Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Giải pháp mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại agribank láng hạ

Khoa ngân hàng - tài chính Luận văn tốt nghiệp
Thứ ba : trong quá trình cải cách các doanh nghiệp nhà nớc, đã nảy
sinh một số vấn đề nh: thất nghiệp, sự bỏ ngỏ một số ngành và khu vực do
nhà nớc không đủ sức đảm nhiệm hay không có tầm quan trọng sống còn.
Chính các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sẽ tạo công ăn việc làm, giải
quyết vấn đề thất nghiệp và tạo ra sự phát triển cân đối cho nền kinh tế.
Thứ t : các nhà doanh nghiệp quốc doanh có khả năng tập trung vốn,
trí tuệ vào các ngành kinh tế phát triển hay những ngành kinh tế đòi hỏi hàm
lợng tri thức nh công nghệ thông tin cũng nh có khả năng lấp đầy những
khoảng trống trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh không cần nhiều vốn và
có lợi nhuận thấp mà các nhà đầu t lớn ít quan tâm tới.
Thứ năm : Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh thờng gắn
liền với sự quản lý trực tiếp của chủ sở hữu, nên trong các quyết định quản trị
có sự cân nhắc cẩn thận, cũng nh sự ổn định trong nội bộ, ít xảy ra tình trạng
tham nhũng. Nói chung loại hình doanh nghiệp này cũng góp phần thúc đẩy
quá trình lành mạnh hoá trong hoạt động của các xí nghiệp .
Thứ sáu : Sản xuất hàng hoá từ doanh nghiệp quốc doanh đã góp phần
to lớn trong việc tạo ra sự phong phú của hàng hoá nâng cao chất lợng sản
phẩm từng bớc góp pần cải thiện nâng cao mức sống đời sống nhân dân. Do
việc xuất hiện nhiều chủng loại hàng hoá đến khả năng chọn lựa hàng hoá
của ngời dân tăng lên và các doanh nghiệp ra sức cạnh tranh với nhau để có
thể tiêu thụ sản phẩm của mình nhiều nhất. Để thắng thế trong cạnh tranh,
các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao chất lợng sản phẩm, giảm chi phí
để hạ giá thành, thu hút khách hàng .
Thứ bảy : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh vừa là đối thủ cạnh tranh
quyết liệt, vừa là đối tác làm ăn trong quá trình cung cấp sản phẩm, hoàn
thiện sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp quốc
doanh. Sự kết hợp sản xuất - tiêu thụ giữa doanh nghiệp ngoài quốc doanh và
doanh nghiệp quốc doanh tạo ra một dây chuyền sản xuất lớn của xã hội,
giúp cho thời gian sản xuất tiêu thụ đợc rút ngắn và sản phẩm sản xuất ra là
hoàn thiện hơn với chất lợng cao hơn. Nh vậy sự phát triển của doanh nghiệp
ngoài quốc doanh đã thúc đẩy và tăng cờng các mối quan hệ trong nớc, đồng
thời tạo sự ganh đua cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế buộc các thành

5
Khoa ngân hàng - tài chính Luận văn tốt nghiệp
phần kinh tế nói chung và các chủ thể nói riêng và luôn phải đổi mới, hoàn
thiện để tồn tại và phát triển.
Thứ tám : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh xuất hiện thu hút một lực
lợng lớn lao động xã hội làm cho tỷ lệ thất nghiệp giảm, nâng cao đời sống
nhân dân.
Thứ chín : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tồn tại và phát triển là
một bộ phận có đóng góp lớn cho ngân sách nhà nớc. Thuế là nguồn thu
chính của ngân sách nhà nớc, nguồn thu này sẽ đợc dùng để đầu t vào các
ngành kinh tế mũi nhọn hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc giúp đỡ, hỗ trợ
một số ngành kinh tế yếu kém. Nói cách khác, doanh nghiệp ngoài quốc
doanh có vai trò điều hoà thu nhập đồng thời phải có trách nhiệm đóng góp
vào ngân sách nhà nớc.
Nhận thức đợc vai trò to lớn của doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhà
nớc ta đã khuyến khích và tạo môi trờng hoạt động ngày càng thuận lợi cho
khu vực này. Sau khi quốc hội thông qua luật công ty và luật doanh nghiệp t
nhân tháng 12 năm 1990, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã có sự
phát triển nhanh chóng và đã đạt đợc một số kết quả nhất dịnh, phát huy tính
tích cực trong việc huy động vốn, giải quyết việc làm, tạo sự năng động trong
kinh doanh và thoả mãn một phần nhu cầu của thị trờng. Một kết quả nổi bật
là số lợng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng lên nhanh chóng, khả
năng thu hút vốn đầu t, tăng mức nộp ngân sách và thu nhập khá cao. Nếu
năm 1991 mới chỉ có 123 doanh nghiệp với số vốn điều lệ là 69 tỷ đồng thì
đến năm 1996 đã có 26.091 doanh nghiệp với số vốn điều lệ là 8257 tỷ đồng.
Riêng năm 1998 đã có 3675 doanh nghiệp đợc đăng ký kinh doanh. Đạt đợc
kết quả đó là nhờ những điều kiện khá thuận lợi nh : cơ chế, chính sách của
nhà nớc luôn luôn khuyến khích, hỗ trợ cho sự ra đời và hoạt động doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, nhà nớc cũng luôn cố gắng tạo ra một môi trờng
pháp lý bình đẳng, tự chủ trong kinh doanh để cho các doanh nghiệp này có
điều kiện vơn lên. Hơn nữa, lực lợng lao động Việt Nam dồi dào, có tay
nghề, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu về lao động cho các doanh nghiệp. Tuy
nhiên, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng phải đối đầu với những khó
khăn lớn: ra đời trong điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, kỹ thuật công nghệ
lạc hậu, trình độ quản lý cha cao nếu không nói là yếu kém, thị trờng của các

6
Khoa ngân hàng - tài chính Luận văn tốt nghiệp
doanh nghiệp ngoài quốc doạnh hẹp. Gần đây do ảnh hởng của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ Châu á đã làm giảm đáng kể lợng khách hàng của các
nớc bị khủng hoảng gây ra những khó khăn trong kinh doanh của doanh
nghiệp ngoài quốc doanh. Nhng khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh đó là vấn đề vốn cho đầu t sản xuất kinh doanh. Tình trạng
thiếu vốn đã đẩy một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm ăn theo kiểu
chộp giật, đợc ăn cả ngã về không, không có một phơng án sản xuất kinh
doanh lâu dài, hoặc thậm chí sản xuất hàng giả, kém chất lợng. Một số doanh
nghiệp khác do thiếu vốn để đổi mới công nghệ và nâng cao chất lợng sản
phẩm, đã không thể cạnh tranh nổi và đã bị phá sản. Tình trạng trốn thuế, lậu
thuế cũng xuất phát từ vấn đề thiếu vốn. Những doanh nghiệp phá sản là
những bằng chứng làm cho ngời dân lại càng ngại đầu t vào khu vực kinh tế
này làm cho vốn đã thiếu lại càng thiếu. Và sẽ là không tởng khi nói đến phát
triển kinh tế mà không có vốn hoặc không đủ vốn. Vậy nguồn vốn cho các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thể lấy từ những nguồn nào và nguồn nào
là hiệu quả nhất, tức là có chi phí vốn thấp, thuận lợi khai thác, sẵn sàng đáp
ứng khi doanh nghiệp cần vốn cả về số lợng và thời hạn. Đây là một vấn đề
mà các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang hết sức quan tâm.
1.1.2. Các nguồn vốn của doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Nh đã khẳng định, vốn là điều kiện không thể thiếu đợc để thành lập
một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên, nguồn vốn của mỗi doanh nghiệp không giống nhau do quá trình huy
động và sử dụng vốn phụ thuộc vào một loạt các nhân tố khác nhau nh: loại
hình sở hữu doanh nghiệp, ngành kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động của
doanh nghiệp, qui mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, trình độ quản lý,
trình độ khoa học kỹ thuật, chiến lợc phát triển và chiến lợc đầu t của doanh
nghiệp. Nhng nói chung các nguồn vốn mà các một doanh nghiệp có thể huy
động và sử dụng, đó là:
Vốn tự có của các doanh nghiệp.

Khi doanh nghiệp đợc thành lập thì bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải
đầu t một số vốn nhất định. Đối với doanh nghiệp nhà nớc, vốn tự có ban đầu
chính là vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc. Còn đối với doanh nghiệp t nhân thì

7
Khoa ngân hàng - tài chính Luận văn tốt nghiệp
chủ doanh nghiệp phải có đủ số vốn pháp định cần thiết để xin đăng ký thành
lập doanh nghiệp. Mức vốn pháp định đợc quy định riêng cho từng ngành
nghề kinh doanh. Điều 9 khoản 2 luật doanh nghiệp t nhân (1994) quy định
có đủ vốn đầu t ban đầu phải phù hợp với quy mô ngành nghề kinh doanh.
Vốn đầu t ban đầu không đợc thấp hơn vốn pháp định do chính phủ quy
định. Điều 21 luật này quy định : trong quá trình hoạt động, chủ doanh
nghiệp t nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu t ban đầu nhng không đợc
thấp hơn vốn pháp định.
Trong thực tế, vốn tự có của doanh nghiệp t nhân thờng lớn hơn nhiều
so với vốn pháp định, nhất là sau một thời gian hoạt động và mở rộng kinh
doanh. Tuy nhiên cũng có những trờng hợp do các nguyên nhân khác nhau
nên nguồn vốn tự có của chủ doanh nghiệp khoong còn đủ khả năng duy trì
hoạt động bình thờng của công ty.
Đối với công ty cổ phần nguồn vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố
quyết định để thành lập công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty
và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên trị giá số cổ phần mà họ nắm giữ. Số
vốn mà mỗi công ty cổ phần huy động đợc khi thành lập công ty đều phải ghi
rõ vào điều lệ của công ty để đăng ký với cơ quan nhà nớc có thẩm quyền,
gọi đó là vốn điều lệ. Vốn điều lệ của công ty trong suốt quá trình tồn tại và
hoạt động không đợc thấp hơn mức vốn pháp định do pháp luật nhà nớc quy
định. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, khi làm ăn có lãi, các
công ty cổ phần thờng có nhu cầu tăng vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh
với hy vọng để thu đợc lợi nhuận nhiều hơn.
Một bộ phận khác của vốn tự có của các doanh nghiệp là nguồn vốn từ
lợi nhuận để lại (retained earning) rất nhiều doanh nghiệp, công ty coi trọng
chính sách tái đầu t từ lợi nhuận để lại. Họ đặt ra mục tiêu là phải có một
khối lợng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng.
Ngoài ra, trong quá trình hoạt động khi cần mở rộng quy mô sản xuất
kinh doanh, lắp đặt thêm hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, thay đổi mặt
hàng, công ty cũng có thể tăng vốn qua việc huy động vốn từ cổ đông. Song
cũng có những trờng hợp công ty tăng vốn bằng cách chuyển một phần quỹ
dự trữ tài chính thành vốn điều lệ của công ty. Các hình thức tăng vốn này đ-
ợc thực hiện theo những quy định riêng biệt và chặt chẽ của pháp luật nhà n-
ớc và những điều khác của công ty.
Để thành lập doanh nghiệp, có thể vốn tự có đợc coi là tạm đủ, nhng để
duy trì và phát triển thì ngoài nguồn vốn tự có, doanh nghiệp cần phải đi vay.

8
Khoa ngân hàng - tài chính Luận văn tốt nghiệp

Nguồn vốn đi vay.

Doanh nghiệp có thể vay vốn từ bạn hàng thông qua hình thức tín dụng
thơng mại hay vay từ ngân hàng qua hình thức tín dụng ngân hàng.
Tín dụng thơng mại (commercial Credit).
Các doanh nghiệp thờng khai thác nguồn vốn tín dụng thơng mại hay còn
gọi là tín dụng của nhà cung cấp (Supplier's credit). Nguồn vốn này đợc
khai thác một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả
chậm hay trả góp. Nguồn vốn tín dụng thơng mại có ảnh hởng hết sức to
lớn không chỉ đối với các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh
tế.Tín dụng thơng mại là một phơng thức tài trợ tiện lợi và linh hoạt kinh
doanh, mặt khác nó còn tạo ra khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác
kinh doanh một cách lâu bền. Các điều kiện ràng buộc cụ thể có thể ấn
định khi hai bên ký kết hợp đồng mua bán. Tuy vậy, đây chỉ là một nguồn
vốn ngắn hạn và sẽ gặp rủi ro khi qui mô tài trợ vợt quá giới hạn an toàn.
Tín dụng ngân hàng.
Các ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vốn tức thời cho các doanh nghiệp
với thời hạn có thể từ vài ngày đến vài năm với lợng vốn theo nhu cầu sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể vay dài hạn (từ 3
năm trở lên), trung hạn (từ 1 đến 3 năm), ngắn hạn (dới 1 năm) với những
mức lãi xuất phải trả ngân hàng cùng với những điều kiện ràng buộc khác
nhau. Hiện nay ở Việt Nam, thị trờng tài chính cha hoàn chỉnh, và việc
thu hút vốn của các doanh nghiệp từ thị trờng này là cha phổ biến thì tín
dụng ngân hàng là một hình thức huy động vốn phổ biến nhất của các
doanh nghiệp. Nó có tác dụng to lớn đối với cả ngời đi vay và ngời cho
vay. Nó có những đặc điểm tiến bộ và có vai trò thúc đẩy sự phát triển của
các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói
riêng.

1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp ngoài quốc
doanh.
Thứ nhất
Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối u cho doanh
nghiệp.

9
Khoa ngân hàng - tài chính Luận văn tốt nghiệp
Trong nền kinh tế thị trờng hiếm có doanh nghiệp nào chỉ sử dụng vốn
tự có để hoạt động sản xuất kinh doanh, bởi vì điều đó không những hạn chế
khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn làm tăng
chi phí vốn. Hiện nay để thực hiện các quyết định đầu t doanh nghiệp thờng
thích sử dụng vốn đi vay bởi vì nếu chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ đóng góp
một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong sản xuất kinh doanh chủ yếu
do các chủ nợ gánh chịu. Mặt khác, bằng cách tăng vốn thông qua vay nợ,
các chủ doanh nghiệp vẫn nắm quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp.
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp thu đợc lợi nhuận từ tiền vay lớn hơn tiền lãi phải
trả thì lợi nhuận dành cho các chủ doanh nghiệp gia tăng đáng kể. Hơn nữa
khi sử dụng nợ lãi nợ vay đợc tính trong chi phí hợp lý, hợp lệ khi tính thuế
thu nhập. Do đó công ty sẽ đợc hởng một phần từ thuế. Tóm lại, các chủ sở
hữu doanh nghiệp a thích tỷ lệ nợ cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh
và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Song nếu tỷ lệ nợ quá cao,
doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Việc tăng sử
dụng nợ làm tăng rủi ro của các luồng tiền thu của công ty. Tuy nhiên tỷ lệ
nợ cao hơn thờng dẫn đến lãi xuất mong đợi cao hơn. Vì vậy, rủi ro cao hơn
cùng với nợ lớn hơn có khuynh hớng làm giảm giá cổ phiếu, nhng lãi xuất
mong đợi cao hơn làm tăng giá cổ phiếu. Do đó công ty phải xác định một cơ
cấu vốn tối u, đó là một cơ cấu hớng tới sự cân bằng giữa lãi suất và rủi ro và
tối đa hoá đợc giá cả cổ phiếu của công ty. Qua đó ta thấy rằng doanh nghiệp
sử dụng vốn vay từ ngân hàng hay là vốn tín dụng sẽ góp phần hình thành cơ
cấu vốn tối u cho doanh nghiệp.

Thứ hai
Tín dụng ngân hàng với đặc điểm là buộc ngời vay phải trả lãi và gốc
trong một thời gian nhất định nào đó đã buộc ngời kinh doanh phải nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn vay. Ngời đi vay phải tính toán chi phí sản xuất, tốc độ
quay vòng vốn để sao cho khi hết thời hạn vay có đủ vốn và lãi để trả ngân
hàng và một phần lợi nhuận cho mình. Với điều kiện ràng buộc về lãi suất,
thời hạn và mục đích khi vay, ngời đi vay hiểu rõ trách nhiệm của họ trong
việc sử dụng vốn vay và từ đó anh ta phải thúc đẩy sản xuất kinh doanh của
mình sao cho đạt hiệu quả nhất. Hay nói cách khác là tín dụng ngân hàng đã
góp phần thúc đẩy việc hạch toán kinh doanh của các doanh nghiệp và nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn.


10
Khoa ngân hàng - tài chính Luận văn tốt nghiệp
Thứ ba
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện nâng cao sức cạnh tranh cho doanh
nghiệp. Ngân hàng có thể cấp đủ vốn cần thiết cho các doanh nghiệp để đổi
mới trang thiết bị, nâng cao kỹ thuật, đổi mới công nghệ sản xuất, tìm kiếm
thị trờng, nâng cao trình độ công nhân viên, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất l-
ợng sản phẩm, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm để tạo ra một
sức cạnh tranh mới cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Thứ t
Mối quan hệ rộng rãi của ngân hàng đối với các đơn vị kinh tế trong
hầu hết các ngành, các lĩnh vực thông qua hoạt động tín dụng của ngân hàng
đã tạo ra cho ngân hàng có đợc một hệ thống thông tin phong phú, tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Từ đó có thể cung cấp
các thông tin về thị trờng và t vấn cho các khách hàng của mình về kế hoạch
hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó có thể nói ngân hàng là một hệ thống
có thể tham mu tích cực cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp, tránh đợc rủi ro trong kinh doanh.
Thứ năm
Hoạt động tín dụng của ngân hàng không phải là việc rải đều vốn cho
tất cả các khách hàng có nhu cầu mà chủ yếu tập trung cho những khách
hàng làm ăn có hiệu quả, nhằm tránh rủi ro cho ngân hàng. Đây là động lực
thúc đẩy các doanh nghiệp ngoài quốc doanh luôn luôn cố gắng làm ăn có
hiệu quả hơn.
Thứ sáu
Tín dụng ngân hàng đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp ngoài quốc doanh diễn ra liên tục và không ngừng
mở rộng sản xuất kinh doanh tăng sức cạnh tranh trên thị trờng. Thật vậy,
ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vốn tức thời cho doanh nghiệp với thời hạn
có thể từ vài ngày đến vài năm với lợng vốn theo nhu cầu của doanh nghiệp,
giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không bị ngng lại.
Hơn nữa trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp có nhu cầu
mở rộng hoạt động, đổi mới trang thiết bị, kỹ thuật, tìm kiếm thị trờn, đào tạo
nhân lực để hy vọng tăng năng suất lao động, giảm chi phí hạ giá thành sản
xuất, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp rất cần sự giúp

11
Khoa ngân hàng - tài chính Luận văn tốt nghiệp
đỡ của ngân hàng về vốn và qua hoạt động tín dụng ngân hàng có thể thoả
mãn nhu cầu của mình.
Nhận thức sâu sắc về vai trò to lớn của tín dụng ngân hàng đối với việc
phát triển nền kinh tế nói chung và đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
nói riêng, chúng ta cần phải có biện pháp đúng đắn để tạo điều kiện cho tín
dụng ngân hàng phát triển mạnh mẽ hơn nữa nhằm đáp ứng sự phát triển
không ngừng của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh nói riêng. Nhng để có biện pháp phát triển tín dụng ngân hàng thì việc
nhận thức sâu sắc về tín dụng ngân hàng là điều hết sức quan trọng, bởi vì,
nếu không có nhận thức đúng đắn về tín dụng ngân hàng, không hiểu về
những quy định cụ thể về tín dụng ngân hàng thì không thể có những biện
pháp hữu hiệu để mở rộng nó một cách hiệu quả, đúng hớng, đúng luật.

1.2 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng.

Trớc hết ta hiểu rằng: Ngân hàng thơng mại là tổ chức kinh doanh tiền
tệ mà hoạt động chủ yếu là thờng xuyên nhận tiền gửi của khách hàng với
trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu t thực hiện nhiệm
vụ chiết khấu và làm phơng tiện thanh toán. Thông thờng lợng vốn tự có của
ngân hàng không đủ để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các đơn vị kinh tế, do
vậy các ngân hàng thơng mại phải huy động từ nhiều nguồn vốn trong xã
hội. Trên cơ sở nguồn vốn đã huy động đợc cộng với vốn tự có của mình,
ngân hàng thơng mại sẽ đầu t trở lại cho nền kinh tế. Đây là nguồn gốc của
hoạt động tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng và
một bên là khách hàng, trong đó ngân hàng chuyển giao tiền hay tài sản cho
khách hàng sử dụng trong một thời gian nhất định với những thoả thuận hoàn
trả gốc và lãi trong một thời gian nhất định giữa khách hàng và ngân hàng
1.2.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh.
Trong nền kinh tế thị trờng, các hoạt động kinh tế rất đa dạng và phong
phú. Để đáp ứng đợc sự đa dạng và phong phú của hoạt động kinh tế này thì

12
Khoa ngân hàng - tài chính Luận văn tốt nghiệp
đòi hỏi tín dụng ngân hàng phải có những hình thức cũng phong phú, đa dạng
để phù hợp với từng hoạt động kinh tế đó ngày càng thúc đẩy các hoạt động
kinh tế, trở thành một động lực thúc đẩy quan trọng của từng doanh nghiệp
trong nền kinh tế. Theo qui định điều 49 khoản 10 điều 20 luật các tổ chức
tín dụng thì cấp tín dụng đợc thể hiện dới các hình thức: cho vay, chiết khấu,
bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo qui định của nhà nớc.

1.2.2.1 Hình thức cho vay
Theo điều 3 của qui chế cho vay của các tổ chức tín dụng qui định: cho
vay là một hình thức của cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cho khách
hàng vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo
thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
1.2.2.2 Hình thức chiết khấu.
Trong nền kinh tế thị trờng, kỳ phiếu thơng mại đợc phát hành và lu
thông theo qui định của pháp luật. Ngời gửi kỳ phiếu nếu cần tiền mặt khi kỳ
phiếu cha đến hạn thanh toán thì có thể đến ngân hàng xin đợc chiết khấu kỳ
phiếu để lấy tiền mặt về. Ngân hàng thơng mại trả cho ngời sở hữu kỳ phiếu
một lợng tiền bằng mệnh giá kỳ phiếu trừ đi laĩ suất chiết khấu, hoa hồng và
lệ phí khác và ngân hàng trở thành chủ nợ của ngời phát hành kỳ phiếu. Xét
về bản chất kinh tế, mua kỳ phiếu thực chất là ngân hàng cho ngời sở hữu kỳ
phiếu vay tiền với lãi suất tính trên số tiền chiết khấu. Nh vậy tín dụng chiết
khấu là tín dụng ngắn hạn mà ngân hàng chuyển tiền cho ngời sở hữu kỳ
phiếu khi nó cha đến hạn thanh toán. khách hàng muốn bán kỳ phiếu cho
ngân hàng thì phải lập thủ tục giống nh vay vốn. Khách hàng phải làm đơn
xin chiết khấu kỳ phiếu, ngân hàng kiểm tra khả năng thanh toán nợ khi đến
hạn của ngời phát hành kỳ phiếu, nếu đợc chấp nhận và quyết định mức chiết
khấu. Thông thờng ngân hàng chỉ nhận chiết khâu các loại kỳ phiếu mà thời
hạn còn lại từ lúc chiét khấu đến hạn thanh toán là từ 3 tháng đến 6 tháng.
Ưu điểm đặc biệt của hình thức tín dụng chiết khấu là nếu trong trờng hợp
khản năng thanh khoản của ngân hàng kém đi thì ngân hàng có thể đem kỳ
phiếu đếnngân hàng trung ơng để xin tái chiết khấu, bổ sung vốn bảo đảm
bảo khả năng thanh toán.
1.2.2.3 Hình thứcnhận trả.

13
Khoa ngân hàng - tài chính Luận văn tốt nghiệp
Là hình thức tín dụng mà ngân hàng nhận trả nợ thay cho ngời phát
hành kỳ phiếu khi đến hạn thanh toán mà ngời phát hành kỳ phiếu không có
khả năng thanh toán. Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho ngời sở hữu kỳ phiếu
rằng họ sẽ nhận đợc tiền khi đến hạn thanh toán cũng nh có thể dễ dàng đem
chiết khấu kỳ phiếu đó. Ngời phát hành kỳ phiếu đó. Ngời phát hành kỳ
phiếu nhận đợc sự đảm bảo đó của ngân hàng nên sẽ phải trả ngân hàng một
khoản hoa hồng. Trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và ngời phát hành
kỳ phiếu có qui định ngời phát hành kỳ phiếu phải giao số tiền của kỳ phiếu
chậm nhất trớc ngày kỳ phiếu đến hạn. Trớc khi đứng ra đảm bảo cho ngời
phát hành kỳ phiếu, ngân hàng phải kiểm tra kỹ khả năng thanh toán của họ
và chỉ đảm bảo cho những đối tợng tin cậy, có uy tín với khả năng tài chính
tốt.

1.2.2.4 Tín dụng trả nhiều lần.
Là loại hình thức cho vay mà việc trả nợ đợc phân ra làm nhiều thời
hạn, đến mỗi kỳ trả một phần nợ gốc và lãi. Loại tín dụng này rất phù hợp với
đặc điểm sử dụng vốn của ngời vay là thu hồi vốn dần dần, lại vừa hỗ trợ cho
tiêu dùng hàng hoá vì đợc sử dụng và trả tiền sau.
Tín dụng trả nhiều lần bao gồm các loại tín dụng ngắn, trung và dài
hạn. Ngời đi vay và ngân hàng thoả thuận mức cho vay, lãi suất cho vay và
kỳ hạn trả cũng nh mức trả từng lần cho vốn và lãi, kỳ hạn nợ cuối cùng.
Đối tợng cho vay bao gồm cả trong lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực tiêu
dùng. Trong tín dụng tiêu dùng trả dàn, ngân hàng có thể cho vay để mua
sắm tài sản tiêu dùng sinh hoạt, chi trả chi phí du lịch. Đây là loại tín dụng có
thị trờng rất lớn và phong phú. Tuy nhiên phải có điều kiện đảm bảo để có
thể thực hiện đợc loại hình này.

1.2.2.5 Hình thức bảo lãnh.
Đây là hình thức tín dụng phát sinh do ngân hàng nhận dùng uy tín của
mình bảo lãnh đảm bảo sẽ thanh toán cho ngời bán hàng trong trờng hợp ng-
ời mua (ngời đợc bảo lãnh) không có khả năng thanh toán nợ thực chất giúp
cho ngời mua nhận đợc hàng thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn trong quan hệ
thơng mại. Thờng ngân hàng đứng ra bảo lãnh khi quan hệ giữa ngời mua và
ngời mua cha tin cậy lẫn nhau và thờng là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
hàng hoá. Ngân hàng thu phí dịch vụ, phí bảo lãnh với một mức phụ thu
thuộc vào loại nhu cầu bảo lãnh và thời hạn bảo lãnh, khối lợng bảo lãnh.
Hình thức bảo lãnh của ngân hàng rất phong phú và đa dạng nh: bảo lãnh dự

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét