Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005
mục tiêu mà kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành đặt ra. Nhưng nếu so với tỷ
trọng của ngành vào năm 1995 lại cao hơn 0,75% năm 2004, nguyên nhân là do
sự gia tăng đột ngột của giá xăng dầu, giá thép; sự chậm trễ của công tác giải
phóng mặt bằng và những bất cập trong quản lý đầu tư là những lý do chủ yếu
hạn chế tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng. Mặc dù vậy ngành xây dựng đã
có những bước tiến đáng kể theo hướng hiện đại, cả trong lĩnh vực xây dựng,
phát triển đô thị và nhà ở cũng như những công trình quy mô lớn đòi hỏi chất
lượng cao, công nghệ hiện đại trong và ngoài nước. Công nghiệp vật liệu xây
dựng đã chú trọng đầu tư và nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhiều dây chuyền
công nghệ có quy mô lớn, hiện đại đã được đưa vào sử dụng, đặc biệt là xi măng,
gạch, sứ vệ sinh Nhờ vậy mà sản lượng xi măng sản xuất đã hoàn thành kế
hoạch đặt ra, thực hiện năm 2005 là 29,3 triệu tấn trong khi kế hoạch đặt ra chỉ
cần 24,5 triệu tấn hay hoàn thành 119,6% mục tiêu kế hoạch
(xem chi tiết bảng 3 )
1.2. Công nghiệp
Giá trị của ngành công nghiệp do sự đóng góp của ba ngành công nghiệp
khai thác, công nghiệp chế biến và công nghiệp điện, gas, nước. Nếu coi GDP
của ngành công nghiệp là 100% ta sẽ có tỷ trọng của những ngành nêu trên đóng
góp trong GDP công nghiệp.
Bảng 2: Cơ cấu tổng sản phẩm quốc dân phân theo ngành
công nghiệp giai đoạn 1995 -2004
Đơn vị: %
Năm 1995 1997 1999 2001 2002 2003 2004
Công nghiệp(CN) 100 100 100 100 100 100 100
CN khai thác 22,01 24,69 29,00 28,50 26,42 28,18 30,05
CN chế biến 68,60 64,58 60,90 61,20 63,15 61,71 60,05
CN điện, gas, nước 9,39 10,73 10,10 10,30 10,43 10,11 9,9
Bùi Thị Thu Hương – Kế hoạch 44 - KTQD
5
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005
Nguồn: Tổng cục Thống kê
a. Ngành công nghiệp khai thác
Tỷ trọng của công nghiệp khai thác trong GDP công nghiệp liên tục tăng
từ 22,01% năm1995 lên 30,05% năm 2004. Đây là sự phát triển không phù hợp
với xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Nếu tỷ trọng của ngành tiếp tục
tăng trong những năm tiếp theo sẽ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo
được, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của một quốc gia. Đối với
Việt Nam đi lên từ sản xuất nhỏ, lạc hậu thì ban đầu phải dựa vào nguồn thu của
ngành để tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển. Sự phát triển nhanh của
ngành công nghiệp khai thác mà điển hình là ngành khai thác dầu, đã đóng góp
không nhỏ cho quá trình công nghiệp hoá đất nước. Sản lượng dầu thô khai thác
tăng liên tục qua các năm 2001: 16,8 triệu tấn; 2003: 17,6 triệu tấn, năm 2004:
20,0 triệu tấn và ước tính năm 2005 sản lượng là 18,5 triệu tấn. Mặc dù sản
lượng có giảm vào năm 2005( giảm 1,5 triệu tấn so với năm 2004) song ngành
dầu khí đã tạo ra những sự thuận lợi cho sự phát triển của các ngành công nghiệp
chế biến và mở ra triển vọng phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác. Ngoài
ra cũng phải kể đến những ngành khai thác có tốc độ phát triển cao đang dần
chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển của công nghiệp. Cụ thể là ngành công
nghiệp nguyên liệu than. Ước tính năm 2005 sản lượng than khai thác được là 27
triệu tấn (tăng 0,7 triệu tấn so với năm 2004). Sản lượng than khai thác năm 2005
hoàn thành 168,7% mục tiêu kế hoạch 2001 – 2005 (xem chi tiết bảng 3). Có thể
nói trong những năm gần đây, công nghiệp khai thác đã đóng góp rất nhiều cho
sự phát triển của ngành công nghiệp nói riêng cũng như toàn bộ khu vực công
nghiệp – xây dựng nói chung.
b. Ngành công nghiệp chế biến
Tỷ lệ của ngành công nghiệp chế biến trong GDP công nghiệp có xu
hướng giảm từ 68,6% năm 1995 xuống 60,05% năm 2004, mặc dù tỷ lệ này có
tăng lên trong những năm 1999 – 2003. Mặt khác, tỷ trọng trong GDP của ngành
Bùi Thị Thu Hương – Kế hoạch 44 - KTQD
6
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005
công nghiệp chế biến năm 2004 chỉ đạt 20,3% và với tốc độ tăng trưởng liên tục
giảm giai đoạn 2001 - 2004 thì đến 2020 tỷ trọng của ngành trong GDP vẫn dưới
30% ( thấp hơn ranh giới 37% mà các chuyên gia quốc tế cho rằng là điều kiện
để chuyển từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp). Sự đóng góp
của ngành công ngiệp chế biến vào sự phát triển của ngành công nghiệp nói
riêng cũng như cả nền kinh tế nói chung là chỉ tiêu quan trọng để một quốc gia
được đánh giá chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp sang nền công nghiệp hiện
đại. Nhưng ở Việt Nam tỷ trọng của ngành này lại đang có xu hướng giảm, một
xu hướng không phù hợp với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngành công nghiệp chế biến đã không hoàn thành nhiệm vụ mà toàn nền kinh tế
giao phó. Sản phẩm của công nghiệp chế biến bao gồm hai loại: nông sản chế
biến và sản phẩm chế tạo. Đối với nông sản chế biến do công nghệ lạc hậu, cơ sở
kỹ thuật chưa đáp ứng đủ nhu cầu nên những nông sản xuất khẩu chủ yếu là sản
phẩm thô mới chỉ qua sơ chế. Do đó, đóng góp của chế biến nông sản thấp và
hạn chế khả năng cạnh tranh sản phẩm so với các nước trong khu vực. Đối với
sản phẩm chế tạo do chi phí sản xuất tiếp tục tăng cao và sự phụ thuộc vào giá
nguyên liệu nhập khẩu. Sản phẩm của ngành chủ yếu vẫn là những sản phẩm
mang tính gia công lắp ráp như dệt may, da giầy, ô tô, xe máy và sản lượng liên
tục tăng trong những năm 2001 -2004. Ví dụ: ti vi lắp ráp tăng từ 1,1 triệu chiếc
năm 2001 lên 2,5 triệu chiếc năm 2004 ( tăng 27,3%). Sản lượng vải lụa sản xuất
cũng tăng đều qua các năm bình quân 9,3% năm ( xem chi tiết bảng 3). Chúng ta
mới chỉ thực hiên gia công sản phẩm mà không phát triển các ngành công nghiệp
phụ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu đầu vào để từ đó giảm chi phí sản xuất, giảm
giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trong điều
kiện hội nhập quốc tế. Những ngành có hàm lượng công nghệ cao, có khả năng
tạo giá trị tăng thêm, nhất là công nghệ thông tin khởi đầu từ việc lắp ráp một số
linh kiện như mạch in, bóng hình còn phát triển chậm. Đóng góp vào giá trị gia
tăng của ngành công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn là những ngành sản xuất thay
thế nhập khẩu và được hưởng chính sách bảo hộ của Nhà nước. Do đó hạn chế
Bùi Thị Thu Hương – Kế hoạch 44 - KTQD
7
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005
khả năng cạnh tranh của ngành được bảo hộ nói riêng cũng như ngành công
nghiệp chế biến nói chung.
c. Các ngành công nghiệp điện, gas và cung cấp nước
Những ngành này là cơ sở hạ tầng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, do đó
được chú trọng đầu tư phát triển. Đóng góp của ngành trong GDP công nghiệp
mặc dù tăng trong những năm 1997 – 2002 nhưng từ năm 2003 trở về đây tỷ
trọng của ngành có xu hướng giảm từ 10,43% năm 2002 xuống 10,11%
năm2003 và năm 2004 chỉ còn 9,9%. Mặc dù vậy, ngành đã có những đóp góp
quan trọng cho sự phát triển chung của toàn bộ khu vực II công nghiệp và xây
dựng.Về điện đã phát triển nguồn cung cấp cả về thuỷ điện và nhiệt điện nên sản
lượng điện phát ra tăng từ 30,7 tỷ KWh năm 2001 lên 46 tỷ KWh năm 2004,
bình quân tăng 3,8 tỷ KWh / năm. Ước tính năm 2005 sản lượng điện sản xuất ra
là 51,7 tỷ KWh, hoàn thành 117,5% mục tiêu kế hoạch 2001 – 2005 (xem chi tiết
bảng 3). Đây quả thực là một dấu hiệu đáng mừng trong việc kết hợp 2 nguồn
cung cấp điện: nhiệt điện và thuỷ điện. Mạng lưới điện cũng được đầu tư đảm
bảo cung cấp điện cho nông thôn và một số vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó,
nguồn nước sạch cũng được cung cấp cho cả nông thôn, thành thị, thực hiên
đồng bộ quy hoạch cung cấp điện nước cho các khu công nghiệp.
Bảng 3: Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của ngành
công nghiệp – xây dựng
Chỉ tiêu Đơn vị
tính
2001 2002 2003 2004 Kế
hoạch
2005
Thực hiện
2005
Dầu thô
Than
Triệu tấn
Triệu tấn
16,8
12,9
16,8
16,3
17,7
19,6
20,0
26,3 15 - 16
18,5
27,0
Bùi Thị Thu Hương – Kế hoạch 44 - KTQD
8
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005
Ti vi
Vải lụa
Ng.chiếc
Triệu m
1126
402
1597
455
2099
476
2478
518 750 600
Xi
măng
Triệu tấn 15,4 20,4 23,3 25,3 24,5 29,0
Điện
phát ra
Tỷ KWh 30,6 35,8 40,8 46,2 44,0 51,7
Nguồn: Dự thảo kế hoạch phát triển KT – XH 2006 – 2010
2. Ngành công nghiệp – xây dựng - đầu tầu thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế
Kết quả nổi bật của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là xu hướng tăng
dần tỷ trọng công nghiệp, ổn định tỷ trọng khu vực dịch vụ và giảm dần tỷ trọng
nông nghiệp trong GDP nhưng giá trị tuyệt đối của từng ngành đều tăng năm sau
so với năm trước.
Bảng 4: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế
Đơn vị: %
Năm 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005
(ước thực hiện)
GDP 100 100 100 100 100 100 100 100
Nông
nghiệp
38,74 27,18 24,53 23,24 23,03 22,34 21,76 20,5
CN - XD 22,67 28,76 36,73 38,13 38,49 39,47 40,09 41
Dịch vụ 38,59 44,06 38,74 38,63 38,48 37,99 38,15 38,5
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Qua bảng trên ta thấy: trong giai đoạn 1990 – 2005, cơ cấu nền kinh tế
quốc dân có bước chuyển biến theo hướng tích cực. Tỷ trọng khu vực nông
Bùi Thị Thu Hương – Kế hoạch 44 - KTQD
9
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005
nghiệp liên tục giảm từ 38,74% năm 1990, 24,53% năm 2000 xuống còn 20,5%
năm 2005. Từ chỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế năm1990 thì đến
năm 2005, ngành lại chiếm tỷ trọng nhỏ nhất.
Đối với khu vực dịch vụ thì sau khi đạt tỷ trọng cao nhất 44,06% năm
1995 thì tỷ trọng của ngành lại có xu hướng giảm liên tục cho đến 2003.Tương
ứng với sự giảm tỷ trọng này là sự tăng lên liên tục về tỷ trọng của ngành công
nghiệp – xây dựng. Nếu vào năm 1990, ngành công nghiệp – xây dựng chiếm tỷ
trọng nhỏ nhất trong nền kinh tế: 22,67% , chỉ bằng 0,58 lần so với tỷ trọng của
ngành nông nghiệp thì đến năm 1995, tỷ trọng của ngành đã vượt nông nghiệp
0,58% (công nghiệp – xây dựng: 28,76%, nông nghiệp: 27,18%) và cho đến
2005 thì tỷ trọng của ngành đã gấp đôi nông nghiệp (công nghiệp – xây dựng:
41%, nông nghiệp: 20,5%). Như vậy, đóng góp của ngành công nghiệp – xây
dựng trong GDP đã tăng liên tuc qua các năm , từ chỗ còn rất nhỏ bé trong nền
kinh tế quốc dân thì đến nay đã đạt mức đóng góp lớn nhất. Do mức đóng góp
như vậy mà tỷ lệ đóng góp của ngành vào tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng tăng
lên tương ứng.
Bảng 5: Tỷ lệ đóng góp của từng khu vực vào tốc độ tăng GDP cả nước
Đơn vị: %
Năm 2000 2001 2002 2003 2004
Tổng GDP 6,79 6,89 7,04 7,26 7,6
Nông nghiệp 1,1 0,69 0,91 0,72 0,8
CN – XD 2,72 2,81 3,00 3,21 3,2
Dịch vụ 2,23 2,52 2,68 2,68 3,0
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Ngành công nghiệp – xây dựng đã đóng góp vào tỷ lệ tăng trưởng một
cách tích cực. Thể hiện: tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng tăng liên tục từ 2,72%
năm 2000 lên tới 3,2% năm 2004. Như vậy ngành đã vươn lên, đóng góp lớn
Bùi Thị Thu Hương – Kế hoạch 44 - KTQD
10
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005
nhất vào tăng trưởng kinh tế, và đang tạo đà cho sự phát triển của toàn bộ nền
kinh tế, xứng đáng là đầu tầu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
3. Cơ cấu ngành kinh tế trong quan hệ so sánh với các nước trong khu
vực
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỉ
XXI - chiến lược đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng
XHCN, xây dựng nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp – chúng ta đã không ngừng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng sản
xuất nông nghiệp nhưng giá trị sản xuất của ngành vẫn phải tăng và đã đạt được
những thành tựu rực rỡ. Chúng ta đã duy trì được tỷ lệ tăng trưởng khá cao
7,5% / năm giai đoạn 2001 – 2005. Tuy nhiên, nếu lấy cơ cấu ngành kinh tế làm
một thước đo về trình độ phát triển thì cơ cấu kinh tế Việt Nam năm 2003 chỉ
tương đương với cơ cấu kinh tế của các nước trong khu vực vào những năm 80
của thế kỷ trước. Điều này thể hiện một sự chuyển dịch quá chậm chạp so với
bạn bè trong khu vực.
Bảng 6: Cơ cấu nền kinh tế các nước trong khu vực Đông Nam Á năm 2003
Đơn vị: %
Nước Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
Việt Nam 23.0 39,0 38,0
Philippine 14,0 32,5 53,5
Indonexia 17,0 44,0 40,0
Malaixia 9,0 49,0 42,0
Thailand 9,0 41,0 50,0
Xingapo 0,0 35,0 65,0
Nguồn: Báo cáo phát triển Thế giới năm 2005 của Ngân hàng Thế giới
Bùi Thị Thu Hương – Kế hoạch 44 - KTQD
11
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005
Như vậy, so với các nước trong khu vực thì giá trị sản xuất nông nghiệp
chiếm trong GDP của Việt Nam là lớn nhất, gấp 1,4 lần so với nước đứng thứ 2
là Indonexia và gấp 2,6 lần so với Malaxia và Thailand. Điều đó là do nền kinh
tế Việt Nam truyền thống là sản xuất nông nghiệp đã từ lâu đời, đồng thời sự
chuyển dịch cơ cấu chưa theo kịp các nước khác trong khu vực. Trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các nước này rất coi trọng phát triển công nghiệp,
dịch vụ và tìm mọi cách nâng cao tỷ trọng của các khu vực này trong GDP.
Nhưng ở Việt Nam, mặc dù công nghiệp, dịch vụ đã được chú trọng phát triển
nhưng đóng góp của nó trong GDP vẫn còn nhiều hạn chế, chưa lấn át hẳn khu
vực nông nghiệp. Tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm trong GDP của Việt
Nam đạt 39,0%, đứng thứ 4 trong 6 nước trên. Nếu so với các nước trong khu
vực thì tỷ trọng này còn rất hạn chế, chứng tỏ trình độ phát triển công nghiệp –
xây dựng của nước ta còn thấp. Ngành công nghiệp – xây dựng của chúng ta chủ
yếu là ngành thu hút nhiều lao động, hàm lượng khoa học công nghệ chưa cao và
nguyên liệu lại chủ yếu phụ thuộc vào nước ngoài như: dệt may, da giầy. Công
nghiệp chế biến tuy đã có bước phát triển mạnh nhưng chỉ dừng lại ở mức độ sơ
chế, sản phẩm đạt chất lượng chưa cao. Trong khi ngành công nghiệp của các
nước bạn thì đã phát triển ở trình độ cao, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến
vào sản xuất, điển hình là công nghiệp điện, điện tử, công nghiệp hoá
chất Riêng đối với ngành dịch vụ thì chúng ta hầu như chưa biết khai thác
những nguồn lực sẵn có, đồng thời việc khai thác lại chưa chú ý đến tu bổ, cải
tạo. Vậy để có thể phát triển theo kịp các nước trong khu vực thì chúng ta phải
chú trọng và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
III. Quá trình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành công
nghiệp - xây dựng giai đoạn 2001 – 2005: những thành tựu và hạn chế
1. Thành tựu
Một là, cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp đã có bước tiến đáng kể theo
hướng công nghiệp hoá, từng bước hiện đại hoá, phát huy lợi thế của từng ngành,
từng sản phẩm, gắn sản xuất với thị trường trong nước và quốc tế. Cơ cấu sản
Bùi Thị Thu Hương – Kế hoạch 44 - KTQD
12
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005
xuất và cơ cấu sản phẩm công nghiệp đã được chuyển dịch theo hướng tích cực.
Tỷ trọng (tính theo giá trị sản xuất) công nghiệp chế biến tăng từ 79,9% năm
2000 lên hơn khoảng 83,2% năm 2005. Đồng thời tỷ trọng của ngành công
nghiệp khai thác giảm dần từ 13,8% năm 2000 chỉ còn khoảng 10,7% năm 2005,
tương tự công nghiệp sản xuất, phân phối điện - khí – nước từ 6,5% còn 6,1%.
Hai là, sự tiến bộ của các ngành trong nội bộ ngành công nghiệp – xây
dựng. Ngành công nghiệp chế biến đã bước đầu khai thác được các lợi thế về
nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước để nâng cao giá trị sản phẩm xuất khẩu.
Đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu theo hướng đi từ những ngành công
nghiệp thu hút nhiều lao động với công nghệ thấp sang các ngành công nghiệp
thu hút nhiều lao động với công nghệ tiên tiến, hiện đại. Ngành xây dựng đã có
bước tiến đáng kể theo hướng hiện đại, cả trong lĩnh vực công trình, vật liệu xây
dựng, kiến trúc và qui hoạch xây dựng, phát triển đô thị và nhà ở. Năng lực xây
dựng công trình có nhiều tiến bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về xây
dựng, kể cả những công trình qui mô lớn, đòi hỏi chất lượng cao, công nghệ hiện đại.
Ba là, cơ cấu các ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng phát triển
nhiều ngành nghề, sản phẩm đảm bảo tăng trưởng liên tục, phát huy lợi thế so
sánh và đáp ứng nhu cầu thị trường. Việt Nam trong chuyển dịch cơ cấu ngành
công nghiệp – xây dựng không chỉ bằng điều chỉnh tốc độ phát triển của các
ngành mà quan trọng hơn là duy trì, phát triển ngành nghề hiện có cùng với phát
triển thêm ngành nghề mới, sản phẩm mới như: đóng tầu, chế tạo thiết bị đồng
bộ, sản xuất lắp ráp ôtô, chế biến đồ gỗ Quá trình nghiên cứu, thiết kế sản phẩm
mới ngày càng được chú trọng và có xu hướng phát triển. Tỷ lệ nội địa hóa sản
phẩm công nghiệp ngày càng tăng lên
Đạt được những thành tựu nêu trên là do tốc độ tăng trưởng GDP liên tục
tăng trong giai đoạn 2001 – 2005 từ 6,89% năm 2001 lên 7,69% năm 2004, bình
quân 5 năm đạt 7,5% / năm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế. Bên cạnh đó phải kể đến sự đóng góp tích cực của những yếu tố
Bùi Thị Thu Hương – Kế hoạch 44 - KTQD
13
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005
đầu vào lao động và vốn đầu tư. Lao động, vốn đầu tư là những đầu vào không
thể thiếu để có thể tiến hành sản xuất một cách thuận lợi. Một ngành sử dụng
càng nhiều vốn, nhiều lao động có trình độ cao thì tổ chức sản xuất càng khoa
học và năng lực sản xuất ngày càng tăng.
Bùi Thị Thu Hương – Kế hoạch 44 - KTQD
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét