Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014
Các giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế Việt Nam theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế đang trở thành xu thế khách quan,
lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các khu vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép
cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Trong điều kiện như vậy, một quốc gia có chính sách
thuế thích hợp sẽ nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo nguồn thu cho
Ngân sách Nhà nước và đảm bảo độ an toàn trong quá trình hội nhập kinh tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những cơ hội to lớn cho công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước nhưng cũng mang đến những thách thức không nhỏ đối với
một nước đang phát triển ở trình độ thấp như nước ta hiện nay. Để tận dụng cơ hội và
để giảm thiểu những thách thức, Nhà nước phải sử dụng có hiệu quả những công cụ
quản lý kinh tế vĩ mô, trong đó thuế là một công cụ hết sức quan trọng.
Hệ thống thuế mới nước ta đã được ban hành từ năm 1990, qua một số lần sửa
đổi, bổ sung đã phát huy được nhiều tác dụng trong việc bảo đảm yêu cầu tăng thu cho
Ngân sách Nhà nước, góp phần quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện bình
đẳng, công bằng xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay,
hệ thống thuế nước ta bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt chưa phù hợp với thông lệ quốc tế,
nên cần được sửa đổi, bổ sung để chính sách thuế ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp
với tình hình kinh tế - xã hội đang có nhiều biến đổi đa dạng và phù hợp với xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Vì vậy chọn đề tài “Các giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế Việt Nam theo xu
hướng hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài luận văn có ý nghĩa thiết thực, thời sự, cả
về lý luận và về thực tiễn. Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận
về thuế và cải cách thuế của các nước trên thế giới, nghiên cứu những thách thức trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đối với lĩnh vực Thuế - Ngân sách,
phân tích thực trạng chính sách thuế hiện hành trong bối cảnh hội nhập, từ đó đề xuất
các giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế phù hợp với thông lệ quốc tế.
- 5 -
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của Luận văn là vấn đề chung về
thuế và cải cách thuế của các nước trên thế giới cũng như của Việt Nam theo xu hướng
hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó đề tài chỉ đề cập sâu vào những kinh nghiệm cải
cách thuế ở một số quốc gia có bối cảnh kinh tế - xã hội giống Việt Nam và thực tiễn,
những ưu và nhược điểm của hệ thống thuế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế và của một số sắc thuế quan trọng mang tính bức xúc và thời sự đang được
Đảng và nhà nước quan tâm cải tiến.
Luận văn sử dụng Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên
cứu và trình bày các nội dung lý luận và thực tiễn. Luận văn sử dụng một số phương
pháp đi từ cái chung đến cái riêng, kết hợp lịch sử với logic, tổng hợp và phân tích để
qua đó rút ra kết luận.
Nội dung của luận văn được trình bày thành 3 chương :
- Chương I : Những vấn đề lý luận về thuế và cải cách hệ thống thuế theo xu
hướng hội nhập kinh tế quốc tế.
- Chương II : Thực trạng hệ thống thuế ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay.
- Chương III : Các giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế Việt Nam theo xu hướng
hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, do vốn kiến thức và khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên không thể
tránh khỏi những sai sót, kính mong được sự góp ý, lượng thứ, thông cảm và chỉ dẫn từ
Quý Thầy Cô để luận văn được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn.
- 6 -
CHƯƠNG I :
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ
CẢI CÁCH HỆ THỐNG THUẾ THEO XU HƯỚNG
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ :
1.1.1- Khái niệm, bản chất và chức năng của thuế :
1.1.1.1- Khái niệm :
Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước, vì Nhà nước
và do Nhà nước. Dưới bất kỳ một hình thái kinh tế - xã hội nào khi còn Nhà nước là
còn thuế. Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng để
hoàn thành chức năng của mình. Tuy nhiên, cho đến nay có nhiều cách nhìn nhận khác
nhau và người ta vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế cũng như nhìn
chung chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế. Chẳng hạn theo các
nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản : “Để duy trì quyền lực công cộng,
cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế
khóa…” (Mác - Ăng ghen).
Càng về sau, khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Trong
cuốn sách “Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkhell và Bruy –M.1993 cho rằng
“Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa,
dịch vụ)”.
Ở Việt Nam, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế mà tùy theo
cách nhìn nhận ở các góc độ khác nhau, người ta có thể hiểu khác nhau về thuế :
Theo từ điển Tiếng Việt (Xuất bản năm 1977) thì thuế là phần tiền hoặc sản vật
mà người dân phải đóng góp để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước.
- 7 -
Ở góc độ nghiên cứu về Pháp luật thì thuế được quan niệm là khoản đóng góp
theo quy định của Pháp luật mà Nhà nước bắt buộc với tính chất và cá nhân phải nộp
vào Ngân sách Nhà nước.
Ở góc độ nghiên cứu về Kinh tế Chính trị học thì khái niệm về thuế là hình thức
phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành nên các quỹ
tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.
Ở góc độ người thu thuế thì thường hiểu thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo
nghĩa vụ do Pháp luật quy định. Thuế là khoản thu không phải hoàn trả ngang giá và
trực tiếp.
Ở góc độ người nộp thuế thì hiểu thuế là khoản bắt buộc phải nộp cho Nhà nước
theo quy định.
Các quan niệm trên có thể đúng nhưng ở những góc độ khác nhau. Cách hiểu như
vậy chưa đầy đủ và chính xác. Nhưng hiện nay các nhà kinh tế đều nhất trí kết luận
rằng :
Thuế là một khoản thu của Nhà Nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong
xã hội. Khoản thu này mang tính bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp do Pháp luật của
Nhà nước quy định, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội.
Từ khái niệm thuế trên, cho thấy rằng một khái niệm để phản ánh đầy đủ nội dung
và bản chất của thuế cần phải nêu được các điểm sau :
- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước
và các Pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp.
- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan
và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo
mệnh lệnh của Nhà nước.
- Các Pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã
được pháp luật quy định.
- 8 -
1.1.1.2- Đặc điểm của thuế :
Từ khái niệm tổng quát về thuế nêu trên chúng ta có thể rút ra các đặc điểm chung
của thuế như sau :
a) Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước :
Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp. Việc
ban hành, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ bất kỳ một sắc thuế nào cũng chỉ do một cơ quan
quyền lực duy nhất của Nhà nước có thẩm quyền đó là Quốc hội. Mặt khác, tính quyền
lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể hiện thu thuế một cách tùy tiện
mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các văn bản
pháp luật do Nhà nước ban hành.
b) Tính bắt buộc phải nộp thuế :
Nhà nước sử dụng quyền lực của mình buộc các thành phần kinh tế có sản xuất
kinh doanh đều phải đóng góp một phần thu nhập của mình dưới hình thức nộp thuế
cho Ngân sách Nhà nước. Do vậy, Nhà nước đã ban hành các sắc thuế trực thu, gián
thu, các khoản phí, lệ phí để buộc người sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng dịch vụ,
người có thu nhập cao phải nộp thuế.
c) Tính không hoàn trả trực tiếp :
Tính không hoàn trả trực tiếp thể hiện trên các khía cạnh : người nộp thuế vào
Ngân sách Nhà nước không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch
vụ công cộng trực tiếp cho mình. Người nộp thuế sẽ được nhận một phần dịch vụ công
cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không
nhất thiết phải trùng với khoản thuế mà họ phải nộp cho Nhà nước.
d) Tính cố định của thuế :
Các Nhà nước ban hành sắc thuế, luật thuế để làm căn cứ, bắt buộc các thanh
phần kinh tế trong xã hội phải đóng góp nghĩa vụ thuế. Luật thuế ban hành một mức
thu cố định cho các hàng hóa dịch vụ. Do đó, các mức cố định này mà Nhà nước có thể
tính trước được nguồn thu của mình. Người nộp thuế cũng có thể tính toán được sẽ
- 9 -
phải nộp bao nhiêu trong thu nhập của mình cho Nhà nước. Thuế còn có một ưu điểm
lớn với Nhà nước là thu một cách thường xuyên, chỉ cần có hoạt động sản xuất kinh
doanh là phải nộp thuế cho Nhà nước. Do đó, Nhà nước có nguồn tài chính để chi trả
thường xuyên ổn định cho các nhu cầu của mình.
1.1.1.3- Bản chất của thuế :
Thuế gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và nền kinh tế hàng
hóa. Nhà nước là người đại diện quyền lực cao nhất cho một giai cấp nhất định. Do đó,
thuế có bản chất kinh tế - chính trị - xã hội sâu sắc.
a) Bản chất kinh tế của thuế :
Bản chất kinh tế của thuế thể hiện trước hết là một phần thu nhập của xã hội được
tập trung để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Kinh tế là cơ sở của thuế. Không có sản xuất và phát triển sản xuất và sản xuất
không có hiệu quả thì nguồn thu từ thuế của Nhà nước không thể tăng nhiều và nhanh
được. Vì thế, qua thu thuế phải tác động tới sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất
kinh doanh phát triển, thúc đẩy thực hành tiết kiệm mọi mặt trong sản xuất và tiêu
dùng một cách hợp lý để tạo nguồn thu ngày càng lớn cho Ngân sách. Mức động viên
về thuế không hợp lý, chỉ nhằm đáp ứng đơn thuần nhu cầu chi tiêu của Nhà nước mà
bỏ qua đảm bảo tăng trưởng về kinh tế thì thường là gặp thất bại, dễ dẫn đến hậu quả
xấu nhiều mặt cả về kinh tế - chính trị. Ngược lại, mức động viên hợp lý sẽ có tác
dụng tăng thu cho Ngân Sách và kích thích sản xuất phát triển.
b) Về bản chất giai cấp của thuế :
Bản chất giai cấp của Nhà nước quyết định bản chất của thuế. Cùng một hiện
tượng Ngân sách thu thuế của dân, nhưng với các Nhà nước khác nhau thì bản chất của
thuế khác nhau. Điều đó được thể hiện bên trong những nội dung chủ yếu của thuế là :
Thuế thu vào ai? Thu như thế nào? Và thu để làm gì? Có thể nói mục đích của thuế -
Thu để làm gì đã thể hiện rõ ràng nhất mục đích của thuế. Trong xã hội người bóc lột
người, nhân dân lao động đóng thuế cho Nhà nước để nuôi bộ máy áp bức, bóc lột lại
- 10 -
chính mình. Còn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân đóng thuế để chi tiêu cho
những công việc nhằm phục vụ trở lại nhân dân lao động. Đó là điều khác nhau cơ bản
về bản chất giai cấp, bản chất chính trị của thuế.
c) Thuế còn thể hiện tính xã hội rộng rãi :
Trước hết, vì thuế thu vào toàn dân, thuế có liên quan đến mọi tổ chức, cá nhân
trong xã hội. Thuế điều chỉnh các quan hệ phân phối, phân phối lại thu nhập xã hội
giữa các tổ chức kinh tế, giữa các tầng lớp dân cư.
1.1.1.4- Chức năng của thuế :
a) Chức năng huy động nguồn lực tài chính :
Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nước
trong tiến trình phát triển của xã hội. Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn lực tài
chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đời của thuế.
Thông qua chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế mà các quỹ tiền tệ
tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và
hoạt động của Nhà nước. Chính chức năng này đã tạo những tiền đề để Nhà nước tiến
hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
(do đó chức năng này còn được gọi là chức năng phân phối của thuế).
Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng cường chi
tiêu tài chính, do đó vai trò của chức năng huy động tập trung nguồn lực của thuế ngày
càng được nâng cao. Thông qua thuế một phần đáng kể tổng sản phẩm quốc nội được
tập trung vào Ngân sách Nhà nước. Thuế trở thành nguồn thu có tỷ trọng lớn nhất trong
tổng thu Ngân sách Nhà nước của tất cả các nước có nền kinh tế thị trường. Hiện nay ở
hầu hết các nước trên thế giới, sau khi thực hiện cải cách hệ thống thuế, số thu từ thuế
và phí thường chiếm tới 90% tổng số thu Ngân sách Nhà nước.
Chức năng huy động nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan cho sự
can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế. Trong quá trình thực hiện chức năng này, thuế
đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
- 11 -
b) Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế :
Thuế thực hiện chức năng điều chỉnh thông qua việc quy định các hình thức thu
thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và nộp thuế, xây dựng chính
xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế. Trên cơ sở đó
Nhà nước hướng dẫn các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc
dân phù hợp với lợi ích của xã hội. Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai
trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao. Với cải cách thuế, sự
can thiệp của Nhà nước không còn mang tính mệnh lệnh bắt buộc, các cơ sở sản xuất
kinh doanh lựa chọn hình thức sản xuất cho phù hợp với nền kinh tế và đẩy mạnh sản
xuất kinh doanh phát triển tăng thu nhập cho bản thân mình và tăng nguồn thu cho
Ngân sách Nhà nước.
1.1.2- Phân loại thuế :
Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế trong hệ thống thuế thành những nhóm
khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Có các tiêu thức phân loại thuế như sau :
1.1.2.1- Dựa vào phương thức đánh thuế :
Các hình thức thuế đều đánh vào thu nhập của người nộp thuế. Người ta chia hệ
thống thuế thành hai loại :
- Thuế trực thu : là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người
nộp thuế.
Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế theo Luật định đồng nhất với đối
tượng chịu thuế. Người nộp thuế theo luật cũng là người kinh doanh. Ở nước ta thuế
trực thu bao gồm : Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Thuế thu nhập doanh
nghiệp, Thuế chuyển quyền sử dụng đất, Thuế tài nguyên…
Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức,
cá nhân có thu nhập. Ngoài ra, thuế trực thu còn cho phép xem xét đến các yếu tố
tương đối độc lập đến thu nhập của người nộp thuế như hoàn cảnh bản thân, hoàn cảnh
gia đình…Do đó, thuế trực thu có tác dụng rất lớn trong việc điều hòa thu nhập, giảm
- 12 -
bớt sự chênh lệch đáng kể về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, do đó đã đảm bảo
được tính công bằng trong xã hội.
Nhược điểm của thuế trực thu là dễ gây ra phản ứng từ phía người nộp thuế khi
Nhà nước điều chỉnh tăng thuế. Đồng thời việc theo dõi, tính toán số thuế phải nộp và
thủ tục thu, nộp thuế hết sức phức tạp. Số thu động viên vào Ngân sách thường chậm
và chi phí quản lý thu thuế khá tốn kém.
- Thuế gián thu : Là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp
thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng
các hàng hóa dịch vụ đó là người chịu thuế này.
Đặc điểm của thuế gián thu là người chịu thuế theo Luật và người nộp thuế không
đồng nhất với nhau. Người nộp thuế là người sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ,
còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hóa đó với giá cả trong đó có thuế.
Thuế gián thu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế giá cả
thị trường. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó của thuế gián thu không những chịu chi phối
của mối quan hệ cung cầu trên thị trường, mà còn phụ thuộc vào bản chất của thị
trường, trong đó có sự tác động của thuế. Về nguyên tắc thuế gián thu mang tính chất
lũy thoái vì nó không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế. Loại thuế này
thường là các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là các khoản thu nhập dùng để tiêu dùng. Ở
Việt Nam các khoản thuế gián thu bao gồm : Thuế giá trị gia tăng, Thuế tiêu thụ đặc
biệt, Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu…
Ưu điểm của thuế gián thu là đối tượng chịu thuế rất rộng. Thuế gián thu được
che đậy qua giá bán hàng hóa, dịch vụ nên người chịu thuế ít có cảm giác mình bị Nhà
nước đánh thuế. Thuế gián thu đem lại nguồn thu thường xuyên và ổn định cho Ngân
sách Nhà nước. Đối tượng quản lý thu thuế cũng tập trung hơn, nghiệp vụ tính và thu
thuế đơn giản, nên chi phí quản lý thuế cũng thấp hơn so với thuế trực thu.
- 13 -
Nhược điểm của thuế gián thu là có tính chất lũy thoái nên không đảm bảo tính
công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế. Nếu tính tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu
nhập thì người giàu có tỷ lệ động viên thuế chịu thuế thấp hơn so với người nghèo.
1.1.2.2- Dựa vào cơ sở đánh thuế :
Cơ sở đánh thuế chỉ rõ thuế đánh trên cái gì. Căn cứ vào cơ sở đánh thuế có thể
chia thuế làm ba loại :
- Thuế thu nhập : bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm
được. Thu nhập kiếm được từ nhiều nguồn : từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền
công ; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ
phần…do đó thuế thu nhập cũng có nhiều dạng : thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập
công ty, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài, thuế lợi tức cổ phần…
- Thuế tiêu dùng : Là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập của tổ
chức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại. Trong thực tế loại thuế tiêu dùng
được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt…
- Thuế tài sản : Là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản. Tài sản có
nhiều hình thức biểu hiện :
+ Tài sản tài chính gồm tiền mặt, tiền gửi, chứng khoán, thương phiếu…
+ Tài sản cố định gồm nhà cửa, đất đai, máy móc, nhà xưởng…
+ Tài sản vô hình như quyền sử dụng đất, lợi thế thương mại, bằng phát minh
sáng chế…
1.1.3- Các tiêu thức xây dựng hệ thống thuế :
1.1.3.1- Khái niệm về hệ thống thuế :
Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau, giữa chúng có mối quan
hệ mật thiết với nhau và việc xây dựng các loại thuế, phương pháp thu thuế được thực
hiện theo những nguyên tắc nhất định.
Tùy thuộc vào tình hình chính trị - kinh tế từng thời kỳ mà Nhà nước điều chỉnh
hệ thống thuế cho phù hợp. Điều đó có nghĩa là hệ thống thuế chịu sự chi phối của
- 14 -
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét