Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Một số vấn đề về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc
người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
khác thay đổi mức bồi thường.
4. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của cá nhân.
Theo quy định tại Điều 606 BLDS thì năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
của cá nhân được xác định:
- Người từ đủ 18 tuổi mà gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
- Người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi
thường toàn bộ thiệt hại bằng tài sản của mình; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để
bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để
bồi thường phần còn thiếu
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản
của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha,mẹ phải bồi thường phần còn
thiếu bằng tài sản của mình.
- Người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại trong thời gian
trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý thì các tổ chức này phải bồi
thường thiệt hại. Nếu các tổ chức này chứng minh được mình không có lỗi thì cha mẹ
của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự phài bồi thường thiệt
hại.
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người
giám hộ thì người giám hộ được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường;
nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì
người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng
minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình
để bồi thường.
5
II – Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
1. Cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có cơ sở pháp lý từ những quy
định chung thuộc chương XXI về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, và được quy định chi
tiết, cụ thể tại Điều 623 BLDS 2005 về BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra còn được quy định tại mục III
nghị quyết của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao số 3/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn
áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về BTTH ngoài hợp đồng.
2. Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ.
Điều 623 BLDS quy định “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông
vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất
cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy
định”.
Như vậy Điều 623 BLDS cũng như nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP không đưa ra
khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ liệt kê các đối tượng được coi là nguồn nguy
hiểm cao độ. Qua sự liệt kê các loại tài sản được coi là nguồn nguy hiểm cao độ trong BLDS
cũng như các văn bản hướng dẫn, có thể đưa ra khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ như sau:
“Nguồn nguy hiểm cao độ là những vật chất nhất định do pháp luật quy định luôn tiềm ẩn
nguy cơ gây thiệt hại cho con người, con người không thể kiểm soát được một các tuyệt đối”
2
.
Theo quy định tại Điều 623 BLDS thì có các loại nguồn nguy hiểm cao độ sau đây:
- Phương tiện giao thông vận tải cơ giới: Hiện nay chưa có khái niệm “phương tiện
giao thông vận tải cơ giới” trong bất kỳ văn bản pháp luật nào. Theo Luật giao thông
đường bộ thì “Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới)
gồm xe ôtô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe
mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xa gắn máy (kể cả xe đạp điện) và các loại xe
tương tự”. Ngoài phương tiện giao thông cơ giới đường bộ còn có phương tiện giao
2
Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2, Lê Đình Nghị (chủ biên), Nxb. Giáo dục, Tr. 208
6
thông cơ giới đường sắt, phương tiện giao thông cơ giới đường thủy và phương tiện
giao thông cơ giới đường hàng không.
- Hệ thống tải điện: được hiểu là dây truyền dẫn điện, mô tơ, máy phát điện, cầu dao…
- Nhà máy công nghiệp bao gồm nhà máy công nghiệp nặng, nhà máy công nghiệp
nhẹ…
Phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp chỉ được
coi là nguồn nguy hiểm cao độ khi nó “đang hoạt động”. Tất cả các tài sản trên nếu đang
trong trạng thái tĩnh thì không gây thiệt hại cho những người xung quanh.
- Vũ khí là những vật dụng có thể dùng vào chiến đấu, bao gồm: vũ khí quân dụng, vũ
khí thể thao, súng săn, công cụ hỗ trợ…
- Chất cháy, chất nổ là chất lỏng, chất rắn, chất khí dễ dàng gây cháy nổ. Chất cháy có
đặc tính tự bốc cháy khi tiếp xúc với ôxy trong không khí, nước hoặc dưới tác động
của những yếu tố khác ở nhiệt độ cao hoặc không cao (diêm, phốt pho, xăng dầu…).
Chất nổ là những chất có khả năng gây nổ mạnh, nhanh tỏa nhiệt và ánh sáng (thuốc
pháo, thuốc súng…)
- Chất độc là nhưng chất có độc tính cao, rất nguy hiểm cho sức khỏe, tính mạng của
con người, động vật, cũng như môi trường xung quanh.
- Chất phóng xạ là chất ở thể rắn, lỏng hoặc khí có hoạt động phóng xạ riêng lớn hơn
70 KBO/Kg.
- Thú dữ là động vật bậc cao, có lông mao, có tuyến vú, nuôi con bằng sữa, to lớn, rất
dữ, có thể làm hại người ví dụ: hổ, báo, gấu, sư tử…
Điều 623 BLDS không đưa ra khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ chỉ liật kê
nguồn nguy hiểm cao độ do đó điều luật cũng đề cập đến “nguồn nguy hiểm cao độ khác” do
pháp luật quy định. Đây là quy định mang tính “mở”, nếu có văn bản pháp luật khác quy
định bổ sung về nguồn nguy hiểm cao độ thì nguồn nguy hiểm cao độ còn được xác định
theo văn bản này.
3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
7
Trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một loại trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng. Theo đó, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp
nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho người khác, phải bồi thường thiệt hại kể cả
trong trường hợp chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ
không có lỗi
3
. Tuy nhiên đây là một trong những trường hợp đặc biệt của trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng :
- Thứ nhất, BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một trường hợp BTTH do
tài sản gây ra. Tức là thiệt hại xảy ra có nguyên nhân chính được xuất phát từ tài
sản mà không phải là hành vi của con người.
- Thứ hai, với BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì chủ sở hữu hoặc người
chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho người
khác, phải bồi thường thiệt hại kể cả trong trường hợp chủ sở hữu hoặc người
chiếm hữu hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ không có lỗi.
4. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra.
a/ Có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ.
Chúng ta chỉ có thể áp dụng trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra khi
thỏa mãn các dấu hiệu sau:
- Thứ nhất, những sự vật chỉ được coi là nguồn nguy hiểm cao độ khi “đang hoạt
động” – có sự vận hành của những loại tài sản này. Cụ thể: Đối với phương tiện giao
thông vận tải cơ giới phải đang di chuyển hoặc không di chuyển nhưng thiết bị đang
được vận hành; đối với hệ thống tải điện phải có dòng điện chạy qua; đối với nhà
máy công nghiệp phải đang trong quá trình vận hành, sản xuất… Tất cả những loại
tài sản trên nếu đang ở trong trạng thái tĩnh thì không gây thiệt hại cho những người
xung quanh do đó nếu có thiệt hại xảy ra thì không thể xác định là thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra.
3
Theo T.S Phùng Trung Tập, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe, tính mạng, NXB. Hà Nội, Hà
Nội, 2009, Tr 259.
8
- Thứ hai, thiệt hại phải do chính bản thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, hoàn toàn
độc lập và nằm ngoài sự kiểm soát của con người ví dụ: xe ô tô đang vận hành bị mất
phanh, nổ lốp… thú gây thiệt hại cho khán giả khi đang biểu diễn xiếc Những
trường hợp thiệt hại liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ nhưng không phải do tự
thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà do hành vi của con người gây ra thì trách
nhiệm BTTH phát sinh thông thường ví dụ: lái xe phóng nhanh vượt ẩu gây tai nạn,
say rượu bia điều khiển xe gây tai nạn…
- Thứ ba, những thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phải có tính trái pháp luật.
Hoạt động của xe ủi, xe cần trục… phá dỡ công trình xây dựng trái phép không coi là
trái pháp luật. Hoặc có những trường hợp do đặc tính của nguồn nguy hiểm cao độ
mà việc gây thiệt hại của những phương tiện này không bị coi là trái pháp luật. Ví dụ,
để bảo đảm an toàn giao thông đường sắt, những thiệt hại trên đường sắt do tàu hỏa
gây ra cho các chủ thể khác không bị coi là trái pháp luật và ngành đường sắt không
có trách nhiệm bồi thường
Bên cạnh đó, trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cũng loại trừ các
trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng,
tình thế cấp thiết (Theo khoản 3 Điều 623 Bộ luật dân sự).
b/Có thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Như chúng ta đã biết, bản thân nguồn nguy hiểm cao độ luôn tiềm ẩn nguy cơ gây
thiệt hại cho những người xung quanh mặc dù đã được áp dụng các biện pháp phòng
ngừa. Những người xung quanh ở đây có thể là chủ sở hữu, người đang chiếm hữu, sử
dụng nguồn nguy hiểm cao độ, những người đang tiếp xúc với nguồn nguy hiểm cao độ
do mối quan hệ lao động, những người không có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao
độ… Đối với chủ sở hữu, họ phải tự chịu mọi rủi ro đối với thiệt hại do tài sản của mình
gây ra. Đối với người bị thiệt hại trong khi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo nghĩa
vụ lao động, họ sẽ được hưởng bồi thường theo chế độ bảo hiểm tai nạn lao động. Như
vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ chỉ được đặt ra khi
nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho những người không có quan hệ lao động hoặc
9
sở hữu liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ nhằm để bảo vệ quyền được bồi thường
cho những người này.
Do đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ là những loại tài sản có khả năng gây ra
thiệt hại trong quá trình vận hành, sử dụng chúng, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra chỉ có thể là những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe. Thiệt hại về danh dự,
uy tín, nhân phẩm – là những thiệt hại chỉ có thể phát sinh do hành vi của con người nên
không thuộc phạm vi tác động của nguồn nguy hiểm cao độ.
c/ Có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy
hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra.
Đối với trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ thì hoạt động gây thiệt hại trái
pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ được coi là nguyên nhân và thiệt hại được coi là hậu
quả. Điều kiện này đòi hỏi hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên nhân tất yếu,
nguyên nhân có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại và thiệt hại xảy ra là kết quả của hoạt
động “tự thân” của nguồn nguy hiểm cao độ. Khi xác định trách nhiệm BTTH, điểm mấu
chốt quan trọng là xác định thiệt hại đó do nguyên nhân nào gây ra và nguyên nhân đó có
dẫn đến hậu quả không để tránh nhầm lẫn với trường hợp bồi thường thiệt hại liên quan đến
loại tài sản được coi là nguồn nguy hiểm cao độ
d/ Điều kiện lỗi đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Như đã phân tích ở trên, thì lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng. Chỉ khi nào một người do lỗi của mình mà gây thiệt hại, xâm phạm
đến quyền lợi hợp pháp của người khác thì mới phải bồi thường. Tuy nhiên trong BLDS
cũng quy định những trường hợp đặc biệt mà trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh
ngay cả khi người gây thiệt hại không có lỗi. Trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra là một trong những trường hợp đặc biệt đó.
Khoản 3 Điều 623 BLDS quy định “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm
hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi”. Như vậy
có thể thấy rằng trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dựa trên sự suy đoán
trách nhiệm đối với người có nghĩa vụ quản lý nguồn nguy hiểm cao độ. Dấu hiệu quan
10
trọng nhất để xác định trách nhiệm này là hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ chính là
nguyên nhân trực tiếp, là yếu tố quyết định dẫn đến thiệt hại. Hoạt động gây thiệt hại của
nguồn nguy hiểm cao độ có thể hoàn toàn không có lỗi của con người (như xe đang chạy
trên đường bất ngờ nổ lốp trước dẫn đến đổi hướng đột ngột gây thiệt hại) hoặc cũng có thể
có một phần lỗi của người quản lý, điều khiển (như trước khi xuống dốc, lái xe không kiểm
tra lại phanh; lốp mòn nhưng chưa thay do chủ quan nghĩ rằng xe vẫn vận hành tốt…), tuy
nhiên lỗi ở đây chỉ đóng vai trò thứ yếu đối với thiệt hại. Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do
lỗi của con người trong việc trông giữ, bảo quản, vận hành nguồn nguy hiểm cao độ thì
không áp dụng trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà sẽ áp dụng trách
nhiệm BTTH thông thường.
5. Xác định thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Do đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ là những loại tài sản có khả năng gây ra
thiệt hại trong quá trình vận hành, sử dụng chúng nên thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra chỉ có thể là những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe. Thiệt hại về danh dự, uy
tín, nhân phẩm – là những thiệt hại chỉ có thể phát sinh do hành vi của con người nên không
thuộc phạm vi tác động của nguồn nguy hiểm cao độ. Việc xác định thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra cũng giống như việc xác định thiệt hại trong trách nhiệm BTTH ngoài
hợp đồng nói chung được quy định tại Điều 608, Điều 609, Điều 610 BLDS. Bao gồm:
- Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm: theo Điều 608 BLDS thì thiệt hại được bồi thường
trong trường hợp tài sản bị xâm phạm bao gồm: tài sản bị mất; tài sản bị hủy hoại
hoặc hư hỏng; lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản; chi phí hợp lý để
ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:
 Đối với thiệt hại về vật chất bao gồm:
 Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức
năng bị mất, giảm sút của người bị thiệt hại.
11
 Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu
nhật thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định
được thì áp dụng mức thi nhập trung bình của người lao động cùng loại.
 Chi phí hợp lý và phần thu nhật thực tế bị mất của người chăm sóc người bị
thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao
động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi
phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
 Đối với tổn thất về tinh thần: Ngoài thiệt hại về vật chất, người gây thiệt hại còn
phải bồi thường một số tiền bù đắp về tinh thần cho người bị thiệt hại. Mức bồi
thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa
thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do nhà
nước quy định.
- Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm:
 Đối với thiệt hại về vật chất:
 Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại
trước khi chết.
 Chi phí hợp lý cho việc mai táng.
 Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp
dưỡng.
 Đối với tổn thất về tinh thần: Người xâm phạm tính mạng của người khác còn
phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp về tinh thần cho những người
thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có
những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người
trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi
thường bù đắp về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được
thì mức tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định.
12
6. Xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra.
Căn cứ vào khoản 2, 3, 4 Điều 623 BLDS 2005 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP
ngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng, chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra bao gồm:
- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ.
- Người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ.
- Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ.
Trước hết chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải BTTH do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra. Chủ sở hữu là người có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản theo ý chí
của mình. Tuy nhiên việc thực hiện quyền sở hữu đó không được gây tổn hại tới lợi ích
công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Vì vậy, trong trường hợp nguồn
nguy hiểm cao độ đang do chủ sở hữu trực tiếp chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà gây
thiệt hại cho người khác thì chủ sở hữu có trách nhiệm bổi thường.
Thứ hai, trường hợp chủ sở hữu đã giao nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác
chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận
khác. Những thỏa thuận khác ở đây không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không
trái đạo đức xã hội. Người được chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao quyền chiếm
hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ được hiểu là người đang thực tế kiểm soát nguồn
nguy hiểm cao độ hoặc đang thực tế sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ. Việc chuyển giao
đó có thể thông qua hai hình thức:
- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ chuyển giao nguồn nguy hiểm cao độ theo nghĩa
vụ lao động. Trong trường hợp này, người được chuyển giao nguồn nguy hiểm cao
độ là những người làm công, ăn lương, được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy
hiểm cao độ để thực hiện nhiệm vụ mà người chủ lao động giao cho. Giữa chủ sở
hữu và người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có mối quan hệ
lao động, được xác lập qua tuyển dụng hoặc ký kết hợp đồng lao động. Mặc dù người
13
lao động là người đang thực tế chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ nhưng
hoàn toàn dưới sự quản lý, điều hành của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ và vì
lợi ích của chủ sở hữu nên phải coi đây giống như trường hợp chủ sở hữu nguồn
nguy hiểm cao độ đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng, theo đó, chủ sở hữu phải chịu
trách nhiệm khi tài sản của mình gây thiệt hại.
- Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ được chuyển giao cho người khác chiếm hữu, sử
dụng theo một giao dịch dân sự. Chủ sở hữu có thể chuyển giao quyền chiếm hữu, sử
dụng nguồn nguy hiểm cao độ cho chủ thể khác thông qua hợp đồng: mượn, thuê,
cầm cố, gửi giữ… tài sản hoặc ủy quyền cho người khác quản lý tài sản của mình.
Trong trường hợp này, trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trước
tiên căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên. Nếu các bên không có thỏa thuận ai phải
chịu trách nhiệm bồi thường thì áp dụng nguyên tắc chung của pháp luật, bên mượn,
thuê, nhận cầm cố, nhận gửi giữ, được ủy quyền quản lý tài sản là những người
chiếm hữu, sử dụng tài sản có căn cứ pháp luật, vì vậy họ có các quyền và nghĩa vụ
pháp lý nhất định. Do đó nếu nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại khi đang thuộc
quyền chiếm hữu, sử dụng của họ thì những chủ thể này phải bồi thường.
Thứ ba, trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì
theo khoản 4 Điều 623 BLDS:
- Nếu chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ hoàn toàn
không có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp
luật thì họ không phải BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Trong trường hợp
này chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm
cao độ sẽ không có trách nhiệm bồi thường nếu họ chứng minh được đã tuân thủ đầy
đủ các nghĩa vụ trong việc bảo quản, trông giữ, sử dụng NNHCĐ theo quy định của
pháp luật.
- Trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao
độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp
luật thì phải liên đới bồi thường cùng người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật. Ví dụ:
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét