BÁO CÁO
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM
MỤC LỤC
1
Lời nói đầu
Kiểm soát chất lượng, tính an toàn của thực phẩm nhập khẩu, trong đó có
rau quả nhằm bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng trong nước là đặc biệt quan trọng.
Song song với đó, hiện nay việc đảm bảo an toàn thực phẩm trong xuất khẩu mặt
hàng rau quả cũng hết sức cần thiết, do đó là điều kiện sống còn cho sự tăng trưởng
bền vững của xuất khẩu rau quả Việt Nam; cải thiện thu nhập của người sản xuất
và góp phần bảo vệ môi trường . Việc đảm bảo an toàn thực phẩm đối với mặt hàng
xuất khẩu rau quả không thể chỉ thực hiện ở phần ngọn tức là công tác quản lý xuất
khẩu, mà cần xuất phát từ phần gốc, tức là hoạt động sản xuất của từ từng doanh
nghiệp đến các hộ sản xuất rau quả phục vụ xuất khẩu…
Trong khuôn khổ bài viết về: “Một số vấn đề về an toàn thực phẩm trong hoạt
động xuất khẩu mặt hàng rau quả”, người viết tập trung vào các vấn đề sau đây
- Điểm lại những nét chính trong xuất khẩu mặt hàng rau quả của Việt
Nam trong những năm gần đây
- Tính cần thiết của việc đảm bảo an toàn thực phẩm trong xuất khẩu mặt
hàng rau quả của Việt Nam
- Những khó khăn và hướng giải quyết trong công tác giám sát an toàn thực
phẩm trong quản lý xuất khẩu mặt rau quả của Việt Nam
1. Một vài nét về tình hình xuất khẩu mặt hàng rau quả của Việt Nam trong
những năm gần đây
1.1. Tình hình xuất khẩu
Hiện Việt Nam đứng thứ 5 châu Á về sản lượng rau quả, trái cây. Đến nay, sản
phẩm rau quả, trái cây của Việt Nam đã có mặt tại trên 50 quốc gia trên thế giới.
2
Theo tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2003 đến nay,
kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đã gia tăng đáng kể, từ khoảng 151 triệu
USD vào năm 2003 lên trên 622 triệu USD vào năm 2011. Bốn tháng đầu năm 2012,
kim ngạch xuất khẩu rau quả các loại đã đạt trên 204 triệu USD, chiếm khoảng 0,5%
tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng của cả nước.
Tuy nhiên, lượng rau quả được xuất khẩu sang các thị trường khó tính và chấp
nhận giá cao như Nhật Bản, EU còn hạn chế; thay vào đó phần lớn rau quả xuất khẩu
sang các thị trường không có hàng rào kỹ thuật cao đều chỉ có mức giá thấp hơn so với
rau quả từ các thị trường khác như Thái Lan, Mehico…
Biểu đồ: Diễn biến kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam
giai đoạn 2000-2012
Nguồn: Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu rau quả không đều qua các năm. Sau
khi giảm trong hai năm 2002 và 2003, từ năm 2004, kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng
nhưng không ổn định. Nếu như năm 2005, kim ngạch xuất khẩu tăng tới 31,3% sov ới
năm 2004 thì đến năm 2006, tốc độ tăng trưởng chỉ còn là 10,2%. Hoặc nếu như năm
2010 chỉ tăng rất khiêm tốn là 5,1% so với năm 2009 thì đến năm 2011, kim ngạch xuất
khẩu rau quả đã tăng mạnh tới 35,3% so với năm 2010.
3
Bảng: Tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng của kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt
Nam trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Năm
KNXKRQ
(triệu USD)
Tốc độ
tăng
trưởng
(%)
Tổng
KNXK
(triệu USD) Tỷ trọng (%)
2000 213,1
2001 330,3 55,0 15.029,0 2,2
2002 200,0 -39,4 16.706,1 1,2
2003 151,5 -24,3 20.149,3 0,8
2004 179,0 18,2 26.485,0 0,7
2005 235,0 31,3 32.447,1 0,7
2006 259,0 10,2 39.826,2 0,7
2007 305,6 18,0 48.561,4 0,6
2008 396,0 29,6 62.906,0 0,6
2009 438,0 10,6 56.600,0 0,8
2010 460,2 5,1 72.236,6 0,6
2011 622,5 35,3 96.905,6 0,6
4 tháng 2012 204,9 37.760,4 0,5
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan
1.2. Những thuận lợi, khó khăn
1.2.1. Thuận lợi
- Việt Nam có nhiều mặt hàng rau quả nhiệt đới đặc trưng, có hương vị ngon
vượt trội so với rau quả từ các thị trường khác, ví dụ như chuối, thanh long,
chôm chôm…
- Các mặt hàng rau quả đa dạng, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng
nhiều nơi trên thế giới. Do đặc tính khí hậu nhiệt đới, thổ nhưỡng tốt nên các
mặt hàng rau quả của Việt Nam đa dạng, cho thu hoạch mùa nào thức đấy,
đáp ứng nhu cầu quanh năm của người tiêu dùng trên thế giới.
4
- Nhu cầu tiêu thụ rau quả của thế giới trong xu hướng gia tăng
1
. Xu thế ăn
kiêng hoặc tăng lượng rau trong khẩu phần ăn nhằm kéo dài tuổi thọ, hạn chế
các bệnh do ăn nhiều đạm đã dẫn đến việc nhập khẩu các loại rau tăng tại
nhiều thị trường. Ví dụ, tại thị trường Nhật Bản, ngay cả những loại rau trước
đây ít được nhập khẩu như: rau diếp, tỏi tây, hành tăm, salát, củ cải và một số
loại cây có rễ củ dài dùng làm rau cũng đang có xu hướng gia tăng. Tại một
số quốc gia khác như Pakistan, Đức, Mỹ… nền nông nghiệp đang bị ảnh
hưởng xấu bởi khí hậu nóng lên nên nhu cầu nhập khẩu nông sản cũng sẽ
tăng mạnh trong năm tới.
1.2.2. Khó khăn
- Do chưa có được nguồn hàng cung cấp thường xuyên, chất lượng sản phẩm
thấp và không đồng đều, nhiều lô hàng chưa đáp ứng nhu cầu an toàn vệ sinh
thực phẩm. Thêm vào đó, giá thành sản xuất của rau quả an toàn khá cao, nên
người trồng gặp khó khăn về đầu ra và làm ảnh hưởng đến mở rộng quy mô
sản xuất.
- Áp lực cạnh tranh từ hàng rau quả của các nước khác ngày càng lớn, do các
nước này đã đi trước và thành công trong việc thúc đẩy sản xuất rau quả hữu
cơ, rau quả an toàn.
- Các sản phẩm rau quả của Việt Nam muốn xuất khẩu sang thị trường khó
tính như các nước EU phải sản xuất theo tiêu chuẩn chung của thế giới:
GAP/EurepGap, HACCP Tuy nhiên, việc triển khai mô hình theo những
tiêu chuẩn này gặp nhiều khó khăn do hạn chế về vốn và nhận thức của
người sản xuất.
1 Đình Tú – Thạch Bình. Năm 2012: Xuất khẩu rau quả nhiều cơ hội bứt phá. Báo kinh tế nông thôn.
Tháng 12/2011
5
- Chi phí vận chuyển đường biển, đường hàng không đối với rau quả VN vẫn
còn cao hơn so với các nước như Thái Lan, Trung Quốc. Hiện cước phí hàng
không từ TP.HCM đi Mỹ đối với mặt hàng trái cây bình quân khoảng 3-4
USD/kg. Trong khi đó ở Thái Lan, do Chính phủ có chương trình hỗ trợ cước
phí cho DN xuất khẩu nên cước vận chuyển đường hàng không của họ đi Mỹ
chỉ khoảng 0,5-1 USD/kg.
- Do năng suất thấp, các sản xuất qui mô nhỏ, không tập trung nên khả năng
đáp ứng các đơn hàng lớn và ổn định là rất khó. Khi có đơn hàng hàng lớn,
các doanh nghiệp thường bị động trong việc thu gom rau quả. Hiện nay chỉ
có một số ít doanh nghiệp lớn và các siêu thị có biện pháp bảo quản rau quả
ở nhiệt độ lạnh. Hầu hết các doanh nghiệp hoặc hợp tác xã không có đủ vốn
để đầu tư hệ thống hệ thống bảo quản sau thu hoạch. Khi có đầu mối xuất
khẩu họ thường phải qua một công ty trung gian làm công việc vận chuyển,
thủ tục hải quan, thủ tục xuất khẩu. Do rau quả phải gom từ nhiều nguồn,
thời gian thu hái khác nhau, kích cỡ cũng không đồng nên thường không đáp
ứng hoàn toàn các yêu cầu mà các đối tác nhập khẩu đưa ra.
2. Tính cấp thiết của việc đảm bảo an toàn thực phẩm trong xuất khẩu mặt
hàng rau quả của Việt Nam
2.1. Tính cấp thiết của việc đảm bảo an toàn thực phẩm trong xuất khẩu
mặt hàng rau quả
Vấn đề an toàn thực phẩm đối với hàng nhập khẩu đang ngày được coi trọng tại
nhiều nước trên thế giới, từ các nước phát triển cho đến các nước đang phát triển như
Trung Quốc.
Đối với các thị trường phát triển và khó tính, với các qui định rất chặt chẽ về bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng, các hàng rào kỹ thuật được dựng lên với các tiêu chuẩn
ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu, trong đó có rau
6
quả. Ví dụ, Nhật Bản
2
chỉ cho phép nhập vào nước này những loại thực phẩm đảm bảo
các qui định về VSATTP. Những loại thực phẩm không được phép nhập vào Nhật Bản
bao gồm: thực phẩm chứa các thành phần độc tố hoặc có hại, hoặc bị nghi vấn có chứa
độc tố; thực phẩm bị thối rữa hoặc hư hỏng; thực phẩm không đáp ứng được tiêu chuẩn
và đặc điểm kỹ thuật trong quá trình chế biến, công thức hoặc nguyên liệu chế biến;
thực phẩm sử dụng chất phụ gia quá mức cho phép; thực phẩm không kèm theo các
chứng từ chứng minh. Một số mặt hàng thực phẩm còn phải đáp ứng đầy đủ các quy
định kiểm tra nghiêm ngặt khác mới được nhập vào Nhật Bản như: không chứa các côn
trùng gây bệnh hoặc có hại tới sức khỏe con người có trong thịt và cá tươi, các sản
phẩm thịt chế biến như hamberger, xúc xích…, trái cây, rau quả hoặc ngũ cốc. Khi tiêu
thụ rau tươi phải dán nhãn quốc gia xuất khẩu theo yêu cầu của Luật về tiêu chuẩn và
dán nhãn hàng ông lâm sản (Luật JAS)
Nhật Bản rất thận trọng đối với các loại côn trùng trên rau như: ruồi hại hoa quả,
bọ cánh cứng trên lá, nấm mốc, khi phát hiện thấy những vùng nào, những quốc gia nào
có biểu hiện các loại sâu bọ trên thì mọi loại rau tươi và đông lạnh ở đó sẽ không được
xuất khẩu vào Nhật Bản. Ngoài ra, hàng hóa sẽ không được phép nhập khẩu vào thị
trường Nhật Bản nếu không có Giấy chứng nhận vệ sinh thực phẩm của Chính phủ
nước xuất khẩu cấp. Khi kiểm tra tại cảng nhập khẩu nếu phát hiện có dấu hiệu lây
nhiễm hay ký sinh trùng trên sản phẩm thì hàng hóa sẽ bị gởi trả lại người xuất khẩu
hoặc bị hủy bỏ tùy theo kết quả kiểm tra. Ngoài ra, rau quả ở dạng củ khi nhập khẩu
vào Nhật Bản không được lẫn đất. Có những loại rau không đuợc nhập khẩu dưới dạng
2 Theo theo dõi của tác giả về tình hình tiêu thụ hàng năm của Nhật Bản, mỗi năm nước này tiêu thụ
khoảng 16-17 triệu tấn rau các loại. Xu hướng trên bắt nguồn từ nhu cầu tăng lượng rau trong khẩu
phần ăn của người Nhật Bản và đặc biệt phù hợp với đặc điểm dân số già, do người già có xu hướng
giảm lượng đạm và tăng chất xơ trong các bữa ăn để tránh các chứng bệnh liên quan đến tai biến.
7
tươi nhưng có thể nhập khẩu ở dạng đông lạnh, khô hoàn toàn, ngâm dấm hay dưới các
dạng chế biến khác. Ðối với khoai tây và khoai sọ phải được trồng vào một thời gian
nhất định và được kiểm tra tại vườn nơi thu hái nhằm phát hiện vi rút ngay cả khi sản
phẩm có xuất xứ ngoài những khu vực bị cấm nhập khẩu. Tất cả các loại rau tươi phải
kiểm tra về dư lượng của thuốc trừ sâu, các tác nhân gây bệnh, các chất phóng xạ. Rau
đông lạnh phải được kiểm tra về các tiêu chuẩn đối với vi khuẩn.
Còn tại châu Âu, theo Luật thực phẩm Châu Âu (General Food Law - Quy định
của EC số 178/2002), một mặt hàng thực phẩm được nhập khẩu vào EU được coi là an
toàn nếu tuân thủ các quy định: (i) Các quy định có liên quan đến luật thực phẩm của
EU, (ii) Các điều kiện tương đương do EU đặt ra; hoặc (iii) Nếu tồn tại một thỏa thuận
riêng giữa EU và nước xuất khẩu, phải tuân theo các quy định trong thỏa thuận đó.Thực
phẩm bị coi là không an toàn nếu gây tổn hại cho sức khỏe người tiêu dùng EU hoặc
không phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của con người.
Đối với mặt hàng rau quả nhập khẩu, EU qui định củ thể như sau
3
:
- Các nhà xuất khẩu từ những nước đang phát triển cần nắm rõ các tiêu chuẩn
chất lượng hiện nay bởi việc đảm bảo rằng sản phẩm được bán hay chào bán tuân thủ
các tiêu chuẩn chất lượng theo quy định của EU là trách nhiệm của các nhà kinh doanh
rau quả. Đối với các sản phẩm chưa có tiêu chuẩn của EU thì cần tham khảo các tiêu
chuẩn của Uỷ ban Kinh tế Châu Âu của Liên hợp quốc (UNECE) hay CODEX. Tại
EU, các tiêu chuẩn thị trường đối với chất lượng của mặt hàng rau quả nằm trong Quy
định (EC) 2200/96 của Uỷ ban Châu Âu. Quy định này thiết lập cơ cấu chung của thị
trường rau quả tươi. Yêu cầu chủ yếu của các tiêu chuẩn thị trường là việc phân loại
chất lượng và dán nhãn thông tin cho sản phẩm. Các tiêu chuẩn này không áp dụng đối
3 Một số quy định đối với mặt hàng rau quả nhập khẩu vào EU. Bản tin xuất khẩu. Cục Xúc tiến
thương mại- Bộ Công thương. Cập nhật tháng 3/2012
8
với sản phẩm rau quả tươi chế biến hay chế biến sẵn chẳng hạn như cà rốt cắt lát đóng
gói. Ngày 6/11/2007, Hội đồng EU đã ban hành Quy định (EC) 1182/2007, theo đó đưa
ra các quy định cụ thể về lĩnh vực rau quả, sửa đổi Hướng dẫn 2001/112/EC liên quan
đến các loại nước ép trái cây và một số sản phẩm tương tự dành cho tiêu dùng của con
người. Bản hướng dẫn 2001/113/EC liên quan đến các loại mứt trái cây dành cho tiêu
dùng của con người và Quy định (EEC) 827/68 về cơ cấu chung của thị trường một số
sản phẩm nhất định, Quy định (EC) 2200/96 về cơ cấu chung của thị trường rau quả,
Quy định (EC) 2201/96 về cơ cấu chung của thị trường các sản phẩm rau quả chế biến.
Quy định (EC) 1182/2007 có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2008. Các sản phẩm chịu sự quản
lý của Quy định này gồm: Rau quả tươi và một số loại quả sấy khô. Một số sản phẩm sẽ
không nằm trong Quy định này gồm khoai tây, nho, chuối, ngô ngọt, quả ôliu.
Để tạo thuận lợi cho thương mại và làm tăng khả năng lợi nhuận của sản phẩm
sản xuất ra, các sản phẩm được phân loại dựa trên các tiêu chuẩn quy định. Người kinh
doanh sản phẩm có trách nhiệm tuân thủ các tiêu chuẩn này. Để được tiêu thụ, các sản
phẩm phải tuân thủ các tiêu chuẩn. Một loạt các thông tin và cụ thể là xuất xứ của sản
phẩm, chủng loại và phẩm cấp cần được ghi rõ trên bao bì đóng gói khi đưa ra thị
trường bán lẻ. Các tiêu chuẩn này có xem xét đến các tiêu chuẩn về chất lượng nông
nghiệp được Ban chuyên nhiệm của Uỷ ban Kinh tế Châu Âu của Liên hợp quốc
(UNECE) khuyến nghị. Những tiêu chuẩn này không bắt buộc đối với các sản phẩm
được đưa vào đóng gói hay chế biến sẵn, cũng như không bắt buộc đối với các sản
phẩm sẽ được chế biến mà chỉ áp dụng đối với các sản phẩm được người trồng bán trực
tiếp và đối với những sản phẩm địa phương nhất định. Việc kiểm tra được thực hiện
nhằm giám sát sự tuân thủ các tiêu chuẩn tại tất cả các khâu tiêu thụ. Các sản phẩm
được nhập khẩu từ các nước ngoài EU phải tuân thủ những tiêu chuẩn này hoặc các tiêu
9
chuẩn tương đương tối thiểu. Tương tự, các sản phẩm của Cộng đồng EU nhằm mục
đích xuất khẩu sang các nước ngoài EU phải tuân thủ các tiêu chuẩn chung.
Nhập khẩu rau quả tươi vào EU phải phù hợp với qui định về Giới hạn tồn dư tối
đa thuốc trừ sâu (MRLs). MRLs là mức dư lượng thuốc trừ sâu tối đa được phép có
trong hay trên những sản phẩm thực phẩm. Quy định trên nhằm đảm bảo rằng dư lượng
thuốc trừ sâu trong thực phẩm không gây hại cho người tiêu dùng. Tất cả những loại
thực phẩm tiêu thụ ở EU đều phải tuân thủ MRLs, như rau quả tươi, rau quả chế biến
sẵn, rượu, ngũ cốc và các sản phẩm ngũ cốc, các sản phẩm nguồn gốc động vật (như
mật ong, nhưng ngoại trừ thuỷ sản) và các sản phẩm nguồn gốc thực vật.
Hướng dẫn 79/117/EEC cấm đưa vào thị trường và sử dụng các sản phẩm bảo vệ
thực vật có chứa các hoạt chất có khả năng gây hại cho sức khoẻ người và động vật
hoặc gây hại cho môi trường. Thực phẩm có thể không được phép nhập khẩu vào EU
nếu chúng được xử lý hay nhiễm bất kỳ chất nào có trong Hướng dẫn trên. Thực phẩm
xuất khẩu của EU không yêu cầu giấy chứng nhận xuất khẩu nhưng các sản phẩm nhập
khẩu sẽ được lấy mẫu ngẫu nhiên và phân tích tại cửa khẩu, trong quá trình phân phối
hoặc bán lẻ ở EU. Nếu EU phát hiện có bất kỳ chất cấm nào trong mẫu sản phẩm nhập
khẩu, lô hàng đó sẽ bị từ chối và tiêu huỷ, đồng thời nhà cung cấp hay nước xuất khẩu
có thể bị truy tố và bị áp lệnh cấm xuất khẩu sản phẩm đó vào EU trong thời gian chờ
đợi cơ quan có thẩm quyền của EU tiến hành điều tra.
Hướng dẫn 2000/29/EC quy định các điều kiện chống lại sự thâm nhập và lây
lan các loài gây hại và bệnh dịch trên cây trồng ở EU. Việc đưa vào tình cờ các loài gây
hại ở thực vật và dịch bệnh vào EU trên các lô hàng sản phẩm thực vật nhập khẩu có
khả năng lan tràn dịch bệnh gây hại vào EU và có thể dẫn đến những thiệt hại về kinh tế
nghiêm trọng. Chính vì vậy, EU quy định tất cả các nước muốn xuất khẩu vào các nước
thành viên của EU phải có một cơ quan bảo vệ thực vật quốc gia (NPPA). Tất cả các lô
10
hàng đều phải có một chứng nhận tình trạng sản phẩm rau quả, biện pháp kiểm tra và
chữ ký xác nhận của một nhân viên của NPPA không quá 14 ngày phải có trước khi gửi
hàng và những chứng nhận không phải ngôn ngữ tiếng Anh phải có bản dịch đi kèm.
Các cuộc kiểm tra ngẫu nhiên sẽ được tiến hành tại cửa khẩu vào EU để khẳng định giá
trị pháp lý của thông tin được cung cấp trên chứng nhận. Các lô hàng vi phạm về các
quy định tình trạng rau quả có khả năng bị từ chối và tiêu huỷ và nhà xuất khẩu sẽ phải
chịu toàn bộ chi phí tiêu huỷ hàng. Các nhà xuất khẩu bắt buộc phải thực hiện các cuộc
kiểm tra về chất lượng của chính họ để đảm bảo rằng các lô hàng không chứa các sinh
vật gây hại cũng như phải gửi sản phẩm tới các cơ quan chức năng để được kiểm tra
chính thức. Đã có trường hợp một số nước cấp chứng nhận mà không hề kiểm tra hàng.
Đây là cách đối phó gây rủi ro cao bởi nếu bị các thanh tra EU phát hiện ra có thể ảnh
hưởng tới toàn bộ các nhà xuất khẩu của một nước và khi sự tin tưởng đã mất đi sẽ làm
giảm giá trị của các chứng nhận cũng như sự đảm bảo về công tác kiểm soát chất lượng
của nhà xuất khẩu.
Hoa Kỳ cũng là một trong những thị trường tiêu thụ rau quả đầy tiềm năng
nhưng cũng rất khó tính. Thống kê của Vụ Xuất Nhập khẩu- Bộ Công Thương, đến thời
điểm hiện tại đã có 36 loại rau của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này trong đó các
mặt hàng có kim ngạch cao nhất gồm nấm rơm muối, nấm rơm đóng lon, ngô non đóng
lon, ngô luộc. Dưa chuột cũng là một trong những mặt hàng rau xuất khẩu mạnh nhất
của Việt Nam trong những năm qua. Không chỉ rau, các sản phẩm như khoai lang, củ
hành, tỏi, nghệ, gừng, củ từ cũng có cơ hội xuất khẩu nhiều sang Hoa Kỳ. Bên cạnh
những thuận lợi do nhu cầu cao, xuất khẩu rau của sang Hoa Kỳ cũng phải đối mặt với
những thách thức lớn từ các điều kiện khắt khe về vệ sinh thực phẩm của thị trường
này. Gần đây nhất là các quy định mới của Luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm
11
(FSMA) Hoa Kỳ, được thực hiện theo bốn nguyên tắc gồm ngăn ngừa, tăng cường
kiểm tra, đảm bảo tính an toàn cho thực phẩm và tăng cường quan hệ đối tác. Các qui
định mới đưa ra các đòi hỏi khắt khe hơn đối với thực phẩm nhập khẩu vào thị trường
Hoa Kỳ, đặc biệt là hàng tươi sống như các loại rau,củ. Bắt đầu từ năm 2012, mỗi cơ sở
thực phẩm phải đăng ký lại với Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ 2 năm
một lần thay vì chỉ đăng ký 1 lần như trước đây. Việc đăng ký lại sẽ được yêu cầu phải
thực hiện trong quý 4 hàng năm chẵn. Xuất khẩu rau củ sang Hoa Kỳ phải tuân thủ các
quy định khá ngặt nghèo của Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ, cụ thể là
về Luật chống khủng bố sinh học; việc đăng ký, đại diện tại Hoa Kỳ, thông báo trước;
ghi nhãn, định dạng, ngôn ngữ; hệ thống phân tích và kiểm soát nguồn nguy hại
(HACCP) và tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt (GMPs). Nhiều doanh nghiệp mắc lỗi
khi xuất hàng sang thị trường tiềm năng này là do chưa tiếp cận hoàn thiện và cặn kẽ
các quy định an toàn thực phẩm, dược phẩm của Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm
Hoa Kỳ.
Trong bối cảnh trên, tính cạnh tranh của hàng rau quả xuất khẩu sẽ không
chỉ đơn thuần là giá cả hay hương vị đặc trưng của rau quả như trước kia mà
còn là khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm của các thị trường
nhập khẩu rau quả.
Là một nước có nhiều lợi thế về tiềm năng trong sản xuất và xuất khẩu rau quả,
nhưng thời gian gần đây, Việt Nam liên tục nhận được cảnh báo về điều kiện vệ sinh an
toàn thực phẩm từ các nước nhập khẩu như EU, Hàn Quốc Đây là điều rất đáng lo
ngại sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc xuất khẩu rau quả của Việt Nam trong thời gian tới.
Giữa năm 2011, Tổng vụ Sức khỏe và Người tiêu dùng Ủy ban Châu Âu đã gửi
thông báo về việc có 50 trong tổng số hơn 60 doanh nghiệp xuất khẩu rau quả của Việt
Nam sang thị trường này không đạt chất lượng, rau quả bị nhiễm sâu đục quả, sâu đục
12
lá… Ngoài EU, một số thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đã gửi cảnh báo về
một số lô hàng chưa qua kiểm dịch, có dị vật lạ, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao.
Mới đây, giữa tháng 3/2012, phía EU lại phát hiện hai sản phẩm rau xanh nhập khẩu từ
Việt Nam có sâu đục lá. Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) đã ra thông báo ngừng
cho phép xuất khẩu năm mặt hàng rau sang EU. Năm mặt hàng rau quả tươi là quế
(húng quế), ớt, cần tây, khổ qua (mướp đắng) và ngò gai sẽ bị tạm ngưng làm thủ tục
kiểm dịch thực vật đến hết ngày 01/02/2013. Đối với năm mặt hàng này đã ký hợp đồng
xuất khẩu sang EU trước ngày 15/5/2012 sẽ phải kiểm tra 100% lô hàng trước khi cấp
giấy phép xuất đi. Còn những mặt hàng rau quả khác thì được cấp phép xuất khẩu trở
lại như thời gian trước đây.
Thực trạng yêu cầu về an toàn thực phẩm từ phía các đối tác nhập khẩu
ngày càng cao trong khi mặt bằng sản xuất rau quả của Việt Nam vẫn còn nhiều
hạn chế, đang đặt ra yêu cầu phải tăng cường việc thanh lọc, chấn chỉnh các mặt
hàng rau quả trước khi cấp phép xuất khẩu trở lại.
Thực ra, từ năm 2008, Bộ NN và PTNT ban hành Quy trình sản xuất nông
nghiệp tốt cho rau quả tươi an toàn tại Việt Nam (VietGAP). Theo các chuyên gia trong
ngành, sản xuất rau quả VietGAP không hoàn toàn phụ thuộc vào khoa học kỹ thuật mà
chủ yếu phụ thuộc vào ý thức của người sản xuất, người tiêu dùng và phương pháp tổ
chức quản lý trong quá trình sản xuất và thị trường (tiêu thụ) là chính.
Sau bốn năm vận động, người người sản xuất đã được tham gia nhiều lớp huấn
luyện sản xuất rau quả an toàn theo VietGAP nên xét về lý thuyết thì phần đông trong
số họ đã biết phải làm gì để có thể sản xuất ra rau, quả có chất lượng an toàn. Tuy
nhiên, những mô hình sản xuất rau quả duy trì sản xuất theo GAP thành công còn quá
khiêm tốn so với cuộc vận động rộng lớn trong cả nước. Thực tế cho thấy vẫn còn
nhiều cơ sở trồng rau lạm dụng thuốc hóa học có độ độc cao, chất kích thích sinh
13
trưởng và phân đạm hóa học, đã làm ô nhiễm sản phẩm và môi trường đến mức báo
động. Hơn nữa, do công tác giám sát chưa đạt yêu cầu nên một số cơ sở sản xuất mặc
dù đã được cấp chứng chỉ sản xuất rau an toàn nhưng nhiều trường hợp không đáp ứng
đầy đủ các tiêu chí về sản xuất rau an toàn.
Trước thực trạng trên, việc tăng cường giám sát vấn đề an toàn thực phẩm trong
xuất khẩu rau quả trở nên cấp thiết, mặc dù đây có thể chỉ là biện pháp ứng phó tạm
thời và tốn kém, bởi một mặt các cơ quan chức năng không thể chắc chắn 100% lượng
rau quả xuất khẩu đảm bảo an toàn thực phẩm ngay cả khi người sản xuất thông báo đã
đạt chứng chỉ sản xuất rau an toàn; mặt khác nếu chỉ một lô hàng bị phát hiện là không
đảm bảo an toàn thực phẩm, nguy cơ mất những thị trường lớn và sẵn sàng chấp nhận
mức giá cao như EU là rất lớn.
2.2. Công tác giám sát và chứng nhận đối với thực phẩm xuất khẩu
Về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm đối với thực phẩm xuất khẩu và chứng
nhận dối với thực phẩm xuất khẩu được quy định trong mục 2, chương VI của Luật an
toàn thực phẩm hiện hành quy định như sau:
Điều 41. Điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm xuất khẩu
1. Đáp ứng các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm của Việt Nam.
2. Phù hợp với quy định về an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu theo hợp
đồng hoặc điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá
sự phù hợp với quốc gia, vùng lãnh thổ có liên quan.
Điều 42. Chứng nhận đối với thực phẩm xuất khẩu
1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy chứng nhận lưu
hành tự do, chứng nhận y tế, chứng nhận nguồn gốc, xuất xứ hoặc giấy chứng nhận
khác có liên quan đối với thực phẩm xuất khẩu trong trường hợp có yêu cầu của nước
nhập khẩu.
2. Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ
trưởng Bộ Công thương quy định hồ sơ, thủ tục cấp các loại giấy chứng nhận quy định
tại khoản 1 Điều này thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét