Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Ngành viễn thông việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế


5
- Mỗi thành viên trong khối vẫn có quyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn
bán với các quốc gia ngoài khối, tức là mỗi thành viên có thể có chính sách
ngoại thương riêng đối với các quốc gia ngoài khối (các quốc gia ngoài liên
minh). Hiện nay các liên kết như EFTA (European Free Trade Area),
NAFTA (North American Free Trade Agreement); AFTA (ASEAN Free
Trade Area) là những liên kết tiêu biểu thuộc hình thức liên kết này.
b) Liên minh hải quan hay đồng minh hải quan (Customs Union)
Đây là liên minh quốc tế nhằm tăng cường hơn nữa mức độ hợp tác giữa các
nước thành viên. Theo thoả thuận hợp tác này, các quốc gia trong liên minh bên
cạnh việc xoá bỏ thuế quan và những hạn chế về mậu dịch khác giữa các quốc gia
thành viên, còn cần phải thiết lập một biểu thuế quan chung của khối đối với các
quốc gia ngoài liên minh, tức là phải thực hiện chính sách thuế quan chung đối với
các nước không phải là thành viên. Thí dụ, Cộng đồng kinh tế Châu Âu ở thời kỳ
trước 1992 (European Economic Community).
c) Thị trường chung (Common Market)
Là liên kết quốc tế ở mức độ cao hơn liên minh hải quan. ở mức độ liên kết
này, các thành viên ngoài việc áp dụng các biện pháp tương tự như liên minh thuế
quan trong trao đổi thương mại, các thành viên còn thoả thuận và cho phép: tư bản
và lực lượng lao động được tự do di chuyển giữa các nước thành viên thông qua từng
bước hình thành thị trường thống nhất. (Các quốc gia trong cộng đồng kinh tế châu
Âu EEC từ năm 1992 thuộc loại hình liên kết này).
d) Liên minh kinh tế
Là liên minh quốc tế với một mức độ cao hơn về sự tự do di chuyển hàng
hoá, dịch vụ, vốn và lao động giữa các quốc gia thành viên, đồng thời thống nhất
biểu thuế quan chung áp dụng cho cả các nước không phải là thành viên. Ngoài ra
các nước thành viên còn phối hợp các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ (liên
minh Châu Âu (EU) từ năm 1994 được coi là liên minh kinh tế).

6
e) Liên minh tiền tệ (Monetary Union)
Đây là hình thức liên kết kinh tế với các mục tiêu:
- Hình thành đồng tiền chung thống nhất thay cho các đồng tiền riêng (dân
tộc) của các nước thành viên.
- Thống nhất chính sách lưu thông tiền tệ
- Xây dựng hệ thống ngân hàng chung thay cho các ngân hàng trung ương của
các nước thành viên.
- Xây dựng chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng chung đối với các nước ngoài
liên minh và các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế.
- Liên minh châu Âu đã có 25 nước tham gia thống nhất sử dụng chung đồng
EURO thuộc loại hình liên kết này.
1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về mở cửa và hội nhập
với thế giới, Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế với việc tham gia các thể chế sau:
1.2.1.Hiệp hội các quốc gia Đông nam á
Hiệp hội các quốc gia Đông nam á (ASEAN) được thành lập vào ngày 8
tháng 8 năm 1967 bao gồm Inđônêxia, Thái Lan, Singapore, Malaysia và Philippin.
Sau đó, Brunei Darusalem được kết nạp vào ngày 8 tháng 1 năm 1984 và từ ngày
28/7/1995 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội này, tiếp
sau đó là hai nước Lào và Myanma (1998) và Campuchia (1999).
Mục tiêu thành lập ASEAN đã được nhấn mạnh trong Tuyên ngôn ASEAN gồm:
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực
bằng những nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm xây dựng
nền tảng cho một cộng đồng các quốc gia Đông nam á thịnh vượng và hoà bình.
- Củng cố hoà bình và ổn định trong khu vực. Trong quan hệ giữa các quốc gia
tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

7
- Là diễn đàn để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong khu vực.
Thời kỳ đầu hợp tác kinh tế chưa có vai trò nổi bật trong ASEAN. Những
năm 70 và 80 của thế kỷ XX đã có những thoả thuận hợp tác về kinh tế và thương
mại như Thoả thuận thương mại ưu đãi (PTA), Chương trình hỗ trợ công nghiệp
ASEAN (AIC), Dự án công nghiệp ASEAN (AIP), Chương trình liên doanh công
nghiệp ASEAN (AIJV). Tuy nhiên, thời kỳ này chưa có những thành tựu hợp tác
kinh tế đáng ghi nhận trong khối.
Một mốc đánh dấu sự chuyển đổi trọng tâm hợp tác của ASEAN sang các
vấn đề kinh tế là việc các nước ASEAN quyết định thành lập Khu vực thương mại tự
do ASEAN (AFTA) vào năm 1992. Khu vực thương mại tự do ASEAN dựa trên các
yếu tố cơ bản sau:
- Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT).
- Thống nhất công nhận tiêu chuẩn hàng hoá giữa các nước thành viên.
- Công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hoá.
- Xoá bỏ những qui định hạn chế đối với hoạt động thương mại
- Tăng cường hoạt động tư vấn kinh tế vĩ mô
Trong các yếu tố trên chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung có vai
trò quan trọng nhất.
Ngoài Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung ASEAN còn có các
chương trình và hiệp định hợp tác quan trọng như:
- Hiệp định khung về đầu tư của ASEAN
- Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO)
- Hiệp định khung về dịch vụ của ASEAN (AFAS), và hai nghị định thư cam
kết giảm hàng rào thương mại trong 7 lĩnh vực dịch vụ gồm tài chính, vận tải
biển, du lịch, xây dựng, hàng không, kinh doanh và bưu chính viễn thông
- Xúc tiến ký kết Hiệp định khung e-ASEAN.

8
Ngay sau khi trở thành thành viên của ASEAN, Việt Nam đã cam kết tích cực
tham gia các chương trình và hoạt động của Hiệp hội trong đó có việc thực hiện
CEPT/AFTA. Tại Hội nghị Hội đồng AFTA ngày 10/12/1995, Việt Nam đã công bố
các danh mục và lộ trình cắt giảm thuế qua cho toàn bộ thời kỳ 1996-2000, gồm
1633 nhóm mặt hàng, chiếm 50,1% tổng các nhóm mặt hàng trong biểu thuế nhập
khẩu của Việt Nam. Trong lộ trình cắt giảm thuế này, danh mục các mặt hàng đưa
vào cắt giảm ngay của Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng đang có thuế suất thấp
hơn 5%. Do vậy, lịch trình cắt giảm không có ảnh hưởng lớn đến nhập khẩu và thu
ngân sách từ thuế nhập khẩu.
Năm 1996, Việt Nam đã công bố đưa thêm vào danh mục cắt giảm ngay 857
mặt hàng. Năm 1997 Việt Nam tiếp tục đưa thêm vào diện thực hiện CEPT 621 mặt
hàng, năm 1998 là 137, năm 1999 là 1949 và năm 2000 là 640
(1)
. Năm 2003, Việt
Nam đưa thêm 1.374 mặt hàng vào danh mục cắt giảm, nâng tổng số mặt hàng vào
diện cắt giảm thuế lên 10.143 mặt hàng
(2)

Từ năm 2006 trở đi, Việt Nam sẽ đưa các mặt hàng còn lại vào diện cắt giảm
thuế và phải giảm thuế suất các mặt hàng này xuống bằng 0 5%, trừ 139 mặt
hàng nằm trong danh mục loại trừ hoàn toàn và 51 mặt hàng nhạy cảm có lộ trình
giảm thuế chậm hơn
(3)
.
Ngoài việc thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo cam kết, Việt Nam còn
thực hiện các cam kết khác như hợp tác trong việc thống nhất tiêu chuẩn chất lượng,
công nhận lẫn nhau về kiểm tra và chứng nhận chất lượng, loại bỏ dần các rào cản
đối với đầu tư nước ngoài v.v Trong lĩnh vực hải quan, Việt Nam dã hợp tác với
các nước ASEAN trong việc thống nhất danh mục biểu thuế quan ASEAN, thực hiện

(1) Bộ Tài Chính. Lịch trình cắt giảm thuế quan của Việt Nam để thực hiện khu vực mậu dịch tự
do CEPT/AFTA, Nxb Tài Chính, 1998.
(2) Chương Chí Trung. Thời báo Kinh tế, số 39, 8/3/2004, tr.3
(3) Lương Văn Tự. Việt Nam thực hiện cam kết tham gia AFTA. <http://www.vnagency.com.vn>


9
các cam kết về đơn giản hoá và hài hoà thủ tục hải quan, áp dụng thống nhất Hiệp
định trị giá hải quan của WTO v.v
1.2.2 Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC)
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (APEC) được thành lập
năm 1989 ở Australia với 12 nước ban đầu. Đến nay, số thành viên của APEC đã là
21 nước. APEC gồm hai nền kinh tế mạnh nhất thế giới là Mỹ và Nhật Bản, cùng với
các nền kinh tế tăng trưởng nhanh ở Đông á như Trung Quốc, NIEs châu á, các nước
ASEAN. APEC là một khu vực kinh tế lớn nhất thế giới, bởi lẽ APEC có cả thành
phần của Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), có cả thành phần của Khu
vực Thương mại tự do ASEAN AFTA, cũng như thành phần của khu vực hợp tác kinh
tế giữa Australia và Niu Dilân. Các nền kinh tế thành viên APEC hiện chiếm tới 57%
tổng sản phẩm GDP của thế giới, khoảng 14.469 tỷ USD, và gần một nửa thương mại
toàn cầu
(1)
. Đối với Việt Nam, quan hệ thương mại với các nền kinh tế thành viên
APEC chiếm khoảng 62% cơ cấu xuất khẩu và 72% cơ cấu nhập khẩu
(2)
.
Tuyên bố Xơ-un 1991 đề ra 4 mục tiêu phát triển trong APEC gồm:
- Duy trì tăng trưởng và phát triển, vì lợi ích chung của nhân dân các quốc gia
trong khu vực, góp phần vào tăng trưởng và phát triển chung của kinh tế thế giới.
- Phát huy những tác động tích cực của sự phụ thuộc kinh tế ngày càng tăng
đối với kinh tế khu vực và thế giới bằng cách đẩy mạnh sự giao lưu hàng hoá,
dịch vụ, vốn và công nghệ.
- Xây dựng và tăng cường hệ thống thương mại đa biên, vì lợi ích của châu á -
Thái Bình Dương và các nền kinh tế khác.

(1) Việt Nam: Hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá - vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2002, Tr.441 440
(2) Bộ Kế hoạch Đầu tư. Việt Nam sau 5 năm gia nhập APEC. Trang website của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư: http://www.mpi.gov.vn

10
- Giảm dần những rào cản đối với thương mại hàng hoá và dịch vụ giữa các
nền kinh tế thành viên, phù hợp với các nguyên tắc của WTO và không có hại
đối với các nền kinh tế khác.
Tuyên bố Bô-go 1994 xác định mục tiêu của APEC là: thực hiện tự do hoá
thương mại và đầu tư tại Châu á - Thái Bình Dương đối với các nền kinh tế phát
triển vào năm 2010 và đối với các nền kinh tế đang phát triển vào năm 2020.
Nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra, nội dung hoạt động của APEC xoay
quanh ba trụ cột chính là tự do hoá thương mại và đầu tư, tạo thuận lợi cho thương
mại và đầu tư, và hợp tác kinh tế kỹ thuật với các Chương trình hành động tập thể
(CAP) và Chương trình hành động quốc gia (IAP) của từng thành viên. Nói cách
khác, mục tiêu của APEC không phải là để xây dựng một khối thương mại, một liên
minh thuế quan hay một khu vực mậu dịch tự do như kiểu EU, NAFTA, hay AFTA,
mà là một diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩy
thương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện
trong khi thực sự mở cửa đối với tất cả các nước và khu vực khác. Tất cả những nội
dung này hoạt động theo nguyên tắc cùng có lợi, nguyên tắc đồng thuận, nguyên tắc
tự nguyện và phù hợp với nguyên tắc của WTO/GATT.
Sau 16 năm tồn tại và phát triển, với vai trò là một tổ chức nhằm thúc đẩy mở
cửa và hợp tác về kinh tế thương mại giữa các nền kinh tế Châu á - Thái Bình
Dương, góp phần hình thành cơ chế buôn bán mở toàn cầu, APEC hiện đang đứng
trước những vấn đề không đơn giản. Có thể nói rằng, từ khi thành lập cho đến những
năm 1994, 1995, APEC tỏ ra là tổ chức hoạt động năng động và hiệu quả. Nhưng từ
sau Hội nghị cấp cao 1998, các hoạt động trong APEC đã có chiều hướng đi xuống
và không đạt được những kết quả về thực chất. Hướng hoạt động chính của APEC là
thúc đẩy mở cửa thông qua chương trình EVSL đã bế tắc và phải đưa vào đàm phán
trong WTO; lĩnh vực quan trọng khác là hợp tác kinh tế kỹ thuật thì tiến triển
chậm chạp.
Tuy vậy, xét về ba trụ cột của APEC, có thể thấy vấn đề tự do hoá thương mại
và tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư vẫn là chủ đề mà các thành viên APEC
tiếp tục theo đuổi và tập trung thực hiện. Bên cạnh đó, Chương trình hợp tác kinh tế

11
kỹ thuật (ECOTECH), trong đó nhấn mạnh đến công tác xây dựng năng lực, thu
hẹp khoảng cách, phát triển nguồn nhân lực đang trở thành một vấn đề được các
thành viên APEC quan tâm và chú trọng hơn bao giờ hết.
Việt Nam gia nhập APEC năm 1998. Tuy là một nền kinh tế đang phát triển
trong giai đoạn chuyển đổi. Việt Nam đã tích cực tham gia vào các chương trình
hoạt động của APEC. Tháng 10/1998, Việt Nam đã hoàn thiện Chương trình hành
động quốc gia và nộp cho APEC, sau đó hàng năm chung ta tiếp tục nâng cấp và
cụ thể hoá hơn các cam kết đưa ra trong IAP. Cam kết và thực hiện IAP của Việt
Nam được coi là nghiêm túc nhất trong số các thành viên mới gia nhập (đã mở
rộng cam kết trong 11 trên tổng số 15 lĩnh vực). Trong thời gian tới, Việt Nam tập
trung dành ưu tiên cho chương trình hợp tác kinh tế kỹ thuật, tham gia có chọn
lọc một số Kế hoạch hành động cụ thể (CAP) như thủ tục hải quan, tiêu chuẩn chất
lượng, du lịch
1.2.3 Tổ chức thương mại thế giới
a) Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một tổ chức quốc tế điều phối thương
mại toàn cầu có vai trò quan trọng bậc nhất hiện nay. WTO hiện có 148 nước thành
viên và chiếm tới 97% thương mại của thế giới. Là thành viên của WTO các nước sẽ
được hưởng các định chế thương mại và một môi trường thương mại bình đẳng hơn
trong khối, đương nhiên đi kèm với thuận lợi này là những thách thức lớn hơn khi
hàng rào bảo hộ của quốc gia bị dỡ bỏ.
Việt Nam đang trong quá trình đàm phán để sớm trở thành thành viên của
WTO. Đây là một bước đột phá quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
của đất nước. Trở thành thành viên của WTO sẽ làm thay đổi sâu sắc môi trường
kinh tế và thương mại của nước ta cả trước mắt và lâu dài.
b) Các nguyên tắc của hệ thống thương mại của WTO
WTO chính thức ra đời vào ngày 1 tháng 1 năm 1995 thay thế Hiệp định
chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) được ký kết vào năm 1947. Kế thừa tinh

12
thần và nguyên tắc của GATT, WTO đã nâng GATT lên một tầm cao mới. Các văn
kiện của GATT 1947 giờ đây đã được sửa đổi, cập nhật và được gọi là GATT 1994.
Các hiệp định của WTO do vậy đã mang tính chất của các đạo luật, còn tổ chức của
nó có thể ví như một thực thể kết hợp giữa nghị viện và toà án.
WTO tiếp tục thực hiện những mục tiêu được nêu ra trong lời nói đầu của
GATT 1947 là nâng cao mức sống của nhân dân các nước thành viên, tạo việc làm,
thúc đẩy tăng trưởng và thương mại, và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của
thế giới.
Các hiệp định của WTO bao trùm rất nhiều lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên
chúng đều được xây dựng dựa trên những nguyên tắc chung làm nền tảng cho hệ
thống thương mại đa phương. Các nguyên tắc đó là: không phân biệt đối xử, thương
mại tự do hơn, có thể dự đoán, khuyến khích cạnh tranh công bằng, và ưu đãi hơn
cho các nước kém phát triển.
Không phân biệt đối xử trong thương mại, điều đó có nghĩa là:
Thứ nhất, một nước không được có sự phân biệt đối xử giữa các đối tác
thương mại của mình. Khi nó trao quy chế tối huệ quốc (MFN), còn được gọi là
quan hệ thương mại bình thường cho một đối tác thương mại ví dụ: ưu đãi đặc biệt
nào đó như mức thuế quan thấp, thì đương nhiên tất cả các đối tác thương mại khác
là thành viên của WTO đều được hưởng sự ưu đãi đó.
Thứ hai, một nước phải thực hiện nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT), có nghĩa
là hàng hoá nhập khẩu phải được đối xử bình đẳng như hàng hoá sản xuất trong
nước. Nguyên tắc đó cũng được áp dụng cho các dịch vụ, thương hiệu, quyền sở hữu
trí tuệ. Với nguyên tắc này WTO ngăn cấm một nước áp đặt thuế hoặc các biện pháp
điều chỉnh nhằm chống lại các sản phẩm của nước ngoài.
Thương mại tự do hơn: nguyên tắc này yêu cầu các nước thành viên phải
ngày càng mở cửa thị trường, giảm dần các rào cản thương mại gồm cả các rào cản
thuế quan và phi thuế quan như hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu v.v Các vòng đàm
phán của GATT và WTO đã liên tục cắt giảm thuế quan và xoá bỏ nhiều rào cản phi

13
thuế quan khác. Hiện nay, biện pháp phi thuế quan hạn ngạch đã không được phép
áp dụng trong WTO trừ một ngoại lệ là hàng dệt may.
Có thể dự đoán: hệ thống thương mại đa phương yêu cầu các chính phủ phải
tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định và có thể dự đoán. Điều đó sẽ khuyến
khích đầu tư, tạo thêm việc làm và người tiêu dùng có thể hưởng lợi nhờ tăng khả
năng lựa chọn hàng hoá dịch vụ với giá cả thấp. Một biện pháp để đạt được điều đó
là WTO yêu cầu các chính phủ phải đặt ngưỡng cho các cam kết mở cửa thị trường
của mình. Ví dụ, đó là mức thuế ngưỡng, tức là mức thuế trần đối với hàng hoá nhập
khẩu mà chính phủ cam kết trong tương lai không được nâng thuế vượt hoặc không
cho phép áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng đối với xuất khẩu. Ngoài ra,
WTO còn yêu cầu các chính phủ phải minh bạch hoá chính sách thương mại thông
qua việc công khai hoá chính sách và việc thực thi chính sách ở trong nước và thông
báo thường xuyên cho WTO.
Khuyến khích cạnh tranh công bằng: quy tắc không phân biệt đối xử
(MFN và NT) được xem là qui tắc để đảm bảo sự cạnh tranh công bằng. Ngoài
ra, WTO còn có các quy tắc và hiệp định khác nhằm khuyến khích sự cạnh tranh
công bằng như các quy tắc về trợ cấp và chống bán phá giá, hiệp định về mua
sắm của chính phủ.
Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế: WTO đề ra các quy tắc và luật lệ
thương mại chung cho tất cả các nước thành viên. Tuy nhiên, trình độ phát triển của
các nước thành viên lại rất không đồng đều. Khoảng hai phần ba thành viên của
WTO là các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi. Các nước
này có vị trí ngày càng quan trọng trong các diễn đàn của WTO và thương mại thế
giới. Do vậy, WTO cho phép các nước kém phát triển được hưởng một số ưu đãi khi
thực hiện các cam kết của mình.
c) Các văn kiện pháp lý cơ bản của WTO
Vòng đàm phán Uruguay đã đi đến ký kết các văn bản pháp lý điều chỉnh
hoạt động của WTO. Đây là hệ thống các văn kiện pháp lý có phạm vi điều chỉnh

14
rộng lớn nhất và phức tạp nhất trong lịch sử luật pháp quốc tế. Trong các hiệp định
và phụ lục kèm theo của nó quan trọng nhất là các hiệp định và văn kiện cơ bản sau:
- Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới
- Các hiệp định đa biên về thương mại hàng hoá:
+ Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994
+ Với các hiệp định kèm theo
+ Hiệp định về thực hiện Điều VII của GATT 1994 (xác định trị giá tính thuế hải quan)
+ Hiệp định về giám định hàng hoá trước khi gửi hàng (PSI)
+ Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT)
+ Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS)
+ Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu
+ Hiệp định về các biện pháp tự vệ
+ Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM)
+ Hiệp định về thực hiện điều VI của GATT 1994 (chống bán phá giá) (ADP)
+ Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs)
+ Hiệp định dệt may (ATC)
+ Hiệp định nông nghiệp
+ Hiệp định về quy tắc xuất xứ
- Thương mại dịch vụ: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)
- Quyền sở hữu trí tuệ: Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
- Hiệp định thương mại nhiều bên:
+ Hiệp định về thương mại máy bay dân dụng
+ Hiệp định về mua sắm của chính phủ
+ Hiệp định quốc tế về bơ sữa

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét