Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Cơ sở lí luận của việc phân loại, sử dụng và bảo quản TBDH Hóa học

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong hệ thống giáo dục ở nước ta hiện nay, đổi mới phương pháp giáo dục có
một vị trí quan trọng, nhằm đào tạo thế hệ trẻ tức là trang bị cho họ những tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo mà loài người đã phát hiện ra và tích lũy được. Bên cạnh đó TBDH là
yếu tố không thể thiếu trong quá trình giảng dạy, hỗ trợ đắc lực cho việc đổi mới
PPDH của giáo viên và học sinh.
Nghị quyết Trung ương IV khóa VII của Đảng về tiếp tục đổi mới sự nghiệp
giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Cơ sở vật chất các trường còn rất nghèo nàn, nhiều
trường sở xuống cấp nghiêm trọng, TB thí nghiệm, nghiên cứu khoa học thiếu thốn
và lạc hậu, sử dụng kém hiệu quả ” [ tr.42, 1].
Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào
tạo, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục PT để đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ công nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước.
Trong dạy học hoá học GV cần sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực
quan làm nguồn kiến thức để hình thành và phát triển khái niệm hoá học, hiểu rõ bản
chất hoặc minh chứng cho các giả thuyết khoa học đã nêu ra. Để tạo điều kiện cho
giáo viên giảng dạy tốt hơn, học sinh phát huy tốt tính chủ động sáng tạo trong quá
trình học tập thì người làm công tác quản lí TBDH hoá học cần có những kỹ năng sử
dụng và bảo quản hoá chất, thiết bị thí nghiệm, có kiến thức về chuyên môn để chuẩn
bị các điều kiện cho thực hành thí nghiệm phù hợp.
Tuy nhiên, hiện nay ở các trường PT còn ít quan tâm đến TBDH hoặc chưa
nắm vững cách sử dụng, nguyên tắc bảo quản các thiết bị, điều đó chẳng những
không đem lại hiệu quả mà còn lãng phí.
Vì những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Phân loại, sử dụng và bảo quản
thiết bị dạy học hóa học ở trường THPT” làm đề tài nghiên cứu.
5
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Đưa ra các cách phân loại TBDH hóa học.
Đưa ra các nguyên tắc sử dụng và bảo quản phù hợp với từng loại TB.
Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc phân loại, sử dụng và bảo
quản các TBDH hóa học ở trường THPT.
Tìm hiểu các TBDH hóa học từ lớp 10,11, 12.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Giáo viên đang làm công tác quản lí TBDH hóa học ở trường THPT, nghiên
cứu tình hình sử dụng, cách bảo quản TBDH của GV và viên chức làm công tác quản
lí.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Các TBDH hóa học ở trường THPT như tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, dụng
cụ thí nghiệm…
4. Phạm vi nghiên cứu:
Xác định đối tượng nghiên cứu như trên đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng
của việc phân loại, sử dụng và bảo quản thiết bị dạy học hoá học ở trường THPT
(lớp 10,11,12).
5. Phương pháp nghiên cứu:
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phân tích - tổng hợp, phân loại nhằm làm rõ cơ sở lý luận của việc phân loại
sử dụng và bảo quản TBDH hóa học ở trường THPT, (đọc, xử lí các tài liệu, tư
liệu , kế thừa, phát triển, vận dụng các tài liệu ).
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp quan sát, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu sản phẩm nhằm khảo
sát, đánh giá thực trạng về công tác quản lý việc sử dụng bảo quản TBDH hóa học ở
trường THPT, (điều tra, khảo sát thực trạng ở các trường PT).
5.3. Phương pháp phân tích, đánh giá:
6
Để xử lý các số liệu của kết quả nghiên cứu, (phân tích, đánh giá các điều kiện,
thực trạng, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp…)
6. Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Trong trường học, TBDH được xem là một trong những điều kiện quan trọng để
thực hiện nhiệm vụ giáo dục, nhằm cung cấp vốn tri thức mà loài người tích lũy được
cho người học, đồng thời kích thích khả năng sáng tạo ứng dụng vào cuộc sống của
người học.
Trong những năm qua, đã có nhiều nhà giáo, nhà nghiên cứu khoa học quan tâm
nghiên cứu và đề cập đến vấn đề chế tạo, quản lý, sử dụng và bảo quản TBDH trong
nhà trường như: PGS.TS. Võ Chấp; GS.TS. Nguyễn Cương; PGS. Trần Quốc Đắc;
PGS.TS. Vũ Trọng Rỹ [2, 3, 4, 9]. Những công trình nghiên cứu của các tác giả đã
được công bố, xây dựng được một hệ thống lí luận về vị trí, vai trò, tác dụng và một
số yêu cầu về nguyên tắc chế tạo, sử dụng TBDH trong trường PT hiện nay.
7. Cấu trúc khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị; nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc phân loại, sử dụng và bảo quản TBDH hóa học ở
trường THPT.
Chương 2: Phân loại và thực trạng của thiết bị dạy học hóa học ở trường THPT.
Chương 3: Sử dụng và bảo quản thiết bị dạy học hóa học ở trường THPT
NỘI DUNG
7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
CỦA VIỆC PHÂN LOẠI, SỬ DỤNG VÀ BẢO QUẢN TBDH HOÁ HỌC
Ở TRƯỜNG THPT
1.1. Thiết bị dạy học hóa học:
1.1.1. Khái niệm về thiết bị dạy học:
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về TBDH. Trong một số giáo
trình giáo dục học và lý luận dạy học, nhiều tác giả cho rằng: TBDH là những thiết bị
vật chất, giúp cho GV tổ chức QTDH có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm
vụ dạy học đã đề ra.
Tùy theo mục đích sử dụng mà người ta dùng nhiều thuật ngữ TBDH với
những nội hàm khác nhau.
Theo PGS. TS. Vũ Trọng Rỹ, “thiết bị dạy học hay phương tiện dạy học,
đồ dùng dạy học là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp những đối tượng vật
chất được giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện để điều khiển hoạt động nhận
thức của học sinh. Còn đối với học sinh thì đây là nguồn tri thức, là các phương tiện
giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm, định nghĩa, lý thuyết khoa học, hình thành ở họ
những kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo cho việc giáo dục, phục vụ các mục đích dạy học và
giáo dục” [9].
GS.TS. Đặng Vũ Hoạt và GS. TS. Hà Thế Ngữ cho rằng “TBDH là một
tập hợp các đối tượng vật chất được giáo viên và học sinh sử dụng với tư cách là
những phương tiện điều khiển học tập nhận thức của học sinh. Đối với học sinh đó là
nguồn tri thức phong phú, đa dạng, sinh động, là các phương tiện giúp cho các em
lĩnh hội và rèn luyện kỹ năng, hình thành kỹ xảo” [8].
Từ những khái niệm của các nhà khoa học, có thể hiểu: Thiết bị dạy học
là hệ thống đối tượng vật chất, phương tiện dạy học được GV, HS sử dụng trong
QTDH nhằm đạt được mục tiêu dạy học đề ra.
8
1.1.2. Vài trò của TBDH hóa học trong quá trình dạy học:
1.1.2.1. Các giá trị giáo dục của thiết bị dạy học:
Thúc đẩy sự giao tiếp, trao đổi thông tin, do đó giúp HS học tập có hiệu
quả.
Giúp HS tăng cường trí nhớ, làm cho việc học tập được lâu bền.
Cung cấp thêm kiến thức, kinh nghiệm trực tiếp liên quan đến thực tiễn
xã hội và môi trường sống.
Giúp khắc phục những hạn chế của lớp học bằng cách biến cái không
thể tiếp cận thành cái có thể tiếp cận được. Điều này thực sự đúng khi sử dụng phim
mô phỏng và các phương tiện tương tự.
Cung cấp kiến thức chung, qua đó HS có thể phát triển các hoạt động
học tập khác.
Giúp phát triển mối quan tâm về các lĩnh vực học tập khác và khuyến
khích HS tham gia chủ động vào quá trình học tập.
1.1.2.2. Vai trò và tác dụng của TBDH hóa học trong quá trình dạy học:
Hoá học là môn khoa học vừa lí thuyết vừa thực nghiệm, vì vậy thí
nghiệm hoá học và các đồ dùng, thiết bị dạy học có rất nhiều vai trò rất quan trọng
trong công tác giáo dục học sinh ở các trường THPT.
+ TBDH là một bộ phận của nội dung và phương pháp dạy học
Lý luận dạy học đã khẳng định QTDH là một quá trình mà trong đó hoạt động
dạy và hoạt động học phải là những hoạt động gắn bó khăng khít giữa các đối tượng
xác định và có mục đích nhất định.
9
Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các thành tố trong QTDH
Đứng về nội dung và phương pháp dạy học thì TBDH hóa học đóng vai trò hỗ
trợ tích cực, vì có TBDH tốt thì mới tổ chức được quá trình dạy học khoa học, đưa
người học tham gia vào quá trình này, tự khai thác và tiếp cận tri thức dưới sự hướng
dẫn của người dạy.
TBDH hoá học là phương tiện duy nhất giúp hình thành ở HS kĩ năng, kĩ xảo
thực hành và tư duy kĩ thuật.
+ TBDH hoá học góp phần vào việc đổi mới PPDH
Ngoài mối quan hệ với mục tiêu, nội dung, phương pháp, TBDH còn có quan
hệ chặt chẽ với các yếu tố GV (người tổ chức, điều khiển) và HS (chủ thể nhận thức),
quá trình dạy học tạo nên “vùng hợp tác sinh động” giữa những người tham gia quá
trình sư phạm với các yếu tố khác của QTDH hoá học. Góp phần tích cực hoá hoạt
động của học sinh trong dạy học, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách hứng thú,
vững chắc.
+ TBDH hoá học làm tăng thêm việc đa dạng hóa các hình thức dạy học
TBDH đầy đủ, đúng quy cách sẽ cho phép tổ chức các hình thức dạy học, giáo
dục đa dạng, linh hoạt, phong phú và có hiệu quả.
+ TBDH hoá học góp phần đảm bảo chất lượng dạy - học
Thông qua những TBDH mà cung cấp cho học sinh những kiến thức, những
thông tin về các sự vật, hiện tượng một cách sinh động, đầy đủ, chính xác và có hệ
10
THIẾT BỊ DẠY HỌC
PHƯƠNG PHÁPNỘI DUNG
MỤC TIÊU
thống. Giúp học sinh liên hệ giữa lí thuyết và đời sống thực tiễn. Đồng thời còn có
tác dụng kích thích hứng thú học tập, phát triển tư duy và trí thông minh sáng tạo của
HS.
+ TBDH hoá học rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh
Hoá học là một ngành khoa học vừa lý thuyết vừa thực nghiệm, nên các kĩ
năng thực hành đóng vai trò rất quan trọng, thí nghiệm hoá học cùng với công tác tự
lập lí thuyết và thực hành của HS sẽ làm phát triển ở các em hứng thú nhận thức, tính
tích cực tự giác, phát triển tư duy và trí thông minh sáng tạo của HS.
TBDH góp phần xây dựng, hình thành, củng cố, hệ thống hoá, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn.
Thông qua các TBDH hiện đại mà đa dạng hoá các hình thức dạy học, tiết
kiệm thời gian trên lớp, cải tiến các hình thức lao động sư phạm, tạo khả năng tổ
chức một cách khoa học và điều khiển hoạt động giáo dục.
Nghiên cứu về vai trò của TBDH, người ta còn dựa trên vai trò của các giác
quan trong quá trình nhận thức và chỉ ra rằng:
+ Kiến thức thu nhận được qua giác quan theo tỉ lệ: 1,5% qua sờ; 3,5% qua ngửi;
11% qua nghe; 83% qua nhìn.
+ Tỉ lệ kiến thức nhớ được sau khi học: 20% những gì mà ta nghe được, 30% qua
những gì mà người ta nhìn; 50% qua những gì mà người ta nghe và nhìn được; 80%
qua những gì mà ta nói được; 90% qua những gì ta nói và làm được.
Những số liệu trên cho thấy để quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao cần phải
thông qua quá trình nghe – nhìn và thực hành, muốn vậy phải sử dụng thiết bị dạy
học để tác động hỗ trợ quá trình dạy học.
1.1.3. Phân loại TBDH hoá học:
1.1.3.1. Khái niệm:
Phân loại là sự sắp xếp các đối tượng vào một hệ thống nhất định. Phân
loại cũng chính là tìm ra các tiêu chuẩn để phân chia, sắp đặt các TBDH theo một hệ
thống giúp cho việc sử dụng chúng có hiệu quả hơn.
11
1.1.3.2. Nguyên tắc phân loại:
Hiện nay, TBDH được phân loại phổ biến qua việc mô tả, liệt kê những
PT và đồ dùng dạy học cụ thể. Ngay sự phân loại này giữa các nhà khoa học cũng
khác nhau. Các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt lại cho rằng [tr 246, 8] các PT
TQ gồm các vật thật, các vật tượng trưng, các vật tạo hình. Còn theo Nguyễn Ngọc
Bảo, đồ dùng TQ gồm có: vật mẫu, mô hình và hình mẫu, PT đồ hoạ (hình vẽ của
GV trên bảng, tranh, bản vẽ dùng để DH, bản đồ, sơ đồ), thiết bị thí nghiệm.
Việc phân loại các TBDH dựa theo tên gọi hoặc theo tính chất vật lý,
công dụng của nó có thuận lợi là dễ gọi, dễ nhớ đối với giáo viên và học sinh.
Phân loại các PT theo cách này thường dựa vào nguồn tri thức tác động
(ví dụ các PT: nghe, nhìn, nghe - nhìn ).
Như đã biết, mỗi sự vật có những thuộc tính vật lý và có vai trò, chức
năng nhất định đối với những vật khác. Trong DH, để xác định một vật nào đó có
phải là TBTQ hay không và thuộc loại TBTQ nào, ta không chỉ dựa vào các thuộc
tính vật lý của nó, mà phải dựa vào vai trò và chức năng của nó trong mối quan hệ
với mục đích và nội dung DH. Như vây, dựa vào nguyên tắc trên có thể phân loại
TBDH hoá học như sau:
 Thiết bị trực quan:
Trong dạy học hoá học, HS nhận thức tính chất của các hiện tượng hoá
học không chỉ bằng mắt nhìn, mà còn bằng giác quan khác như nghe, nhìn, sờ được.
Nguồn phát ra thông tin về sự vật và hiện tượng đó làm cơ sở cho sự lĩnh hội trực
tiếp nhờ các giác quan những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo về các sự vật và hiện tượng
được nghiên cứu đều gọi là các thiết bị trực quan.
Trong dạy học hoá học người ta sử dụng các thiết bị trực quan sau đây:
- Tài liệu trực quan tượng trưng: sơ đồ
- Đồ dùng trực quan tạo hình: tranh ảnh, mô hình, mẫu vật.
 Thiết bị thí nghiệm hoá học:
- Đồ dùng dùng để tái tạo các hiện tượng đó là các dụng cụ thí nghiệm,
gọi là thiết bị thí nghiệm.
12
- Thiết bị thí nghiệm hoá học bao gồm: các dụng cụ thí nghiệm bằng
thủy tinh, dụng cụ bằng sành sứ, gỗ, nhựa, cao su, inox…
 Hoá chất:
Hoá chất là là những chất hoá học sử dụng cho GV và HS làm thí
nghiệm.
 Máy móc và các thiết bị khác:
Các loại thiết bị hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn điện, pin, acqui khi sử
dụng phải theo đúng qui trình mở/đóng như máy tính, máy chiếu, máy cất nước
Tuy nhiên, việc phân loại chỉ mang tính chất tương đối. Trong thực tiễn DH,
việc phân loại theo chức năng và nội dung của TBTQ sẽ có nhiều lợi thế. Nó giúp
GV có thể căn cứ vào chức năng và nội dung của TBTQ trong từng hoạt động DH cụ
thể mà sử dụng cho phù hợp. Mỗi TBTQ trong một bài dạy nhất định, giữ một vị trí
và chức năng nhất định, sẽ có một cách sử dụng phù hợp với chính chức năng và nội
dung của nó, do đó làm cho hiệu quả của hoạt động DH được nâng cao.
Như vậy, đứng trên nhiều góc độ nhìn nhận, đánh giá TBDH khác nhau, có thể
hiểu được một cách tổng quan TBDH là những công cụ mà giáo viên và học sinh sử
dụng, nhằm đạt được mục đích của QTDH hoá học.
1.2. Yêu cầu chung về TBDH hóa học:
1.2.1. Một số yêu cầu chung đối với TBDH:
TBDH là nhân tố không thể thiếu được của QTDH. Để xây dựng, lựa
chọn, sử dụng TBDH có hiệu quả, cần lưu ý một số yêu cầu đối với TBDH:
+ TBDH phải phù hợp với đối tượng: phải xem xét đặc điểm tâm sinh lý
lứa tuổi để lựa chọn các mẫu TBDH cho hoạt động dạy học.
+ TBDH phải phù hợp với khả năng và đặc điểm tư duy của học sinh:
Trong quá trình học tập, học sinh thường gặp khó khăn ở vấn đề trừu tượng, đó là lúc
cần đến sự hỗ trợ của TBDH để vấn đề phức tạp trở nên dễ hiểu, phù hợp với lứa tuổi
và trình độ nhận thức của HS.
13
+ TBDH phải mang tính khoa học: Đó là mức độ chuẩn xác trong việc
phản ánh hiện thực.
+ TBDH phải mang tính sư phạm: Phải phù hợp với các yêu cầu về mặt
sư phạm như: độ rõ, kích thước, màu sắc, dễ sử dụng, phù hợp tâm sinh lý học sinh.
+ TBDH phải mang tính kinh tế: Là giá thành tương xứng với hiệu quả
giáo dục - đào tạo.
Như vậy, TBDH có thể đơn giản hay hiện đại nhưng qua sử dụng nó phải
cho kết quả khoa học, đảm bảo yêu cầu về mặt mỹ quan, sư phạm, an toàn và giá cả
hợp lý tương xứng với hiệu quả mà nó mang lại và không nhất thiết phải là những
thiết bị đắt tiền.
1.2.2. Yêu cầu chung về TBDH hóa học:
Hệ thống TBDH lớp 10,11,12 đã được nghiên cứu thiết kế, trang bị và
sử dụng ở các trường với những yêu cầu chung về chất lượng như sau:
1.2.2.1. Đảm bảo tính khoa học và sư phạm:
Phục vụ thiết thực nội dung bài học, chương trình SGK, góp phần đổi
mới phương pháp dạy học.
Khi sử dụng phải đảm bảo thành công trong một thời gian hợp lí của bài
giảng.
Phải đảm bảo tính chính xác, khoa học phục vụ tốt quá trình DH
Ví dụ: Khi dạy bài 34: Ankan: Cấu trúc phân tử và tính chất vật lí.
Dùng mô hình phân tử hóa học hữu cơ dạng đặc và rỗng trong một thời gian
hợp lý giúp học sinh hiểu cấu trúc không gian của metan, propan.
1.2.2.2. Đảm bảo tính trực quan hóa:
Đảm bảo nguyên tắc chế tạo hợp lí, bền chắc
Tạo điều kiện hợp lí các thao tác kĩ thuật khi sử dụng, dễ tháo lắp, tiết
kiệm thời gian trên lớp học.
Chất liệu các đồ dùng để sử dụng được sử dụng được lâu dài.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét