Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Kiểm soát và quản lí hiệu quả chi phí đại diện trong công ty cổ phần

Trang 5
khách quan hay chủ quan, không thể trực tiếp điều hành công ty). Các ông chủ bỏ
tiền ra thuê người đại diện cho mình điều hành công ty luôn muốn tối đa hoá lợi
nhuận của công ty, cụ thể hơn là tối đa hoá phần lợi nhuận mà họ được nhận, tuy
nhiên, lợi ích của những người đại diện đó lại không đồng nhất với việc tối đa hoá
lợi nhuận của công ty, có thể mục tiêu của họ là nhận được những khoản tiền hoa
hồng béo bở từ những hợp đồng cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho công ty; có thể họ
sẽ ra một quyết định không nhằm mục đích lợi nhuận tối đa cho công ty; có thể họ
sẽ trốn tránh trách nhiệm, sẽ “ngồi chơi xơi nước” vì dù họ có cố gắng nhiều hay ít
thì mức lương tháng họ được nhận vẫn như nhau, không hề thay đổi;… Các ông chủ
phải tốn một khoản chi phí để giám sát người đại diện và hành động của họ, đảm
bảo họ sẽ cố gắng hết sức và đưa ra những quyết định phục vụ cho mục đích của
người chủ. Và khoản chi phí đó được gọi là “
chi phí đại diện”.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Như đã trình bày ở phần thảo luận vấn đề, đối tượng nghiên cứu của bản luận
văn này là “
chi phí đại diện”. Khi lợi ích của người chủ và người đại diện – người
được thuê điều hành công ty – không giống nhau, điều này hầu như là luôn luôn tồn
tại, thì công ty sẽ phải gánh chịu các chi phí khác ngoài các chi phí sản xuất kinh
doanh thông thường như: chi phí giám sát hành vi của người đại diện; chi phí cho
việc đưa ra các ràng buộc cho hành động của người đại diện, việc ban thưởng cho
họ (bao gồm quyền chọn cổ phần, tiền thưởng và những hình thức khuyến khích
khác); những thiệt hại trong lợi nhuận do các nguyên tắc và hạn chế trong khâu điều
hành và cả khâu quản lý của cổ đông. Ngoài ra còn có chi phí ký kết hợp đồng với
người đại diện, chi phí cho những quyết định không tối ưu của họ. Tất cả các chi
phí này gọi chung là chi phí đại diện.
2.2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Khi quyết định chọn nghiên cứu về chi phí đại diện trong các công ty cổ
phần, tôi đã gặp khá nhiều khó khăn trong việc tìm tài liệu, ý định tìm ra công thức
và mô hình để định lượng loại chi phí mới này thực sự vượt quá khả năng của tôi.
Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Thu Hằng – Khoá 13
Trang 6
Vì vậy trong bản luận văn này tôi chỉ xin trình bày những nghiên cứu mang tính
chất định tính
về chi phí đại diện trong lý thuyết doanh nghiệp hiện đại của thế giới;
vấn đề đại diện và sự phát sinh chi phí đại diện trong các công ty cổ phần ở Việt
nam hiện nay trong sự so sánh với một số quốc gia khác trong khu vực.

3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khi học môn Tài chính doanh nghiệp hiện đại do PGS.TS. Trần Ngọc Thơ
giảng dạy, tôi và các bạn rất lưu ý đến loại chi phí mới này, vì vậy, với những
nghiên cứu định tính, trong đó nêu lên định nghĩa, các nguyên nhân và tác động của
loại chi phí này đến hoạt động của công ty cổ phần, từ đó tìm ra các biện pháp để
kiểm soát và hạn chế việc phát sinh chi phí đại diện, tôi mong rằng mình sẽ góp
phần giúp mọi người hiểu rõ hơn về chi phí đại diện và những vấn đề xung quanh
loại chi phí này, ở mức có thể, và mong rằng sẽ hữu ích cho các nghiên cứu định
lượng sau này.
4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Kể từ khi được nêu ra bởi Jensen và Meckling vào năm 1976, lý thuyết
người đại diện là một phần không thể thiếu trong những nghiên cứu về doanh
nghiệp cũng như lý thuyết doanh nghiệp hiện đại trên thế giới. Ở Việt Nam hiện
nay, cụm từ chi phí đại diện xuất hiện rất khiêm tốn trong các tài liệu nghiên cứu về
doanh nghiệp, trong khi đó, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về chi phí đại
diện cũng như các ứng dụng của lý thuyết đại diện trong quản lý doanh nghiệp đã
rất đa dạng. Trong khi tìm kiếm tài liệu tham khảo để làm luận văn, tôi đã tìm được
các nghiên cứu về chi phí đại diện trong mối liên hệ với quyết định đầu tư, quản trị
tài chính doanh nghiệp, quản trị rủi ro tài chính, cấu trúc vốn và cấu trúc sở hữu
trong công ty cổ phần, những nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn
đưa ra các mô hình định lượng mối quan hệ giữa chúng. Giáo sư Dennis Proffitt,
trường Đại học Grand Canyon đã có nghiên cứu mở rộng lý thuyết đại diện, kết hợp
với nền tảng đạo đức và đưa ra giải pháp hạn chế hành vi phi đạo đức trong các
quyết định tài chính. Tôi không dám cho rằng những gì trình bày trong luận văn của
mình sẽ có ích cho những nghiên cứu khoa học tiếp theo, nhưng tôi mong là luận
Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Thu Hằng – Khoá 13
Trang 7
văn sẽ cung cấp những thông tin bổ ích và cần thiết cho người đọc cũng như các
công trình nghiên cứu khoa học sau này về chi phí đại diện.
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn được chia thành 4 phần và 1 phụ lục. Bao gồm:
- Phần I: Mở đầu
Trình bày đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và
thực tiễn của đề tài.
- Phần II: Tổng quan
Trình bày tổng quan về chi phí đại diện, các nghiên cứu hiện có trên thế giới
về chi phí này.
- Phần III: Thực trạng tại Việt Nam
Phân tích vấn đề đại diện và chi phí đại diện ở nước ta hiện nay, những đặc
điểm văn hóa của người Việt ảnh hưởng đến vấn đề người đại diện, nguyên nhân,
tác động và một số giải pháp kiểm soát và quản lý hiệu quả vấn đề đại diện.
- Phần IV: Kết luận và kiến nghị
Nội dung của phần cuối cùng là những kết luận rút ra từ những phân tích,
nghiên cứu ở các phần trước và kiến nghị về những nghiên cứu tiếp theo.












Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Thu Hằng – Khoá 13
Trang 8
PHẦN II: TỔNG QUAN

1. LÝ THUYẾT NGƯỜI CHỦ - NGƯỜI ĐẠI DIỆN
Lý thuyết người chủ - người đại diện (sau đây gọi là lý thuyết đại diện) xuất
hiện trong bối cảnh việc quản trị kinh doanh gắn liền với những nghiên cứu về hành
vi của người chủ và người làm thuê thông qua các hợp đồng. Những nghiên cứu đầu
tiên tập trung vào những vấn đề về thông tin không hoàn hảo trong những hợp đồng
của ngành bảo hiểm (Spence và Zeckhauser, 1971; Ross, 1973), và nhanh chóng trở
thành một lý thuyết khái quát những vấn đề liên quan đến hợp đồng đại diện trong
các lĩnh vực khác (Jensen và Meckling, 1976; Harris và Raviv, 1978).
Như vậy, lý thuyết đại diện chính thức ra đời vào đầu những năm 1970,
nhưng những khái niệm liên quan đến nó đã có một lịch sử lâu dài và đa dạng. Một
vài nhà nghiên cứu đáng chú ý trong giai đoạn đầu phôi thai của lý thuyết đại diện
những năm 1970 là: Armen Alchian, Harold Demsetz, Michael Jensen, William
Meckling và S.A.Ross.
Lý thuyết đại diện đề cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người
chủ quyết định công việc và một bên khác là người đại diện thực hiện các công việc
đó. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ này được công bố; và
được biết đến như một phần lý thuyết quan trọng trong toàn bộ lý thuyết về doanh
nghiệp hiện đại. Lý thuyết đại diện nêu ra vấn đề chính là làm thế nào để người làm
công (người đại diện) làm việc vì lợi ích cao nhất cho người tuyển dụng (người chủ)
khi họ có lợi thế về thông tin hơn người chủ và có những lợi ích khác với lợi ích của
những ông chủ này. Lý thuyết này kết luận rằng dưới những điều kiện thông tin
không hoàn hảo (không đầy đủ và không rõ ràng), đặc điểm của hầu hết các thị
trường, hai vấn đề về đại diện sẽ xuất hiện là: lựa chọn bất lợi và mối nguy đạo đức.
Lựa chọn bất lợi là trường hợp người chủ không thể biết chắc liệu người đại diện
cho mình có đủ khả năng thực hiện công việc mà họ được trả tiền để làm hay
không, hay liệu khả năng làm việc của người đại diện có tương xứng với số tiền họ
trả hay không.
Mối nguy đạo đức là trường hợp người chủ không chắc chắn liệu
Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Thu Hằng – Khoá 13
Trang 9
người đại diện có nỗ lực tối đa cho công việc được giao hay không, hay liệu họ có
trục lợi cá nhân khi họ là người biết rõ những thông tin mà không phải cổ đông –
ông chủ nào cũng biết.
2. NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH VẤN ĐỀ ĐẠI DIỆN
Vấn đề đại diện bắt nguồn từ sự tồn tại các mâu thuẫn lợi ích trong nội bộ
công ty cổ phần. Các mâu thuẫn này tồn tại do sự phân chia quyền sở hữu và quyền
quản lý tài sản trong công ty. Đó là các mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và người đại
diện quản lý; và mâu thuẫn giữa chủ nợ và cổ đông của công ty.
2.1. MÂU THUẪN GIỮA CÁC CỔ ĐÔNG VÀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN
Trong công ty cổ phần, đây được xem là loại mâu thuẫn cơ bản nhất do sự
tách biệt giữa sở hữu và quản lý trong mô hình doanh nghiệp hiện đại. Chủ sở hữu
của các công ty cổ phần ngày nay có xu hướng sẽ thuê một giám đốc đại diện cho
mình điều hành công ty, người giám đốc điều hành này sẽ phải đáp ứng các yêu cầu
mà các ông chủ đề ra như: được đào tạo một cách chuyên nghiệp, có năng lực điều
hành công ty với mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho các ông chủ, có đạo đức nghề
nghiệp để không trục lợi cho bản thân,… Ngược lại, hợp đồng đại diện này sẽ mang
lại cho các giám đốc – người làm thuê những lợi ích không nhỏ, họ được quyền ra
quyết định và thực hiện các hoạt động mà được cho là sẽ đem lại lợi ích cho các cổ
đông, họ được hưởng lương và các khoản lợi tức khác từ công việc quản trị công ty,
họ có cơ hội nâng cao uy tín quản trị của mình khi công ty hoạt động hiệu quả, từ
đó nâng cao vị thế của mình trong thị trường lao động,… Khi bỏ tiền ra thuê người
đại diện điều hành công ty, các cổ đông – chủ sở hữu - của công ty mong muốn mọi
hoạt động của người đại diện đều nhằm mục đích tối đa hoá giá trị tài sản của công
ty, nâng cao thị giá của cổ phiếu, gia tăng cổ tức. Trong khi đó, người đại diện –
người điều hành – của công ty lại có những lợi ích cá nhân riêng biệt, họ có thể trực
tiếp quyết định hay ngụy tạo ra các lý do khiến cho các ông chủ không thực hiện
đầu tư vào những dự án có tỷ suất sinh lợi cao vì tâm lý e ngại rủi ro, hoặc quyết
định đầu tư vào những dự án không đem lại lợi nhuận tối ưu cho công ty nhưng lại
đem lại lợi nhuận cho ví riêng của họ, hay thậm chí với những thông tin và quyền
Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Thu Hằng – Khoá 13
Trang 10
lực có được từ việc điều hành công ty, họ có thể giúp ví tiền của thân nhân họ nhiều
thêm mà không cần quan tâm đến lợi nhuận hay những hậu quả mà công ty sẽ phải
gánh chịu. Những mâu thuẫn trong lợi ích của 2 chủ thể này cho ta thấy rất rõ sự tồn
tại của vấn đề đại diện trong công ty cổ phần.
2.2. CÁC CỔ ĐÔNG VÀ CHỦ NỢ: MÂU THUẪN ĐẠI DIỆN THỨ
HAI
Bên cạnh mâu thuẫn đại diện giữa cổ đông và người điều hành, mâu thuẫn
đại diện thứ hai liên quan đến công ty cổ phần là giữa chủ nợ và các cổ đông. Lúc
này, các cổ đông lại trở thành người đại diện cho các chủ nợ. Những cá nhân hay tổ
chức có tiền đồng ý giao tiền của mình cho các cổ đông của một công ty cổ phần để
họ đại diện thực hiện việc đầu tư, mang lại lợi ích cho cả hai. Quyết định giao tiền
của các cá nhân hay tổ chức này dựa trên cơ sở việc đáp ứng được một số yêu cầu
từ phía các công ty, đại diện là các cổ đông, như: mức độ hiệu quả trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty, tỷ suất sinh lợi của dự án đầu tư, khả năng gia tăng
lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong tương lai, khả năng
trả nợ,… Ngược lại, các cổ đông khi được vay tiền có thể thực hiện đầu tư vào các
dự án nhằm mang lại lợi ích tối đa cho công ty mình.
Khi quyết định cho vay tiền, các chủ nợ của công ty quan tâm đến phần thu
nhập dưới dạng lãi suất cũng như tài sản của công ty trong trường hợp phá sản.
Trong khi đó, các cổ đông lại nắm quyền kiểm soát những quyết định điều hành ảnh
hưởng đến tỷ suất sinh lợi của dòng tiền và những rủi ro liên quan (thông qua người
điều hành doanh nghiệp). Các chủ nợ cho doanh nghiệp vay tiền với lãi suất phụ
thuộc vào mức độ rủi ro của tài sản, tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của
doanh nghiệp, cũng như những mong đợi về những thay đổi trong mức độ rủi ro của
2 biến này. Còn các cổ đông, thông qua các nhà điều hành, mong muốn doanh
nghiệp mình thực hiện các dự án có độ rủi ro cao hơn mức rủi ro dự báo trước bởi
người cho vay. Rủi ro cao tương ứng với một tỷ suất sinh lợi yêu cầu của các cổ
đông đối với món nợ cao hơn, điều này sẽ dẫn đến giá trị của những món nợ này đối
Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Thu Hằng – Khoá 13
Trang 11
với các cổ đông giảm
1
. Nếu dự án đầu tư vốn đầy rủi ro này thành công, tất cả lợi
nhuận sẽ thuộc về các cổ đông của công ty, bởi vì lợi nhuận của người cho vay là cố
định ở mức lãi suất với rủi ro thấp ban đầu. Tuy nhiên, nếu dự án thất bại, các chủ
nợ buộc phải chia sẻ những thiệt hại, bị trì hoãn việc chi trả nợ gốc và lãi suất, hoặc
thậm chí mất cả số tiền đã cho vay.
Ngược lại, khi cho công ty vay nợ, các chủ nợ yêu cầu được biết rõ về tình
hình, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và có thể do tính chất cụ
thể của dự án, chủ nợ có thể yêu cầu được trực tiếp tham gia giám sát tiến trình thực
hiện của dự án, qua đó mới cho phép công ty được giải ngân khoản vay. Đây được
xem là chi phí đại diện mà các cổ đông phải trả để được sử dụng khoản nợ vay của
các chủ nợ.
Mâu thuẫn đại diện giữa cổ đông và chủ nợ có thể dẫn đến tình trạng tổng
giá trị của doanh nghiệp giảm trong khi giá cổ phiếu của doanh nghiệp gia tăng.
Điều này sẽ xuất hiện nếu giá trị những khoản nợ của công ty giảm nhiều hơn mức
tăng trong giá trị cổ phiếu công ty. Nếu các cổ đông nỗ lực để chiếm đoạt tài sản từ
các chủ nợ, các chủ nợ sẽ tự bảo vệ bằng cách áp dụng những điều khoản hạn chế
trong các hợp đồng cho vay trong tương lai. Ngoài ra, nếu các chủ nợ tin rằng các
nhà điều hành công ty đang cố gắng lợi dụng họ, họ sẽ hoặc từ chối cung cấp thêm
vốn cho công ty hoặc sẽ đưa ra một lãi suất cao hơn so với lãi suất thị trường để bù
lại rủi ro chiếm đoạt vốn. Vì vậy, những công ty tỏ ra không minh bạch với các chủ
nợ sẽ chịu hậu quả là hoặc không thể tham gia thị trường tín dụng hoặc phải chịu
một lãi suất rất cao và các điều khoản hạn chế đi kèm, cả hai hậu quả này đều bất
lợi cho các cổ đông.
Những hành động quản trị mà cố gắng để chiếm đoạt tài sản từ các cổ đông
khác của công ty, bao gồm người lao động, khách hàng hoặc nhà cung cấp, đều bị
xử lý và bị trừng phạt như nhau. Ví dụ, nếu người lao động tin rằng họ sẽ bị đối xử
không công bằng thì họ sẽ yêu cầu một mức lương cao hơn mức lương trên thị
trường để bù đắp khả năng bị mất việc một cách vô lý.

1
Mô hình định giá chứng khoán
Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Thu Hằng – Khoá 13
Trang 12
2.3. SỰ TƯ LỢI
Lý thuyết đại diện đề cập đến vấn đề nhạy cảm của các công ty – sự tư lợi.
Chính sự tư lợi là nguyên nhân của tình trạng những mục tiêu cá nhân của các nhà
điều hành của một công ty mâu thuẫn với mục tiêu tối đa hoá tài sản cổ đông của
các ông chủ. Khi các cổ đông uỷ quyền cho các nhà điều hành quản trị tài sản của
công ty, lợi ích cá nhân hay sự tư lợi sẽ khiến cho mâu thuẫn về lợi ích luôn tồn tại
giữa hai nhóm này.
Lý thuyết đại diện cho rằng, khi thị trường lao động và thị trường vốn là
không hoàn hảo, người đại diện (gồm các nhà điều hành và các cổ đông) sẽ tìm cách
tối đa lợi ích cá nhân của họ với chi phí do ông chủ (gồm các cổ đông và các chủ
nợ) gánh chịu. Những người làm thuê này có khả năng làm việc vì lợi ích bản thân
hơn là vì lợi ích cao nhất của doanh nghiệp là do tình trạng bất cân xứng thông tin
(chẳng hạn người điều hành biết rõ hơn các cổ đông là liệu họ có khả năng đạt được
những mục tiêu của các cổ đông hay không) và do sự không rõ ràng (có vô số các
yếu tố đóng góp vào hiệu quả cuối cùng của doanh nghiệp, và nó không rõ ràng là
do đóng góp tích cực hay tiêu cực của người điều hành). Bằng chứng về sự tư lợi
của người điều hành bao gồm cả việc tiêu dùng nguồn lực của doanh nghiệp dưới
hình thức hưởng bổng lộc và cả hành động trốn tránh rủi ro của họ, bằng cách đó
các nhà điều hành không thích rủi ro sẽ quyết định bỏ qua các cơ hội tìm kiếm lợi
nhuận cao mà các cổ đông muốn họ đầu tư.
Những mâu thuẫn đại diện tiềm ẩn sẽ nảy sinh khi nào người điều hành của
doanh nghiệp sở hữu ít hơn 100% cổ phần của doanh nghiệp. Nếu công ty là doanh
nghiệp tư nhân, được quản lý bởi chính người chủ doanh nghiệp, thì người chủ -
người điều hành sẽ làm việc để đạt được lợi nhuận tối đa cho chính bản thân anh
ta/cô ta. Người chủ - người điều hành này có thể sẽ dùng tài sản cá nhân để đo
lường lợi nhuận của công ty, nhưng họ sẽ từ bỏ những lợi ích khác, như là sự nghỉ
ngơi, bổng lộc,… để gia tăng tài sản cá nhân. Nếu người chủ - người điều hành này
từ bỏ một phần sở hữu của anh ta/cô ta bằng cách bán một phần cổ phần công ty cho
các nhà đầu tư bên ngoài, thì mâu thuẫn lợi ích tiềm ẩn, lúc này được gọi là mâu
Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Thu Hằng – Khoá 13
Trang 13
thuẫn đại diện xuất hiện. Chẳng hạn, người chủ - người điều hành có thể thích cách
sống nhàn nhã và không làm việc hết sức để tối đa lợi ích cho các cổ đông khác còn
lại, bởi vì theo cách nghĩ của họ, thì dù họ có cố gắng làm việc thì phần lợi nhuận
đổ vào túi người chủ - người điều hành này vẫn sẽ bị xẻ chia với vị cổ đông khác.
Ngoài ra, người chủ - người đại diện có thể quyết định hưởng thụ nhiều bổng lộc
hơn, vì khi đó một phần chi phí cho bổng lộc sẽ do các cổ đông khác gánh chịu.
Trong phần lớn các doanh nghiệp hoạt động công ích có quy mô lớn, các
mâu thuẫn đại diện là rất đáng kể vì người điều hành doanh nghiệp thường chỉ sở
hữu một phần rất nhỏ cổ phần. Vì thế, việc tối đa hóa tài sản của cổ đông có thể phụ
thuộc vào việc phân hạng so với các mục đích khác của nhà quản trị. Ví dụ, người
điều hành có thể có mục tiêu cơ bản là mở rộng quy mô doanh nghiệp, bằng cách
tạo ra một doanh nghiệp lớn, phát triển nhanh, những người điều hành sẽ được gia
tăng vị thế của họ, tạo ra nhiều cơ hội hơn để nâng cao danh tiếng và thu nhập, và
nâng cao sự an toàn cho công việc của họ. Kết quả là, người điều hành đương
nhiệm có thể tiếp tục thu lợi bằng tiền của các cổ đông.
Có thể thúc đẩy những người điều hành làm việc vì lợi ích cao nhất cho các
cổ đông thông qua những biện pháp, khuyến khích, ép buộc và thậm chí trừng phạt.
Tuy nhiên những biện pháp này chỉ mang lại hiệu quả nếu các cổ đông có thể quan
sát tất cả mọi hành động của người điều hành. Nhưng sự xuất hiện của những mối
nguy đạo đức sẽ dẫn đến những hành động không thể kiểm soát của người đại diện
và mang lại lợi ích cho chính họ vì các cổ đông không thể giám sát tất cả hoạt động
của người điều hành. Và để giảm thiểu vấn đề mối nguy đạo đức, cũng như để hạn
chế các thiệt hại mà các cổ đông phải gánh chịu do vấn đề đại diện, các cổ đông
phải chịu bỏ ra
chi phí đại diện.
Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng chi phí đại diện không chỉ phát sinh khi
có mối quan hệ đại diện rõ ràng mà sẽ phát sinh bất cứ khi nào có sự nỗ lực hợp tác
giữa hai hay nhiều người với nhau.
Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Thu Hằng – Khoá 13
Trang 14
3. CHI PHÍ ĐẠI DIỆN
Khái niệm về chi phí đại diện được đề cập nhiều nhất vào năm 1976 trong
loạt bài báo đăng trên tờ
“Journal of Finance” của Michael Jensen và William
Meckling. Hai ông cho rằng trong công ty cổ phần chủ yếu tồn tại các mối quan hệ
hợp đồng đại diện giữa (1) các cổ đông và các nhà điều hành; (2) giữa chủ nợ và cổ
đông. Chủ thể của những mối quan hệ này không phải luôn luôn hoà hợp về mục
tiêu lợi nhuận. Lý thuyết đại diện đề cập đến cái gọi là mâu thuẫn đại diện, hay mâu
thuẫn lợi ích giữa người đại diện và người chủ. Và khi vấn đề đại diện phát sinh sẽ
làm phát sinh chi phí đại diện.
Chi phí đại diện
là loại chi phí để duy trì một mối quan hệ đại diện hiệu quả
(ví dụ một khoản tiền thưởng vì những gì đã thể hiện của nhà quản trị để khuyến
khích họ làm việc vì lợi ích của các cổ đông).
Lý thuyết đại diện định nghĩa chi phí đại diện là tổng của các loại chi phí:
chi phí giám sát (monitoring cost) để giám sát hoạt động của người đại diện, như là
chi phí kiểm toán;
chi phí ràng buộc (bonding cost) để thiết lập một bộ máy có thể
tối thiểu những hành vi quản trị không mong muốn, như là bổ nhiệm những thành
viên bên ngoài vào ban điều hành hay tái thiết lập hệ thống tổ chức của công ty; và

mất mát phụ trội
(residual loss) hay chi phí cơ hội khi các cổ đông thuê người đại
diện và buộc phải đưa ra các hạn chế, ví dụ những thiệt hại do người đại diện lạm
dụng quyền được giao để tư lợi, những thiệt hại do việc đặt ra quy định đối với
quyền bỏ phiếu của cổ đông về những vấn đề cụ thể, thiệt hại từ những biện pháp
kiểm soát hoạt động của người đại diện.
3.1. CHI PHÍ GIÁM SÁT
Chi phí giám sát là những chi phí do người chủ trả để đo lường, giám sát và
kiểm tra hoạt động của người đại diện. Có thể gồm các chi phí cho hoạt động kiểm
tra giám sát, chi phí ký kết hợp đồng bồi hoàn và cuối cùng là chi phí sa thải đối với
người đại diện. Ban đầu những chi phí này do người chủ trả, nhưng Fama và Jensen
(1983) cho rằng cuối cùng thì đây là chi phí do người đại diện gánh chịu vì các
Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Thu Hằng – Khoá 13

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét