Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

HỒN – TÌNH – HÌNH - NHẠC TRONG THƠ HOÀNG CẦM



ngành nghiên cứu văn học.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nếu những vở kịch thơ và những trang văn xuôi của Hoàng Cầm bộc lộ một
bề dày văn hóa cùng những trải nghiệm về đời, về nghệ thuật sâu sắc và thấu đáo thì
suối thơ của ông chính là dòng sông tâm hồn ông – nơi luôn đầy ắp những con sóng
dạt dào, trẻ trung và ngọt mát. Quả là, ở lĩnh vực nào Hoàng Cầm cũng tạo ra được
ấn tượng đẹp trong l
òng người đọc. Song có lẽ, với thi ca, sức bung tỏa của tài năng
và mạch cảm xúc bất tận trong tâm hồn ông mới thực sự tuôn trào. Luận văn không
đề cập đến toàn bộ sáng tác của Hoàng Cầm mà chỉ tập trung nghiên cứu phần thơ
của thi nhân. Ở đó, chúng tôi cũng không bàn đến mọi phương diện về nội dung và
nghệ thuật mà chỉ đi sâu tìm hiểu cái hay, nét đẹp của thơ ông qua những yếu tố về
hồn thơ, tình thơ, hình ảnh và nhạc điệu trong thơ.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đặt ra ấy, chúng tôi khảo sát toàn bộ
sáng tác thơ của Hoàng Cầm, cụ thể qua những tập thơ: “Mưa T
huận Thành”, NXB
Văn hóa 1991; “Bên kia sông Đuống”, NXB Văn học 1993; “Lá Diêu Bông”, NXB
Văn học 1993; “Về Kinh Bắc”,
NXB Văn học 1994; “Men đá vàng”, NXB Văn
học 1995; và “99 tình khúc”, NXB Văn học 1996. Ngoài ra, Hoàng Cầm còn có
nhiều tác phẩm thơ được in trên các báo và tạp chí song chúng tôi chỉ xem đó như là
những tài liệu tham khảo hữu ích cũng như những sáng tác văn xuôi và kịch thơ vậy.
Tuy sự nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đế mà đề tài đặt ra nhưng để
những điều ấy được khai thác trọn vẹn, được làm
sáng rõ, người nghiên cứu đặt
chúng trong mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với toàn bộ sáng tác của Hoàng Cầm,
với cả những sáng tác văn xuôi và kịch thơ của ông. Và trong chừng mực nhất định,
sự liên hệ, đối sánh những nét độc đáo, đặc sắc trong thơ Hoàng Cầm với sáng tác
thơ của một số tác giả trước, sau hay cùng thời với thi nhân nhằm khẳng định nét
đẹp riêng của tiếng thơ ông, xét thấy cũng là điều cần thiết.
4. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Thơ Hoàng Cầm như chính c
on người ông, thu hút sự quan tâm của mọi
người không phải bằng sự ồn ào, làm say mê lòng người không phải từ sự trau
chuốt đến bóng bẩy bởi lớp ngôn từ nhiều phép tắc. Vẻ đẹp thơ ông toát ra từ thế
giới tâm hồn,
từ tình cảm bao la mà rất mực chân thành của một nhà thơ suốt đời
tận tụy vì nghệ thuật, xem thơ là lẽ sống của mình. Sức quyến rũ kì lạ của thơ
Hoàng Cầm khiến cho những ai yêu thơ khó lòng mà dứt ra được, để rồi càng thấy
thương hơn, quý hơn tấm lòng và tài nghệ con người ấy. Tuy vậy, nhìn lại lịch sử


nghiên cứu văn học trước nay, có thể nói chưa có công trình nào nghiên cứu về thơ
Hoàng Cầm một cách toàn diện và có hệ thống. Dưới hình thức những tiểu luận,
những bài viết ngắn, giới nghiên cứu, phê bình, người giảng dạy và độc giả yêu
thích thơ Hoàng Cầm đã khám phá ra được những giá trị nhất định của thi phẩm
ông, khẳng định sự cống hiến to lớn của thi nhân trong nền văn học hiện đại.
Chí
nh thức bước vào làng Văn từ năm 1939 và thành công với nhiều vở kịch
thơ, nhưng phải nói, thơ là lĩnh vực Hoàng Cầm thử bút sớm nhất. Cậu bé ấy năm
lên tám tuổi đã thổi hồn mình vào trang thư tình trên nền thơ lục bát trao cho người
Chị yêu dấu của mình. Tuy vậy, thi nghiệp của ông chỉ thực sự được khẳng định khi
Bên kia sông Đuống ra đời. Bài thơ đã nâ
ng tên tuổi Hoàng Cầm lên trên đài thơ,
đứng cạnh các bậc liền anh Thế Lữ, Nguyễn Bính, Xuân Diệu…, và cùng với
những Lá Diêu Bông, Quả vườn ổi…, thơ Hoàng Cầm làm say lòng độc giả bằng
cách riêng của nó, thu hút mạnh mẽ sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình văn học.
Đến với thơ Hoàng Cầm, người nghiên cứu dù đứng ở góc độ nào, bàn về
phương diện gì cũng đều nhận ra cái tài thơ với tấm
lòng yêu thơ, yêu cuộc sống
hiếm thấy nơi ông, ngưỡng mộ thật sự vẻ đẹp tâm hồn, cốt cách của thi nhân. Và ở
những mức độ đậm nhạt khác nhau, các bài viết thể hiện niềm ưu ái, sự đồng cảm
và trân trọng đối với những vần thơ chan chứa tình đời, tình người, ngút đầy nỗi
nhớ, niềm thương của
ông. Những bài viết ấy được tập hợp lại trong mấy quyển
sách sau đây: Quyển thứ nhất do Hoài Việt sưu tầm, biên soạn, có tên: Hoàng Cầm,
thơ văn và cuộc đời của NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1997. Quyển thứ hai
của Vũ Tiến Quỳnh, quyển Lý luận phê bình – bình luận văn học, giới thiệu các tác
giả Hồng Nguyên, Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Quang Dũng và Hoà
ng Cầm,
NXB Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh, 1998. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Lạc biên soạn
quyển Hoàng Cầm và giai điệu thơ Kinh Bắc, tập sách có sự tham gia của nhiều
giáo sư, tiến sĩ, nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng và được Hội Nghiên cứu và Giảng
dạy Văn học thành phố Hồ Chí Minh, NXB Trẻ xuất bản năm 2004. Quyển Hoàng
cầm – Tác giả, tác phẩm, tư liệu và quyển N
hà văn và tác phẩm trong nhà trường,
về hai tác giả Nguyễn Đình Thi và Hoàng Cầm, được Nguyễn Bích Thuận và Lê
Lưu Oanh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn nhiều bài viết về đời và thơ Hoàng
Cầm song phần lớn đã được giới thiệu trong những sách trên. Ngoài ra, còn có một
số bài nghiên cứu nằm rải rác trên các sách, báo và tạp chí, với những cách nhìn,
cách nghĩ khác nhau, tác giả mỗi bài viết đã góp những tiếng nói đầy ý nghĩa cho
việc nhìn nhận, đánh giá về sự nghiệp thơ ca H
oàng Cầm. Trong phạm vi giới hạn


của luận văn, chúng tôi điểm qua những bài nghiên cứu, phê bình, những bài viết có
liên quan và ít nhiều có ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu chuyên luận này.
Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm từ trước đến nay, có thể
thấy, thơ ông được tiếp cận theo hai hướng. Hướng thứ nhất gồm những bài giới
thiệu về cuộc đời và con người nhà thơ, những bài bình luận, đánh giá mang tính
khái quát về cái hay, nét đẹp và cả những điểm hạn chế trong thơ Ho
àng Cầm.
Hướng thứ hai đi vào phân tích, thẩm bình một số tác phẩm cụ thể nhằm cung cấp
những tư liệu cần thiết, những gợi ý hữu ích cho việc khám phá, cảm thụ tác phẩm
văn học nói chung và tác phẩm trong nhà trường nói riêng. Việc trình bày sơ lược
những hướng tiếp cận thơ Hoàng Cầm nhằm có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về đặc
điểm nội dung và nghệ thuật thơ ông là điều m
à chúng tôi mong muốn.
Theo hướng tiếp cận thứ nhất, người nghiên cứu trên nhiều phương diện
khác nhau đã đem đến cho người đọc những ấn tượng chung nhất về thơ Hoàng
Cầm. Tác giả các bài viết ấy là những nhà nghiên cứu, phê bình văn học nổi tiếng,
những nhà văn, nhà thơ và những người bạn thân thiết của ông. Đó là những tên
tuổi đư
ợc nhiều người biết đến như: Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Đức Hiểu, Hoài Việt,
Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp, Đỗ Lai Thúy, Ngô Văn Phú, Nguyễn Xuân
Lạc…
Hoàng Cầm sinh ra và lớn lên trên đất Kinh Bắc huê tình, diễm ảo, vùng đất
đã nuôi dưỡng, bồi đắp cho hồn thơ Hoàng Cầm từ nhiều nguồn, nhiều phía. Nhận
định về điều nà
y, Nguyễn Xuân Lạc viết: “Ta từng biết một Nguyên Ngọc gắn bó
với rừng xà nu Tây Nguyên, một Quang Dũng phiêu diêu trong mây trắng xứ
Đoài,… nhưng dễ thường ít có thi nhân nào lại gắn bó đến mức máu thịt với quê
hương Kinh Bắc như Hoàng Cầm Có sự hòa hợp cộng hưởng giữa thế giới Kinh
Bắc với hồn thơ Hoàng Cầm để làm nên một gương mặt thi nhân, một người thơ
Kinh Bắc quen mà lạ, với phong cách và sắc điệu riêng,
chỉ riêng ông mới có” [66,
tr.15]. Bài viết của Nguyễn Xuân Lạc về Hoàng Cầm và thơ ông tuy không thật dài
song đã bộc lộ một sự am hiểu sâu sắc về đời thơ này. Tác giả viết: “Người thơ ấy
đã đi một chặng đường thơ hơn nửa thế kỉ. Nhiều dáng thơ, kiểu thơ, lối thơ nhưng
vẫn chung một hồn thơ Kinh Bắc. Hồn thơ ấy đã lắng đọng và thăng hoa để làm
nên
những nét đẹp riêng của thơ Hoàng Cầm mà dường như chỉ ông mới có” [66, tr.20].
“Những nét đẹp riêng” ấy trong thơ Hoàng Cầm được người viết nhận ra từ những
chiếc Lá Diêu Bông, từ Cây Tam Cúc, Quả vườn ổi, từ Bên kia sông Đuống…, từ cả
tập Mưa T
huận Thành, Về Kinh Bắc , và được khẳng định đó là “cái đẹp kì ảo”,


“lý tưởng”, là “cái đẹp của thơ siêu thực”, “thơ của cái viết tự động”.
Thơ Hoàng Cầm là vậy, làm khó ngay cả những người thật sự am hiểu và
yêu thích thi ca. Nghĩ về thơ ông, Nguyễn Đăng Mạnh băn khoăn: “Hình như có
một không gian Kinh Bắc rất đỗi cổ kính trong thơ anh” [66, tr.26]. Cùng suy nghĩ
ấy, Nguyễn Xuân Lạc khẳng định: “Cái may mắn lớn nhất trong đời thơ ông là được
hút nhụt ngọt từ vườn hoa thơ diễm tình Kinh Bắc. Và vùng đất thơ ấy đã nuôi

dưỡng, ôm ấp, nâng đỡ cho hồn thơ ông bay lên” [66, tr.24]. Đây là điều không ai
có thể phủ nhận trước mỗi thi phẩm của Hoàng Cầm, mà có chăng chỉ là những
cách nói khác nhau, xuất phát từ những điểm nhìn khác nhau.
Thật vậy, Đỗ Đức Hiểu trong bài viết Hoàng Cầm, đã nói: “Tính hiện đại của
thơ Hoà
ng Cầm không phải là như ở thơ Vũ Hoàng Chương (nhà thơ đô thị với phố
xá đô thị, sàn nhảy đô thị, tiệm hút đô thị…), mà là một vùng cỏ cây, sông hồ nhẹ
bay của thôn quê Kinh Bắc, được siêu thực hóa thành cỏ Bồng Thi, cầu Bà Sấm, bến
Cô Mưa và lá Diêu Bông, hay những người con gái mờ ảo, những mối tình hư ảo xứ
Kinh Bắc, xóa nhòa trong mưa bụi ba
y” [66, tr.30]. Còn Nguyễn Đăng Điệp thì
khẳng định: “Chắc hẳn, nếu tước đi cái không khí Kinh Bắc thì có lẽ thơ Hoàng
Cầm sẽ hết thiêng! Bởi lẽ, “Kinh Bắc đã trở thành quê thiêng – quê thơ – quê tình
trong thơ Hoàng Cầm”, và “Vũ trụ thơ ấy thực chất là hồn quê Kinh Bắc rung lên
qua những sợi dây thần kinh thi ca nhạy cảm được ươm ủ từ thời ấu thơ” [
66, tr.44].
Hiểu rõ điều đó, lại có diệp đi sâu nghiên cứu vườn thơ Hoàng Cầm, Nguyễn Đăng
Điệp đi đến kết luận: “Trong thơ Việt Nam thế kỉ XX, chưa một ai sánh được
Hoàng Cầm khi viết về Kinh Bắc” [66, tr.44]. Phải có một cái nhìn bao quát, sự am
hiểu sâu sắc và lòng yêu thích thực sự về thi giới Hoàng Cầm, người viết mới có thể
đưa ra được những lời n
hận định đầy sức thuyết phục như vậy. Những nhận xét như
thế tuy có phần cảm tính và chủ quan nhưng kì thực bắt nguồn từ chính hồn thơ
Hoàng Cầm, từ những trang thơ giàu sức lan tỏa của ông.
Thâm nhập sâu vào thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cầm, Nguyễn Đăng Mạnh
gọi đó là “phạm trù siêu thơ”. “Một thứ thơ hướng nội ở độ sâu thẳm n
hất. Nó đi
hẳn vào cõi tiềm thức, vô thức và diễn tả bằng chính ngôn ngữ mông lung vô thức”
[66, tr.28]. Ông cũng cho rằng: “Sáng tạo ra thứ thơ này phải là những nhân cách
vô cùng trung thực, trung thực với mình, trung thực với người” [66, tr.28]. Chính
phẩm chất tốt đẹp ấy đã giúp Hoàng Cầm tạo nên phong cách riêng, vẻ đẹp riêng
cho thơ ông. Và cũng từ đó, nhiều sự nghiên cứu đã chú ý đến đặc điểm
này của thơ
ông. Nguyễn Đăng Điệp xem Hoàng Cầm là “Người dệt thơ từ những giấc mơ”;


Nguyễn Xuân Lạc khẳng định cái đẹp trước hết trong thơ Hoàng Cầm là “cái đẹp kì
ảo, lý tưởng trong thơ tình”, và là “cái đẹp của thơ siêu thực, thơ của cái viết tự
động” [66, tr.20-21]; còn Đỗ Lai Thúy thì nhận định: “Có thể Hoàng Cầm không có
lý luận, không có tuyên ngôn như nhóm siêu thực của Bréton, nhưng trên thực tế
ông đã sáng tạo như họ” [66, tr.56]. Cũng trên quan điểm ấy, Đỗ Đức Hiểu viết về
Mưa Thuận Thành: “Mưa Thuận Thành là thế giới siêu Thuận thành, siêu Kinh Bắc,
siêu mưa” [66, tr.30].
Tìm
hiểu thơ ông, nhất là những sáng tác ở giai đoạn sau, nhiều nhà nghiên
cứu, điển hình như Nguyễn Đăng Điệp, đã khẳng định: “Đó là tiếng vọng của cõi
mơ, là sự siêu thăng của vô thức” [66, tr.52]. Dễ hiểu hơn, Đỗ Lai Thúy nói: “Đó là
thơ của tiềm thức, của giấc mơ, mê sảng, của cái viết tự động…” [66, tr.56]. Một
chỗ khác, tác giả viết: “Nhà thơ chìm
vào tiềm thức để cho ngòi bút tự tuôn chảy”.
Điều kì lạ mà hết sức thú vị này, chính Hoàng Cầm đã chia sẻ trong nhiều
bài viết của mình. Trong Đôi dòng tâm tưởng về thơ, thi nhân viết: “Thơ, từ những
khát vọng người, từ vùng u huyền, bí ẩn nhất, bật ra như một điệu đàn, như một
hình bóng, bất chợt, như tiếng nói các thần linh không biết tự thưở nào” [
101, tr.89].
Sự thật, nhiều bài thơ của Hoàng Cầm đã ra đời như vậy, và sự thật, đó là những tác
phẩm được độc giả yêu thích trước nay. Nhà thơ tâm tình: “Nói chung, hầu hết
những bài thơ được độc giả yêu thích trong nhiều năm của tôi, bao giờ cũng bắt đầu
một cách vi diệu là từ ngoài tôi, vẳng lên đôi ba câu nghe rất rành rẽ giọng phụ nữ
lảnh l
ót mà rất xa, như hát mà như đọc” [101, tr.93]. Kì thực, đó chính là tiếng nói
dội lên từ tiềm thức thi nhân, những gì tưởng đã lắng đọng thật sâu trong hồn ông
bỗng có lúc vọng về, thổn thức, khôn nguôi. Gọi là “thơ của giấc mơ”, chớ hiểu
giấc mơ theo nghĩa thông thường của nó, bởi giấc mơ ấy thật diệu kì mà chẳng mấy
ai có đuợc. Đó là kết quả của ba
o đêm thao thức không ngủ, là sự thăng hoa của một
hồn thơ, là sự kết tinh máu thịt của cuộc đời và tâm hồn nhà thơ. Trong “những liên
tưởng đứt đoạn, những hình ảnh rời rạc là rất nhiều các khoảng trắng, các dấu
lặng Tất cả trôi đi trong một nhịp điệu thôi miên” [66, tr.56], Đỗ Lai Thúy viết.
Vậy nên, tì
m hiểu thơ Hoàng Cầm, nhất định phải nhìn thât kĩ, thật lâu và phải thật
sâu nữa. Sẽ thấy, trên trang thơ ông, những khoảng lặng ấy chất chứa thật “nhiều
xót xa, nhiều bi kịch, không nói” [66, tr.31]. Thấy được điều này trong thơ Hoàng
Cầm xem như chúng ta đã tiếp cận được một đặc điểm thi pháp của thơ ông.
Quan tâm nhiều đến nỗi ẩn ức, khối tình nghẹn ứ đầy trong lồng ngực thi
nhâ
n, trong bài Ấn tượng thơ Hoàng Cầm, Chu Văn Sơn viết: “Thứ tình nào làm


thành ẩn ức của nguồn thơ Hoàng Cầm? Một mối tình non? Mối tình câm? Mối tình
đau? Không, một mối tình nghẹn! Như cây lúa nghẹn đòng, như cây chuối nghẹn
buồng…Thơ Hoàng Cầm là thứ hoa trái vật vã mộng du, óng ả thanh cao mà phong
trần lận đận của nỗi nghẹn ngào đó” [151, tr.285-286]. Bài viết thuyết phục người
đọc bằng sự lý giải sâu sắc mối liên quan mật thiết giữa thế giới tinh thần, tình cảm
của nhà thơ với thi phẩm
ông, bằng những viện dẫn về cuộc đời và về thơ được rút
ra từ nhiều tác phẩm của thi nhân.
Luận giải về chất thơ Hoàng Cầm, Chu Văn Sơn đề cập đến vấn đề nhạc thơ,
điệu thơ Hoàng Cầm. Cụ thể, ông nói đến tình điệu riêng trong thơ Hoàng Cầm:
“Có cảm giác điệu thơ Hoà
ng Cầm như con hạc đầu đình muốn bay không cất nổi
mình mà bay, nó là những sải cánh, đập cánh chới với, chơi vơi” [151, tr.289]. Nửa
sau bài nghiên cứu, phần bàn về “sự hội nhập của nghệ thuật Hoàng Cầm”, qua đi
sâu phân tích bài thơ Cây Tam Cúc, tác giả Chu Văn Sơn bày tỏ suy nghĩ, cảm nhận
của mình về “bản lĩnh nghệ thuật quái kiệt” của nhà thơ này. Theo Chu Văn Sơn,
“Cây Tam Cúc là một trong những bài cao thủ nhất của Hoàng Cầm, một tìm tòi
thành công trong thi pháp của ông”, “là cái giá đã trả được của đời thơ Ho
àng Cầm”
[151, tr.291-297]. Ở đó, chàng thi sĩ tài hoa, đa tình này “đã biết tiết chế tình cảm
của mình, đã nén chìm tính biểu cảm vào câu chữ, để nỗi nghẹn ngào khuất chìm
trong câu chữ đặng kí thác trọn vẹn vết thương tủi cực của số phận mình” [151,
tr.297].
Đồng cảm với Chu Văn Sơn, trong bài Đọc Mưa T
huận Thành của Hoàng
Cầm, nhà văn Phạm Thị Hoài viết: “Trước hết, tôi thấy Hoàng Cầm đẹp và xa cách.
Thật lạ lùng, là thực ra hầu hết những gì tạm gọi là chất liệu làm nên thế giới thơ
ông đều còn nguyên cả đấy, thực ra không xa vời, không siêu nhiên hoang đường gì
hết, mà hồn thơ ông vẫn là một người khách xa…” [151, tr.250]. Ngẫm về điều đó,
nhà văn cho rằng: “Hoàng Cầm có
một hệ lời tinh vi và lắt léo… Cái hệ lời ới hời vi
vút sấp ngửa khép nép nghiêng ngửa mê và tê mê vời vợi ấy lại đi đôi với một âm
vận rất riêng, dường như đã được gọt rũa tính toán cho không còn một chút ngẫu
nhiên nào lọt lưới… Tất nhiên là Hoàng Cầm cầu kì. Bất kì câu nào của ông cũng
tiêu tao yểu điệu…” [151, tr.250-251].
Phạm Thị Hoài bộc lộ cảm nhận của m
ình: “Lần đầu đọc thơ ông, tôi hơi bối
rối trước những từ ngữ không ngờ có thể đặt cạnh nhau, những hình ảnh không ngờ
có thể nối tiếp nhau để xuất hiện những thi tứ không ngờ và một nhạc điệu không
ngờ” [151, tr.255]. Chính khả năng liên tưởng kì lạ đã “gợi về cho ông những cảm


xúc đang lang thang đâu đó, đã xâu chuỗi những hình ảnh, đã lảy ra những từ ngữ,
nhạc điệu không thể có nổi ở một trường liên tưởng nông cạn, nghèo nàn, hoặc tầm
thường hơn” [151, tr.256], Phạm Thị Hoài kết luận.
Về phương diện tình cảm trong thơ Hoàng Cầm, nhân đọc Mưa Thuận
Thành, Phạm Thị Hoài nhận xét: “Thế giới tình cảm của Hoàng Cầm trong Mưa
Thuận Thà
nh, dù gồm nhiều mảng rất khác nhau, chỉ xót xa phiền muộn, yểu điệu,
yếu ớt, tinh vi, nhiều mặc cảm, nhiều nữ tính” [151, tr.253]. Còn Về Kinh Bắc thì
“cho đến bây giờ vẫn tiếp tục mang vầng hào quang riêng…, và chỉ cái tên riêng
của nó thôi đã hứa hẹn, và hơn cả hứa hẹn: đã thiết lập hẳn một không gian tinh
thần đặc trưng” [151, tr.248]. Đó chính là không gian văn hóa Kinh Bắc.
Nghĩ về hồn thơ ấy, Hoà
ng Như Mai viết: “Đọc thơ Hoàng Cầm, ta cảm
tưởng như nhà thơ viết một mạch, một hơi những lời từ trái tim nhà thơ rót thẳng
vào lòng người đọc, không sắp xếp, không điểm trang, như nước suối từ khe đá
tuôn ra, như hoa mọc tự nhiên ngoài đồng nội. Thơ Hoàng Cầm mang sự nguyên
trinh của tình cảm, không trải qua một sự chế biến nà
o, không thêm một chút phụ
gia nào” [66, tr.82]. Về điều này, Lê Hồng Lâm cho rằng: “Hoàng Cầm làm thơ
không bao giờ có chủ ý từ trước mà phần lớn bắt nguồn từ một rung cảm, một kỉ
niệm, một chuyện cũ hay một nỗi đau buồn nào đấy… Những tập thơ của ông đều
xuất phát từ những cảm xúc đó và xuyên suốt trong thơ là chất trữ tình bay bổng
của một vùng văn hóa phồn thực Kinh Bắc, của một
con chim vàng với giọng hót
lảnh lót, của một cây đàn hoàng tử với âm điệu lịch lãm sang trọng ngân vang mãi
trong nền thơ Việt Nam” [152, tr.69].
Khái quát về đường thơ Hoàng Cầm, trong bài viết Đến với Hoàng Cầm,
Hoài Việt nói rằng: “Trước 1945, trong bảng phong thần của các nhà thơ mới chưa
có tên anh”. Tháng ngày qua, người ta ngỡ ngàng nhận ra “con chim có bộ lông
vàng quen nhả giọng véo von” ấy hóa ra là “một người làm vườn cần mẫn cuốc xới
trên mảnh đất hương hỏa, gie
o vãi những hạt hoa nhài, hoa ngâu… xen vào hoa
păngxê, hoa tuylíp. Vườn hoa thơ ấy bỗng trở nên đẹp lạ lùng” [151, tr.7-12].
Không tình nguyện làm một “phu chữ” như Lê Đạt, nhưng Hoàng Cầm cũng
quan niệm: “Thơ là thành tựu của cả tâm lực (dụng công trong việc đầu tư chất
xám) và thần lực (như có tiếng một người nào đó từ th
âm cung nội tâm hay từ cõi
mịt mờ hư ảo của xứ sở tâm linh thì thầm bên tai). Thơ là thành tựu của cả hữu thức
lẫn vô thức” [66, tr.36-37]. Cũng chẳng vướng vào bệnh cầu kì hình thức, quá xem
trọng việc mạ hình đẽo chữ trong sáng tác. “Con chữ trong tay anh như âm binh


trong tay phù thủy có tài phù phép. Anh muốn thổi hồn vào con chữ” [66, tr.38].
Thơ Hoàng Cầm do vậy có sức gợi cảm rất lớn, làm lay động cả tâm thức người
đọc. Nhận rõ điều đó, qua bài viết, Hoài Việt bày tỏ tình cảm, niềm tâm đắc của
mình về nhiều phương diện của tài thơ này.
Về vấn đề sáng tạo hình ảnh trong thơ, Hoài Việt ghi nhận: “Anh không
thuộc trường phái cấu trúc luận nhưng lại rất có duyên cấu trúc hì
nh ảnh trong thơ”
[66, tr.38]. Về khả năng dùng chữ thì biệt tài của “con người mái tóc bụi tro này là
việc mày mò tìm ra cái lẫn đằng sau chữ, tầng tầng lớp lớp chồng lên nhau, tạo nên
bề dày chữ nghĩa, không chỉ nổi mà còn chìm…” [66, tr.38]. Và với những gì đã có,
Mưa Thuận Thành, Về Kinh Bắc, Men đá vàng và 99 tình khúc, Hoàng Cầm nghiễm
nhiên được coi là “một cao thủ trong làng thơ hiện đại” [151, tr.11].
Bài nghiên cứu Hoàng Cầm và 99 tình khúc của Trần Mạnh Hảo đá
nh giá về
thơ Hoàng Cầm trên cả hai phương diện: thành công và hạn chế, cái hay và điểm
khuyết của nó. Qua đây, một lần nữa, cái đẹp, nét duyên của đời và thơ Hoàng Cầm
được ghi nhận: “Hoàng Cầm trong đời và trong thơ vốn là một thi khách tài hoa và
một ái khách đào hoa… Nhà thơ đã lấy yêu làm nghiệp để trang trải cái nghề thơ
vốn nhiều oan khiên của mình” [109, tr.110]. Bằng sự thấu hiểu và đồng cảm, tác

giả nói tiếp: “Chừng như nhà thơ có duyên phận với nỗi đau, nên cứ đụng vào nỗi
đau, thơ ông lại được người đọc cảm thông, chia sẻ” [109, tr.115]. Tuy chỉ đi sâu
bàn về 99 tình khúc nhưng những lời nhận định của tác giả lại có ý nghĩa với mọi
thi phẩm của Hoàng Cầm và đặc biệt với mảng thơ t
ình của ông. Trần Mạnh Hảo
khẳng định: “Tựu trung, thơ tình Hoàng Cầm đằm thắm, nồng nhiệt, thậm chí mê
cuồng nhưng không kém phầm quằn quại đau thương” [109, tr.113].
Lại nói về chữ nghĩa trong thơ Hoàng Cầm, cũng như Hoài Việt, Trần Mạnh
Hảo cho rằng: “Hoàng Cầm rất giỏi dùng chữ nghĩa, rất sành điệu trong kĩ thuật
thơ” [109, tr.116]. Tuy vậy, cũng có khi vì quá đỗi cầu kì m
à “cho chữ nghĩa chơi
son phấn, cho vần điệu lụa là quá xá rồng bay phượng múa, khiến cái Chân Mộc có
lúc bị tổn thương” [109, tr.124]. Theo Trần Mạnh Hảo, chính sự thiếu trong sáng
của những câu, những chữ quá ư cầu kì ấy đôi khi “đánh bạt” đi ý nghĩa của thơ,
“đánh hỏng” tình thơ, “người đọc không còn thấy thơ đâu nữa mà chỉ toàn những
chữ mạ kền, chữ và
ng mã nhóng nhánh thông thênh…” [109, tr.117].
Chia sẻ với suy nghĩ của Trần Mạnh Hảo, Phạm Thị Hoài nhận xét: “Sự lắt
léo quá mức của ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm có khi chẳng giúp được gì… Lắm chỗ
cứ ngang phứa lên, phá kỉ lục của cả những tay chơi thượng hạng nhất, tuy có chỗ


chỉ là một sự chơi không thấm thía lắm, không làm người đọc bàng hoàng bởi một
sự phi thường nào đó phát lộ qua vài con chữ…” [151, tr.251]. Nhà văn đi đến kết
luận: “Có thể say mê Hoàng Cầm, cũng có thể khó chịu, hoặc cả hai thứ một lúc”
[151, tr.257]. Dù vậy, “cũng có thể thuần túy thán phục tài thơ ông, học ở ông, thậm
chí chịu ảnh hưởng của ông…” [151, tr.257]. Trong bài viết 75 tuổi… Hoàng Cầm,
Lê đạt phát biểu: “Trong hàng ngũ các nhà thơ kháng chiến, ngoài
Tố Hữu ra có lẽ
ít người nổi tiếng như Hoàng Cầm. Cái quá nổi tiếng ấy cũng có mặt không hay. Nó
khiến một số người vội vã liệt anh vào hàng dễ dãi” [151, tr.237].
Đánh giá chung về đời thơ Hoàng Cầm, Phạm Thị Hoài cho rằng: “Hoàng
Cầm quả thật là một trong số không nhiều lắm những người lập được cho mình một
vương quốc thơ riêng, với nền móng, bản sắc và các nghi thức không thể trộn lẫn”
[151, tr.257]. Hoàng Cầm
– cái tên ấy, vì thế đã được tiếp nối vào danh sách không
dài lắm những tên tuổi sống mãi trong lòng bạn đọc.
Tóm lại, những kiến giải tuy không giống nhau song trong chừng mực nào
đó, thể hiện sự thống nhất trong cách nhìn nhận, đánh giá về thơ Hoàng cầm, sự
ngưỡng mộ, quý trọng đối với tài năng thơ của thi nhân. Sẽ càng có ý nghĩa nếu đời
thơ ấy nhận đư
ợc ngày càng nhiều sự thấu hiểu, lòng yêu thương cùng niềm cảm
thông của người đọc.
Hướng tiếp cận thứ hai đi sâu phân tích, tìm hiểu một số tác phẩm nổi tiếng,
tiêu biểu cho hồn thơ Hoàng cầm như: Bên kia sông Đuống, Lá Diêu Bông, Cây
Tam Cúc… Trong đó, Bên kia sông Đuống – một tác phẩm đặc sắc được chọn giảng
dạy trong nhà trường phổ thông – đư
ợc quan tâm nghiên cứu nhiều nhất. Ở đây,
chúng tôi đề cập đến một số bài viết của những tác gia như: Hà Minh Đức, Hoàng
Như Mai, Lê Trí Viễn, Trần Đăng Xuyền, Phạm Tiến Duật…
Ngay từ lúc ra đời đã gây một tiếng vang lớn, thi phẩm Bên kia sông Đuống
thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình văn học. Hoàng Như
Mai nhận định: “Bài thơ Bên kia sông Đuống là một sáng tác tiêu biểu trong t
hời kì
kháng chiến chống Pháp. Nó thể hiện sâu sắc, cảm động cuộc sống, tâm trạng, ước
vọng của nhân dân Việt Nam” [66, tr.91]. Trong bài Hoàng Cầm và các bài thơ Bên
kia sông Đuống, Lá Diêu Bông, Hà Minh Đức cũng khẳng địng giá trị bất hủ của
Bên kia sông Đuống: “Bài thơ đã nói lên được khá sâu sắc tình cảm với quê hương
đất nước, vẻ đẹp của vùng quê Kinh Bắc, tội ác của kẻ thù trên quê hương và tấm
lòng của người con nơi xa khi nghĩ về làng quê trong cảnh ngộ đau lòng đó” [132,

tr.100]. Có thể nói Bên kia sông Đuống đã mang được tấm lòng của nhà thơ đến với


quê hương.
Tâm đắc về những dòng thơ tuyệt bút trong bài Bên kia sông Đuống, về sắc
màu và âm thanh trên dòng sông thơ của Hoàng Cầm, nhà thơ Phạm Tiến Duật phát
biểu: “Trong thơ ca ta, kể từ xưa đến nay, chưa có bài thơ nào viết về quê hương
quan họ mà màu sắc văn hóa đông kết một cách xuất sắc như trong bài thơ này của
Hoàng Cầm” [66, tr.101]. Và chỉ mấy tiếng Bên kia sông Đuống thôi, theo Phạm
Tiến Duật, cũng “gợi nên một tình thế dân c
a sẽ là dòng nhạc chính trong cả phức
điệu trôi xuôi”, là “âm hình chủ đạo của cả bản sônat thơ dào dạt tình đời này” [66,
tr.100]. Nhìn Bên kia sông Đuống bằng cái nhìn đậm tính nhạc và đầy chất thơ ấy,
nhà thơ thấy “dòng sông Đuống như sáng rực lên, hắt ánh sáng ngũ sắc lên quê
hương, lộng lẫy một cách xa xót và xa xót một cách lộng lẫy đến kì
lạ” [66, tr.101].
Bình về tính nhạc trong bài thơ, Lê Trí Viễn nói đến cái giọng, cái điệu, cái
tông, nốt, âm thanh… của nhạc phẩm thơ này. Ông nói: “Bài thơ là một âm điệu tha
thiết, đau thương sâu sắc mà vẫn là dịu nhẹ, sâu xa, không ồn ào, to tiếng” [109,
tr.226]. Cái độc đáo của bài thơ, theo giáo sư, là đã mang “một giọng điệu nghĩa
tình thấm sâu, đi thẳng vào lòng người” [109,
tr.231].
Qua Bên kia sông Đuống, Trịnh Thanh Sơn đánh giá tài năng sáng tạo của
Hoàng Cầm: “Kể từ bài Bên kia sông Đuống, Hoàng Cầm đã tự lập nên một trường
thơ riêng, một gạch nối cực kì ngoạn mục giữa cổ điển và hiện đại, giữa đài các và
dân dã, giữa duy tâm và duy lý, vừa hiện hữu vừa thoát tục, vừa trần thế vừa bồng
lai… Hoà
ng Cầm như một con nhện vàng, ngày đêm miệt mài giăng tơ. Ông chăng
tơ không phải để bắt ruồi muỗi mà để bắt bóng giai nhân. Người xưa có câu thả mồi
bắt bóng là để nói về Hoàng Cầm và về thơ Hoàng Cầm là như vậy” [28, TT]. Đỗ
Lai Thúy thì cho rằng: “Hoàng Cầm là người kế tục Thơ Mới không phải như một
sự ké
o dài, mà như là sự phát triển, sau một đứt đoạn. Chỗ đứt đoạn tuyệt vời ấy là
Bên kia sông Đuống” [66, tr.55].
Viết về Bên kia sông Đuống, bài nghiên cứu của Trần Đăng Xuyền thể hiện
một sự cảm nhận tinh tế và sâu sắc. Tác giả bài thơ được ngợi ca trước hết bởi
những tình cảm thật đẹp: “Tình yêu tha thiết, say m
ê vùng quê Kinh Bắc vốn tiềm
tàng, chất chứa bấy lâu trong hồn thơ ông, chỉ chờ một hoàn cảnh nào đấy là bùng
lên mạnh mẽ, trào ra đầu ngọn bút thành những vần thơ dòng dòng cảm xúc” [66,
tr.105]. Và Bên kia sông Đuống là ngọn lửa tình cảm cháy lên từ dòng mạch cảm
xúc cuồn cuộn bao nỗi nhớ thương, tiếc nuối, đau đớn, xót xa, căm giận… trong
lòng thi nhân. Đồng cảm sâu sắc với nhà thơ cũng như nắm bắt được linh hồn của

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét