gia đình là cái nôi đầu tiên để trẻ thơ học hỏi và cũng là nơi
cuối cùng con người ta muốn trở về sau biết bao mệt mỏi, ưu phiền ngoài xã hội. Tình cảm
giữa ông bà, cha mẹ, anh chịem và con cháu là thứ tình cảm huyết thống thiêng liêng nhất
nâng đỡ tâm hồn con người, để mỗi chúng ta sống tốt hơn, đẹp hơn.
Công cha như núi ngất trời
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.
Núi cao biển rộng mênh mông
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!
Ca dao dân ca bao đời nay vẫn chảy mãi những khúc hát thiết tha, ngọt ngào ngợi ca về tình
cảm thiêng liêng trong gia đình. Bằng nghệ thuật so sánh, ngôn ngữ , hình ảnh giản dị và
những âm điệu nhẹ ngàng êm ái như những lời ru, mỗi câu ca đã để lại trong lòng người tình
cảm sâu lắng, những bài học chan chứa nghĩa tình, giàu tính nhân văn.
Gia đình Việt có một nét đặc trưng riêng, mà ở đó có mối quan hệ ruột rà, thân thiết, không thể
tách rời giữa các thành viên. Gia đình tạo nên nét đẹp truyền thống của mỗi nhà, mỗi dòng tộc,
13
mỗi xóm làng Vì vậy, hình ảnh gia đình luôn in đậm trong tâm trí mỗi người, in đậm trong
tục ngữ, ca dao của dân tộc.
Từ cái nôi gia đình, mỗi người được sinh ra và lớn lên từ bầu sữa mẹ, từ câu hát đưa nôi (Mẹ
ru cái lẽ ở đời/ Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn - Nguyễn Duy). Hạnh phúc biết bao khi
được sống trong một gia đình đầm ấm, hạnh phúc, tôn trọng và thương yêu lẫn nhau
Lúc còn nhỏ dại, người con được cha mẹ nuôi dạy, chăm chút hàng ngày. Lúc tuổi xế chiều,
người ông, người bà, các bậc sinh thành lại trông chờ vào con cháu. Nên có câu tục ngữ “Trẻ
cậy cha, già cậy con” là như vậy! Theo sự phát triển của xã hội, của quy luật; thế hệ sau luôn
có những điều kiện thuận lợi để vươn lên. Nhằm khích lệ chí tiến thủ ấy, cha ông ta cho rằng
“con hơn cha là nhà có phúc” Trong gia đình, người cha luôn giữ vai trò trụ cột, tạo nên sự
vững vàng cho tổ ấm. Con cái thường “sợ” cái uy nghiêm của người cha vì “mẹ nói một trăm,
không bằng cha ngăm một tiếng”! Do đó, “con có cha như nhà có nóc” - “nhà không nóc” thì
nhà bất ổn, con cái thiếu vắng người cha rất thiệt thòi về nhiều mặt trong cuộc sống. Thông
thường, người mẹ thương con luôn nặng về tình cảm, nên có lúc cưng chiều quá mức. Vì thế,
người xưa nhắc nhở “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” Nhưng khi con mắc lỗi lầm, người mẹ
phải nhận trách nhiệm về mình qua lời đúc kết ngắn gọn: “Con dại cái mang”!
Cuộc sống gia đình không giản đơn mà luôn có những mâu thuẫn phát sinh. Nếu xử lý tốt các
tình huống thì không khí gia đình luôn ấm áp, tươi vui và ngược lại. Cha ông ta có câu ca dao
thật sinh động và dễ nhớ, dễ ghi vào lòng: “Chồng giận thì vợ bớt lời/ Cơm sôi nhỏ lửa một
đời không khê” hoặc “Chồng giận thì vợ làm lành/ Miệng cười hớn hở, rằng anh giận gì?”.
Trong mái ấm gia đình ấy, anh em ruột thịt “như chân với tay/ Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ
đần”. Đã là ruột thịt, anh chị em trong nhà phải hết lòng thương yêu nhau, không đố kỵ, ganh
ghét lẫn nhau: “Khôn ngoan đá đáp người ngoài/ Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”.
Khi ở nhà có áo mẹ cơm cha, khi đi ra tận nơi xứ người mới cảm nhận hết nỗi đắng cay cơ
cực: “Cơm cha áo mẹ ăn chơi? Bưng bát cơm người đổi bát mồ hôi”. Vì vậy, bổn phận người
con là làm tròn chữ hiếu, đền ơn cha mẹ nuôi dạy mình lớn khôn “Bao giờ cá lý hóa long/ Đền
ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa” hoặc “Tu đâu cho bằng tu nhà/ Thờ cha kính mẹ mới là chân
tu”.
Nơi mái nhà tranh ấy, nơi ta lớn lên ấy còn có mẹ già mòn mỏi trông con. Người con phải lui
tới chăm sóc, thăm viếng mẹ mới là con người có nhân nghĩa: “Mẹ già ở túp lều tranh/ Sớm
thăm tối viếng mới đành phận con”.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét