Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh VPBank

Bảng 1: Xác định quy mô doanh nghiệp
Các doanh nghiệp vừa
Khu vực Quy mô lao động / Vốn
Sản xuất, khai thác và chế
biến
< 300 người / 100 triệu Yên
Bán buôn < 100 người / 30 triệu Yên
Bán lẻ và dịch vụ < 50 người / 10 triệu Yên
Các doanh nghiệp nhỏ
Khu vực Quy mô lao động / Vốn
Sản xuất < 20 người/5 triệu Yên
Thương mại và dịch vụ < 5 người/dưới 5 triệu Yên

(Nguồn: Thư viện khoa học và kĩ thuật Trung ương)
Tại Indonesia, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong
nền kinh tế, chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp trong nước,thu hút từ 60% -
70% việc làm tại các doanh nghiệp. Inđônêxia cho rằng doanh nghiệp vừa là
doanh nghiệp có số lượng công nhân từ 20-99 người, vốn tư bản trêm 600 triệu
RP (tiền Inđônêxia) doanh nghiệp nhỏ có số lượng công nhân từ 5-19 người và
vốn tư bản dưới 600 triệu RP còn doanh nghiệp cực nhỏ có số lượng lao động từ
1-4 người (Thư viện khoa học và kĩ thuật Trung ương)
Tại Việt Nam, căn cứ nghị định của chính phủ số 90/2001/NĐ-CP ngày
23 tháng 11 năm 2001về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Doanh
nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đó đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao
động trung bình hàng năm không quá 300 người. Theo đó, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ bao gồm :
Các hộ kinh doanh có thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP
ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh
Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
5
Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà
nước
Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
Như vậy quan niệm của một số quốc gia về thế nào là một doanh nghiệp
vừa và nhỏ đã có sự khác nhau, đồng thời sự phân định này chỉ mang ý nghĩa
tương đối và chủ yếu căn cứ vào qui mô về vốn và lao động của doanh nghiệp
đó.Tuy nhiên, ta có thể thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn dành được
sự quan tâm đặc biệt của các chính phủ, cho dù đó là nước công nghiệp phát
triển hay nước đang phát triển. Quốc gia có nền kinh tế càng phát triển thì sự
phân biệt về doanh nghiệp vừa và nhỏ càng rõ ràng và chi tiết.Mặc dù khái niệm
doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau ở mỗi quốc gia, nhưng ta có thể kết luận
rằng thuật ngữ doanh nghiệp vừa và nhỏ là hàm ý nói tới một tập hợp các thực
thể kinh tế có quy mô vừa và nhỏ xét trên phương diện vốn và lao động so với
mặt bằng phát triển chung của nền kinh tế ở một quốc gia nhất định.
1.1.2. Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đã được xếp vào loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì xét về quy mô vốn và
nguồn nhân lực so với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp này luôn bị hạn
chế khiến họ gặp khó khăn về rất nhiều mặt. Có thể kể đến những hạn chế đó là:
Năng lực cạnh tranh yếu, trình độ tay nghề chưa cao, giá lao động đang
tăng lên ảnh hưởng tới giá thành, làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm;
thiếu sự quan tâm kiểm soát chất lượng sản phẩm cùng với những phương pháp
kiểm soát có hiệu quả
Năng suất lao động thấp, mà điều này phần lớn do nhân tố trình độ công
nghệ thấp quyết định.
Ít vốn và thiếu sự hỗ trợ tài chính
Phương pháp quản lý yếu kém, công tác nghiên cứu và phát triển hầu như
không có hoặc nếu có thì cũng được tiến hành rất chậm. Khâu quảng bá thương
hiệu cũng còn hạn chế do chi phí cao.Các doanh nghiệp này thường phải đối mặt
6
với một thực tế là những nhân viên giỏi rất dễ ra đi trước những sự lôi kéo của
các công ty hay tập đoàn lớn
Về vấn đề tiếp cận các nguồn vốn, vấn đề “đầu tiên” có ý nghĩa quyết
định, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp khó khăn không nhỏ, nhất là các
khoản vay trung hạn, dài hạn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.
Đặc biệt, các khoản vay có bảo lãnh rất hiếm khi dành cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ; việc đầu tư vào khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, do nhận thức chưa
thông thoáng, cho nên bị hạn chế rất nhiều. Việc tiếp cận các nguồn vốn của
doanh nghiệp vừa và nhỏ rất hạn chế. Với tỷ trọng hơn 90% trong tổng số các
doanh nghiệp ở hầu hết các nước trên thế giới, đáng lẽ khu vực này phải là
“khách hàng ruột” của các ngân hàng thương mại, song thực tế là tỷ lệ các
doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với ngân hàng lại rất hạn chế. Trong khi đó
nhu cầu vốn kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn bao gồm cả
vốn ngắn hạn và trung dài hạn. Nhu cầu vốn ngắn hạn xuất hiện do tính chất thời
vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt đối với các doanh nghiệp thương
mại. Các khoản vay chủ yếu dựa trên những hợp đồng tiêu thụ có sẵn, hoặc các
hợp đồng cung cấp đã ký. Quy mô của khoản vay thường không lớn nhưng các
doanh nghiệp vừa và nhỏ thường vay nhiều lần và với thời hạn ngắn vì vậy nếu
tính theo doanh số cho vay thì con số này khá cao, có thể tương đương với một
doanh ngiệp lớn. Vốn dài hạn dùng để tài trợ tài sản cố định và mở rộng sản
xuất. Hầu hết các doanh nghiệp đều muốn mở rộng phạm vi hoạt động mở rộng
quy mô để có thể trở thành các doanh nghiệp lớn hơn. Để thực hiện các chiến
lược đặt ra, các kế hoạch Marketing, đổi mới công nghệ, doanh nghiệp vừa và
nhỏ đều cần tới nguồn vốn dài hạn.
Để đáp ứng các nhu cầu về vốn, doanh nghiệp vừa nhỏ thường huy động
từ nhiều nguồn khác nhau như:
• Vay từ các cá nhân, tín dụng thương mại
• Vay từ ngân hàng thương mại
7
• Vay từ các quỹ tín dụng
• Vay từ các nguồn khác
Bảng 2 : Các nguồn tín dụng của DNVVN Việt Nam (%)
Nguồn
Khu vực
nông thôn
Khu vực
thành thị
Tổng
Vay từ cá nhân, tín dụng thương mại 72.5 66 70.8
Ngân hàng thương mại 22.5 23.1 22.7
Quỹ tín dụng 3.5 1.2 2.6
Nguồn khác 1.5 9.7 3.9
Tổng 100 100 100
(Nguồn : Phòng thống kê, Bộ Kế hoạch đầu tư, tháng 9 năm 2007)
Thực tế cho thấy, cơ hội cho các DNVVN tiếp cận vốn tín dụng ngân
hàng đang ngày càng được mở ra. Theo báo cáo của các ngân hàng, trong thời
gian gần đây, phần lớn các ngân hàng thương mại đều xác định DNVVN là
khách hàng quan trọng, với các chỉ tiêu phấn đấu đạt tỷ lệ cho vay từ 30 đến
40%. Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
cũng có con số tương đồng là 44% số ngân hàng được hỏi cho DNVVN vay với
tỷ trọng vốn khoảng 38% dư nợ. Doanh nghiệp thì cần vốn, ngân hàng thì cần
cho vay, nhưng hai bên vẫn loay hoay tìm đường đến với nhau, nhiều vướng
mắc trong quá trình tiếp cận tín dụng là do vốn thực của các doanh nghiệp luôn
thấp hơn số vốn đăng ký. Ngân hàng luôn "ngán ngẩm" trước tình trạng thiếu
minh bạch trong hồ sơ sổ sách, quan hệ tài sản giữa chủ doanh nghiệp và doanh
nghiệp, cũng như sự thiếu chuyên nghiệp trong xây dựng dự án cũng là trở ngại
khi vay vốn. Theo kết quả điều tra của Cục Phát triển doanh nghiệp (Bộ Kế
hoạch và Đầu tư), hiện có đến 80% lượng vốn cung ứng cho doanh nghiệp nhỏ
và vừa là từ kênh ngân hàng.Tuy nhiên, chỉ có 32,38% những doanh nghiệp này
có khả năng tiếp cận được nguồn vốn của các ngân hàng; 35,24% khó tiếp cận
và 32,38% không tiếp cận được.
8
Ngoài ra, những vụ án về doanh nghiệp kinh doanh theo kiểu chụp giật,
lừa đảo , cũng gây áp lực tâm lý cho ngân hàng. Bản thân chỉ tiêu đặt ra, buộc
cán bộ tín dụng phải cho vay đủ doanh số, kế hoạch hằng tháng, nhưng những
chỉ tiêu về cho vay DNVVN nhiều khi là một áp lực thật sự, bởi những vướng
mắc như việc phân loại doanh nghiệp, các chỉ số đánh giá chưa chính xác; hệ
thống thông tin về khách hàng chưa đạt yêu cầu, vì vậy việc xem xét thực trạng
hoạt động kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn, trách nhiệm đối với các khoản
tín dụng nhiều khi chưa rõ ràng , khiến cán bộ tín dụng ngập ngừng. Trong
trường hợp này, cách làm của các ngân hàng cổ phần đang tỏ ra hiệu quả và
năng động hơn khi xây dựng những gói sản phẩm, được trình bày khá chi tiết, cụ
thể, giúp doanh nghiệp có thể dễ dàng thực hiện những yêu cầu đặt ra. Nếu
doanh nghiệp nào làm ăn bài bản, việc áp dụng những chuẩn mực đề ra cũng
không quá khó khăn, thậm chí, ngân hàng phải đến tận nơi phục vụ. Tuy nhiên,
cách hành xử của một số ngân hàng khai thác khách hàng dựa trên mối quan hệ,
tạo một thông lệ không tốt cho các doanh nghiệp, cũng như sự cạnh tranh không
lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng đã dẫn tới việc cho vay chỗ khó vẫn khó
mà chỗ dễ thì lại quá dễ. Các doanh nghiệp này thường tranh thủ chiếm dụng
vốn của nhau thông qua hình thức tín dụng thương mại, hoặc vay từ các cá nhân
bạn bè. Chính những lý do trên cùng với sự cố gắng vươn lên để tồn tại và có
được một chỗ đứng trên thị trường là những lý do khách quan tạo cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ những đặc điểm riêng có của mình.
Với sự đa dạng về ngành nghề và phương thức tiêp cận thị trường, hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất linh hoạt và năng động.
Lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp này rất phong phú,vì vậy đây là cơ
hội tốt cho các chủ doanh nghiệp tìm kiếm các lĩnh vực mà ở đó sự cạnh tranh
chưa cao song lại đem lại lợi nhuận nhanh chóng. Hơn nữa, các doanh nghiệp
này dể dàng thay đổi ngành nghề kinh doanh với chi phí thấp bởi lượng vốn bỏ
vào không lớn, vì vậy trước những sự biến động mạnh về cung cầu trên thị
9
trường nhóm doanh nghiệp này chịu ảnh hưởng ít hơn, dễ phục hồi hơn so với
các doanh nghiệp lớn.
Về ngành nghề kinh doanh, phải nói rằng do vốn và nhân lực hạn chế, rất
nhiều lĩnh vực mà doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể tham gia như các ngành
công nghiệp năng, luyện kim, khai thác mỏ, ngân hàng tài chính … Nhưng bên
cạnh đó lại có những mặt mà doanh nghiệp lớn nếu làm sẽ không đạt hiệu quả
cao như mong đợi. Vì thế, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ
thường là các ngành công nghiệp nhẹ như : may mặc, chế biến, gia công thô sơ,
xử lý phần thô, sản xuất bao bì, đóng gói ,…Về dịch vụ các doanh nghiệp vừa
và nhỏ thường tập trung vào các lĩnh vực như vận tải nội thành, vui chơi giải trí,
ẩm thực, bảo hành chăm sóc khách hàng … Lĩnh vực thương mại cũng là một
trong những thế mạnh của doanh nghiệp vừa và nhỏ như thu mua nguyên vật
liệu trong và ngoài nước, đại diện bán hàng, tham gia và các kênh phân phối sản
phẩm. Có thể nói rằng các ngành được nêu ở trên thường có số vốn đầu tư ban
đầu ít, sử dụng nhiều vốn chiếm dụng, công nghệ sử dụng ở mức trung bình, lao
động sử dụng chủ yếu là lao động phổ thông có trình độ vừa phải.
Có thể nhận thấy rõ là thị trường của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ
yếu là phục vụ các doanh nghiệp lớn như làm nhà cung cấp nguyên vật liệu, làm
đại lý bán hàng, kênh phân phối, hoặc là những đoạn thị trường còn bỏ ngỏ, có
quy mô nhỏ và độ sâu hạn chế . Những thị trường này chứa đựng nhiều rủi ro và
không ổn định khiến cho hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trở nên
bấp bênh, sự cạnh tranh vì thế mà trở nên gay gắt. Các nghiên cứu về doanh
nghiệp vừa và nhỏ chỉ ra rằng đối thủ cạnh tranh lớn nhất không phải là các
doanh nghiệp lớn mà chính là các doanh nghiệp có cùng quy mô. Bởi vì, các
doanh nghiệp lớn có thị trường ổn định, nhóm khách hàng mục tiêu thường được
xác định trước. Khi có ý định mở rộng thị trường các doanh nghiệp lớn thường
tìm kiếm những thị trường có quy mô lớn, có chiều sâu, những thị trường nhỏ
thường được bỏ qua hoặc không có khả năng bao quát hết toàn bộ thị trường.
Một lý do khác nữa là lý thuyết cá lớn nuốt cá bé không còn được áp dụng phổ
10
biến bởi vì các doanh nghiệp lớn cũng nhận ra được sự cần thiết của doanh
nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển của mình. Trong khi đó các doanh
nghiệp vừa và nhỏ có số lượng đông đảo và đều có mục địch giống nhau là tìm
kiếm những thị trường còn bỏ trống. Các thị trường này quá nhỏ bé để có thể
chứa nhiều doanh nghiệp trong đó cho dù đó là những doanh nghiệp nhỏ. Các
doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng rất nhạy cảm với các thị trường này. Khi một
doanh nghiệp tìm thấy được một thị trường còn bỏ ngỏ và đầu tư vào thị trường
đó thì gần như ngay lập tức có rất nhiều doanh nghiệp khác cũng tham gia vào,
ví dụ như trong lĩnh vực ăn uống, dịch vụ sửa chữa, bảo hành.
Về khả năng cạnh tranh, các DNVVN Việt Nam có nhiều lợi thế, tuy
nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và yếu kém:
Thứ nhất, chất lượng và khả năng cạnh tranh về mặt quản lý còn yếu kém.
Đội ngũ chủ DN, giám đốc và cán bộ quản lý DNVVN còn nhiều hạn chế về
kiến thức và kỹ năng quản lý. Số lượng DNVVN có chủ DN, giám đốc giỏi,
trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn
chủ DN và giám đốc DN tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và
quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc
biệt là yếu về năng lực kinh doanh quốc tế. Từ đó, khuynh hướng phổ biến là
các DN hoạt động quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu
kiến thức trên các phương diện: Quản lý tổ chức, chiến lược cạnh tranh, phát
triển thương hiệu, sử dụng máy tính và công nghệ thông tin. Một số chủ DN mở
công ty chỉ vì có sẵn tiền vốn và thích kinh doanh, trong khi đó thiếu kiến thức
và kỹ năng về kinh doanh, vì vậy đã dẫn đến rủi ro và thất bại.
Thứ hai, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
cao làm yếu khả năng cạnh tranh của các DNVVN. So sánh giữa sản phẩm trong
nước với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines, thì các
sản phẩm sản xuất của các DN Việt Nam có giá thành cao hơn từ 1,58 đến 9,25
lần mặc dù giá nhân công lao động thuộc loại thấp so với các nước trong khu
vực.
11
Thứ ba, năng lực cạnh tranh về tài chính vẫn còn rất yếu kém. Quy mô
vốn và năng lực tài chính (kể cả vốn của chủ sở hữu và tổng nguồn vốn) của
nhiều DN còn rất nhỏ bé, vừa kém hiệu quả, vừa thiếu tính bền vững. Số lượng
DN nhỏ và vô cùng nhỏ chiếm tỷ lệ khá cao. Kết quả điều tra của Tổng cục
Thống kê cho thấy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện đang chiếm tới 97% số
lượng cơ sở sản xuất kinh doanh của cả nước, 26% tổng đầu tư xã hội và thu hút
khoảng 77% lực lượng lao động phi nông nghiệp nhưng quy mô chủ yếu là nhỏ
và siêu nhỏ. Số DN có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm tới 44,1%, quy mô lao động
dưới 10 người chiếm 46,6%. Nếu so sánh năm 2006 với năm 2000, số vốn và số
lượng lao động bình quân trong mỗi DN đã giảm từ 26 tỷ đồng và 84 lao động
xuống còn 24 tỷ đồng và 72 lao động (theo số liệu của Tổng cục Thống kê).
Thứ tư, nhận thức và sự chấp hành luật pháp còn hạn chế. Một số khá lớn
DNVVN còn chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đặc biệt
là các quy định về thuế, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, chất lượng hàng hoá
và sở hữu công nghiệp. Tình trạng các DNVVN bị các cơ quan chức năng phàn
nàn, xử phạt vi phạm các chế độ về thuế, tài chính còn phổ biến. Nguyên nhân
của tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này cũng là do việc nhận thức,
hiểu biết của DN về luật pháp còn nhiều hạn chế. Tâm lý làm ăn chuôi vẫn còn
khá phổ biến.
Thứ năm, sự yếu kém về thương hiệu đã góp phần làm yếu khả năng cạnh
tranh. Hầu hết các DNVVN ở Việt Nam chưa xây dựng được các thương hiệu
mạnh, chưa khẳng định được uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường khu
vực và quốc tế. Nhiều DN ở Việt Nam, đặc biệt là các DNVVN chưa có chiến
lược xây dựng thương hiệu, chưa tạo được uy tín về chất lượng sản phẩm và
dịch vụ, do đó khả năng cạnh tranh còn yếu. Theo số liệu khảo sát của VCCI,
chỉ có gần 10% số doanh nghiệp là thường xuyên tìm hiểu thị trường nước ngoài
và trong số này chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước, doanh
nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu; Khoảng 42% doanh nghiệp tìm hiểu thị
trường nước ngoài không thường xuyên và khoảng 20% doanh nghiệp, chủ yếu
12
là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không có các hoạt động tìm hiểu thị trường
nước ngoài.
Hội nhập quốc tế đã buộc các DN phải nâng cao khả năng cạnh tranh để
đủ sức đứng vững trên thương trường. Năng lực của các nhà quản lý DN là một
trong những nhân tố quan trọng nhất có ảnh hưởng quyết định đến khả năng
cạnh tranh của DN. Doanh nhân ngày nay cần có những năng lực tổng hợp và ở
mức độ cao hơn hẳn 5 năm trước; trong đó cần đặc biệt chú trọng bồi dưỡng
kiến thức và kỹ năng về xây dựng và phát triển thương hiệu, về chiến lược cạnh
tranh.
Với những đặc điểm nêu trên, sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
thường tập trung vào một số dạng sau:
Các sản phẩm thủ công với chủ yếu là các đồ mỹ nghệ có tính cá biệt cao,
do đó mà không thể áp dụng sản xuất hàng loạt. Sản phẩm thủ công thường phục
vụ cho nhóm khách hàng đặc biệt hoặc xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Giá
cả của loại sản phẩm này thường cao do có chi phí sản xuất lớn.
Các sản phẩm được dùng làm nguyên liệu đầu vào cho các công ty lớn với
chức năng như nguyên vật liệu phụ của quá trình sản xuất, thường là : các bộ
phận phụ của một chi tiết lớn như các ngành cơ khí, tự động hoá , công nghiệp ô
tô, máy bay,… với giá cả thấp. Sản phẩm loại này có hàm lượng ký thuật thấp
nhưng lại rất cần thiết cho việc tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh.
Các sản phẩm tiêu dùng khác phục vụ cho nhóm khách hàng bình dân
hoặc lấp chỗ trống trên thị trường Các sản phẩm kiểu này có chất lượng trung
bình, giá cả phải chăng chủ yếu phục vụ những khách hàng dễ tính.
Các sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp vừa và nhỏ cung cấp thường đa
dạng và có sự khác biệt giữa những doanh nghiệp với nhau. Đối với từng khách
hàng thì dịch vụ được cung ứng cũng khác nhau, giá cả của các dịch vụ cũng rất
phong phú phụ thuộc vào đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ đó : như dịch
vụ bảo hành, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ ăn uống giải trí, …
13
1.1.3. Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang có vai trò quan trọng trong nền
kinh tế của các quốc gia, chúng chiếm tỷ trọng cao và có thể nói hầu hết các
doanh nghiệp hiện nay là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong tất cả các nền kinh tế
đạt tới sự phát triển như hiện nay, doanh nghiệp vừa và nhỏ được xem là yếu tố
cần thiết không thể thiếu cho sự tăng trưởng, giải quyết thất nghiệp và tiến bộ xã
hội. Cho đến nay, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được khẳng định
trên phạm vi toàn thế giới, được thể hiện cụ thể trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp phần quan trọng vào tăng
trưởng kinh tế sự gia tăng thu nhập ở các quốc gia. Tại Việt Nam, hiện tại doanh
nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 96% trong tổng số khoảng 250.000 doanh
nghiệp đã thành lập trên toàn quốc. Các doanh nghiệp này đang đóng góp
khoảng 25% GDP, 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tạo ra khoảng 77%
việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, và 26% lực lượng lao động trong cả
nước. Nhìn ra một số nước trên thế giới, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đóng
một vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế. Ngay như ở Mỹ, nơi sinh ra
các tập đoàn hùng mạnh vào bậc nhất thế giới, thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ
vẫn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Điều này thể hiện ở con số 40% GDP
của nước Mỹ là nhờ sự đóng góp của các doanh nghiệp thuộc khu vực này.
Những doanh nghiệp lớn như Ford hay Microsoft cũng không thể hoạt động đơn
lẻ mà phải có sự hợp tác với các công ty có quy mô vừa và nhỏ. Ở Bungary, theo
thống kê năm 2006 các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra 30.72 % tổng giá trị gia
tăng của nền kinh tế. Năm 2003, doanh thu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Đài Loan chiếm 36%, kim ngạch xuất khẩu chiếm tới 51%. Nhật Bản cũng là
một quốc gia mà sự đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ giữ một phần
quan trọng trong việc đảm bảo tăng trưởng của nền kinh tế, chiếm 64% doanh số
bán buôn và 76% doanh số bán lẻ. Đây chỉ là những con số đóng góp trực tiếp,
điều quan trọng là doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò lớn trong mối quan hệ
gắn kết với các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét