Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

“ Những nội dung cơ bản của pháp luật về dịch vụ logistics ở Việt Nam

Dịch vụ logistics đã xâm nhập vào nước ta khá lâu nhưng người Việt ta chưa
thật sự quen với thuật ngữ này, mặc dù đâu đó trong các trang mục quảng cáo về dịch
vụ giao nhận, tuyển dụng nhân viên… có đề cập đến dịch vụ logistic, nhân viên
logistic…
Cách đây vài thế kỷ, thuật ngữ logistic được sử dụng trong quân đội với tư cách
là một cách thức tổ chức cung ứng tương đối giống “ dịch vụ hậu cần” trong các đơn
vị quân đội ngày nay, và đã từng được hoàng đế Napoleon nhắc đến trong câu nói nổi
tiếng “ kẻ nghiệp dư bàn về chiến thuật, người chuyên nghiệp bàn về logistic” để nhấn
mạnh đến tầm quan trọng của dịch vụ này. Sau này, do sự phát triển mạnh về khoa
học kỹ thuật, khoa học quản lý, phương pháp quản trị sản xuất, kinh doanh, giao thông
vận tải, thông tin liên lạc…đã làm cho logistic có bộ mặt mới và có thể thay đổi về
chất so với bản chất nguyên thuỷ ban đầu là cung ứng “ dịch vụ hậu cần” của nó.
Theo quy định tại Điều 233 của Luật thương mại ( LTM ) 2005: “ Dịch vụ
logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc
nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải
quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu,
giao hàng hoặc các dịch vụ khác liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách
hàng để hưởng thù lao”. Như vậy nói một cách đơn giản, dịch vụ logistics là việc thực
hiện và kiểm soát hàng hoá cùng những thông tin có liên quan từ nơi hình thành nên
hàng hoá đến nơi tiêu thụ hàng hoá cuối cùng.
* Phân loại dịch vụ logistics
Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà có nhiều cách phân loại dịch vụ logistics
khác nhau. Theo Điều 4 Nghị Định số 140/2007/ NĐ-CP thì dịch vụ logistic được
phân loại như sau:
Thứ nhất, Các dịch vụ lô-gi-stíc chủ yếu, bao gồm:
- Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
- Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho
bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và
lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;
5
- Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý
thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi lô-
gi-stíc; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho,
hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và
thuê mua container.
Thứ hai, Các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan đến vận tải, bao gồm:
- Dịch vụ vận tải hàng hải;
- Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;
- Dịch vụ vận tải hàng không;
- Dịch vụ vận tải đường sắt;
- Dịch vụ vận tải đường bộ.
- Dịch vụ vận tải đường ống.
thứ ba, Các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan khác, bao gồm:
- Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật;
- Dịch vụ bưu chính;
- Dịch vụ thương mại bán buôn;
- Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu
gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng;
- Các địch vụ hỗ trợ vận tải khác.
3/ Đặc trưng của dịch vụ logistics
Thứ nhất, chủ thể của quan hệ dịch vụ bao gồm 2 bên: Người làm dịch vụ
logistics và khách hàng. Người làm dịch vụ phải là thương nhân, có đăng ký kinh
doanh dịch vụ logistics. Thủ tục đăng ký kinh doanh được thực hiện theo các đạo luật
đơn hành, phụ thuộc vào hình thức pháp lý của thương nhân. Khách hàng là những
người có hàng hoá cần gửi hoặc cần nhận và có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics.
Như vậy khách hàng có thể là thương nhân, hoặc không phải là thương nhân, có thể là
chủ sở hữu hàng hoá hoặc không phải là chủ sở hữu hàng hoá
Thứ hai, Nội dung của dịch vụ logistics rất đa dạng, bao gồm các công việc
như: - Nhận hàng từ người gửi để tổ chức việc vận chuyển; đóng gói bao bì, ghi kí mã
hiệu, chuyển hàng từ kho của người gửi tới cảng, bến tàu, bến xe và địa điểm giao
hàng khác theo thoả thuận giữa người vận chuyển với người thuê vận chuyển.
6
- Làm các thủ tục, giấy tờ cần thiết ( thủ tục hải quan, vận đơn vận chuyển, làm
thủ tục gửi giữ hàng hoá…) để gửi hàng hoá hoặc nhận hàng hoá được vận chuyển
đến
- Giao hàng hóa cho người vận chuyển; xếp hàng hoá lên phương tiện vận
chuyển theo quy định; nhận hàng hoá được vận chuyển đến
- Tổ chức nhận hàng, lưu kho, lưu bãi bảo quản hàng hoá hoặc thực hiện việc
giao hàng hoá được vận chuyển đến đến cho người có quyền nhận hàng
Thứ ba, Dịch vụ logistics là một loại hoạt động dịch vụ. thương nhân kinh
doanh dịch vụ này được khách hàng trả tiền công và các khoản chi phí hợp lý khác từ
việc cung ứng.
4/ Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp và đối với nền kinh tế
4.1/ Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp
Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở
cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi
như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh
nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của
doanh nghiệp
Logistics giúp giải quyết cả đầu vào lẫn đầu ra cho doanh nghiệp một cách hiệu
quả, tối ưu hoá quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ…logistics
giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp
đã thành công lớn nhờ có chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn. Nhưng cũng
không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại vì có những quyết định sai lầm
trong hoạt động logistics như: chọn sai vị trí, dự trữ không phù hợp, tổ chức vận
chuyển không hiệu quả… Ngoài ra logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động
Maketting. Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng
nơi cần đến, vào thời điểm thích hợp. Sản phẩm, dịch vụ chỉ có thể làm thoả mãn
khách hàng và có giá trị khi và chỉ khi nó đến được với khách hàng đúng thời hạn, địa
điểm quy định.
4.2/ Vai trò của logistics đối với nền kinh tế
Phát triển dịch vụ logistics một cách hiệu quả sẽ góp phần tăng năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế và quốc gia. Trong xu thế toàn cầu mạnh mẽ như hiện nay, sự
7
cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên gay gắt, khốc liệt hơn.
Điều này đã làm cho dịch vụ logistics trở thành một trong các lợi thế cạnh tranh của
quốc gia. Những nước kết nối tốt với mạng lưới dịch vụ logistics toàn cầu thì có thể
tiếp cận được nhiều thị trường và người tiêu dùng từ các nước trên thế giới.Chẳng hạn
như: Chi lê - một nước mặc dù ở cách xa hầu hết các thị trường lớn, nhưng lại có vai
trò rất lớn trong thị trường lương thực thế giới, cung cấp cá tươi và hoa quả khó bảo
quản cho người tiêu dùng ở Châu Á, Châu Âu và Bắc Mỹ. Đối với những nước không
có khả năng kết nối này, chi phí logistics sẽ rất cao và ngày càng gia tăng, khả năng
mất cơ hội cũng rất lớn, nhất là những nước nghèo nằm sâu trong đất liền, mà phần
lớn là ở Châu Phi.
Phát triển dịch vụ logistics sẽ đem lại nguồn lợi khổng lồ cho nền kinh tế.
logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này
có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương
mại mỗi quốc gia. Đối với những nước phát triển như Mỹ và Nhật logistics đóng góp
khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể cao hơn
30%. Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất,
kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát
triển tốt sẽ mang lại khả năng giảm được chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch
vụ.
Dịch vụ logistics ở Việt Nam chiếm khoảng từ 15-20% GDP. GDP năm 2006 ở
nước ta chiếm khoảng 57,5 tỷ USD. Như vậy, chi phí logistics chiếm khoảng 8.6-11,1
tỷ USD. Đây là một khoản tiền rất lớn. Nếu chỉ tính riêng khâu quan trọng nhất trong
logistics vận tải, chiếm từ 40-60% chi phí thì cũng đã là một thị trường dịch vụ khổng
lồ.
II/. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS
1/ Nguồn pháp luật điều chỉnh hoạt động logistics ở Việt Nam
Dịch vụ logistics được điều chỉnh bằng nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều
lĩnh vực cụ thể:
Thứ nhất, Luật thương mại 2005, từ Điều 233 đến Điều 240 và Nghị Định số
140/2007/ NĐ-CP ngày 05/9/2007 quy định chi tiết LTM về điều kiện kinh doanh
8
dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ
logistics.
Thứ hai, Các quy định pháp luật liên quan điều chỉnh dịch vụ logistics: * Các
quy định chung liên quan:
- Bộ luật dân sự 2005
- Luật doanh nghiệp 2005
- Luật đầu tư 2005
- Luật cạnh tranh 2004
- Luật Hải quan sửa đổi 2005
- Các quy định khác
* Các quy định chuyên ngành:
- Luật đường sắt 2005
- Luật giao thông đường bộ 2001
- Thể lệ vận chuyển hàng hoá bằng đường ô tô 1990
- Nghị định số 110/2006/NĐ- CP ngày 28/9/2006 về điều kiện kinh doanh vận
tải bằng ô tô
- Luật giao thông đường thuỷ nội địa 2004
- Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006
- Điều lệ vận chuyển hàng hoá quốc tế của hãng hàng không quốc gia Việt
Nam 1993
- Bộ luật hàng hải 2005
- Nghị định số 49/2006/NĐ-CP về thủ tục đăng ký tàu biển
- Nghị định số 115/2007/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển
- Pháp lệnh bưu chính và viễn thông năm 2002
- Nghị định số 157/2007/NĐ-CP ngày 18/8/2004 quy định chi tiết việc thi hành
một số điều khoản về bưu chính của pháp lệnh bưu chính và viễn thông 2002
- Thông tư số 01/2005 hướng dẫn thi hành Nghị định số 157.
2/ Nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh dịch vụ logistics ở Việt Nam
2.1/ Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics
Tại Điều 234 LTM 2005 chỉ quy định rất chung về điều kiện kinh doanh dịch
vụ logistics cụ thể: thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp kinh
9
doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật, Chính phủ quy định chi tiết điều
kiện kinh doanh dịch vụ logistics trong các văn bản hướng dẫn thi hành
Nghị định 140/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại
về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân
kinh doanh dịch vụ logistics ban hành được coi là hành lang pháp lý quan trọng để
phát triển loại hình dịch vụ này tại Việt Nam.
* Đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ logistics chủ yếu: Theo quy định
tại Điều 5 của Nghị định này, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải đáp ứng
các điều kiện sau:
“ 1. Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt
Nam
2. Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật, và có đội
ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu.
3. Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch logistics ngoài việc đáp ứng các điều kiện
quy định tại khoản 2 điều này chỉ được kinh doanh dịch vụ logistics khi tuân thủ các
điều kiện cụ thể sau đây:
a, Trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hoá thì chỉ được thành lập công ty liên
doanh, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%
b, Trường hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi thì thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ
lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, hạn chế này chấm dứt vào năm
2014;
c, trường hợp kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải thì được thành lập công ty liên doanh,
trong đó tỷ lện góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, được thành lập
công ty liên doanh không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài kể từ năm
2014;
d, Trường hợp kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác thì được thành lập công ty liên doanh,
trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51%
kể từ năm 2010 và chấm dứt hạn chế vào năm 2014.”
Trước hết, cần khẳng định thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải là
doanh nghiệp đáp ứng được các điều kiện của Luật doanh nghiệp và Luật doanh
nghiệp Nhà nước, cũng như các văn bản hướng dẫn của các luật này. Theo khoản 1
10
Điều 4 Luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp: “ là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài
sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy, thương nhân kinh
doanh dịch vụ logistics có thể tốn tại dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân… và tồn tại dưới hình thức
nào thì phải đáp ứng điều kiện pháp luật về hình thức ấy. Tuy nhiên, không phải mọi
doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện của Luật doanh nghiệp hoặc Luật doanh nghiệp
nhà nước đều có thể kinh doanh dịch vụ logistics, mà còn phải đáp ứng các điều kiện
riêng biệt khác của loại hình dịch vụ này cụ thể: Doanh nghiệp muốn kinh doanh dịch
vụ logistics thì phải có đăng ký kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh về dịch vụ logistics. Đây được coi là một điều kiện rất quan trọng, là cơ sở để
phân biệt giữa thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics với những thương nhân kinh
doanh dịch vụ đơn lẻ thuộc các công đoạn của hoạt động logistics như dịch vụ vận tải,
giao nhận, khai thuế hải quan…Bên cạnh đó thì còn phải đáp ứng điều kiện “ có đủ
phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân
viên đáp ứng nhu cầu”, điều đó có nghĩa là bên cạnh điều kiện “ cần” còn phải có điều
kiện “đủ”. Các phương tiện, thiết bị, công cụ ở đây có thể là xe nâng hạ hàng hoá, dây
chuyền, băng tải, phương tiện đóng gói mã hoá hàng hoá…đặc biệt là phải có đội ngũ
nhân viên được đào tạo đáp ứng nhu cầu công việc. Có nghĩa là đội ngũ này phải đáp
ứng các yêu cầu, trình độ, năng lực, chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức hiểu biết
pháp luật trong nước cũng như pháp luật quốc tế. Ví dụ, đối với thương nhân kinh
doanh dịch vụ đại lý vận tải, thì phải thông thuộc mạng lưới giao thông vận tải để có
thể tính toán lựa chọn phương án tối ưu theo yêu cầu của chủ hàng, giải quyết việc
tiếp chuyển giữa các phương tiện vận tải và các chứng từ hàng hoá liên quan đến quá
trình vận chuyển, ngoài ra cũng phải hiểu biết pháp luật Việt Nam và vận dụng có
hiệu quả cũng như các tập quán thương mại quốc tế trong công việc.
Đối với thương nhân nước ngoài khi tham gia kinh doanh dịch vụ logistics
ở Việt Nam, bên cạnh phải đáp ứng được các điều kiện chung giống như thương nhân
Việt Nam được quy định tại khoản 1, 2 Điều 5 của Nghị định số 140/2007 thì còn phải
đáp ứng thêm các điều kiện khác về hình thức tồn tại, tỷ lệ góp vốn và tuân thủ các
cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường kinh doanh dịch vụ logistics khi gia nhập
11
WTO. Theo khoản 3 Điều 5 Nghị định số 140/2007, về hình thức tồn tại thì thương
nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam chỉ được thành lập công ty
liên doanh với tỷ lệ vốn góp trong mỗi công đoạn của hoạt động logistics là khác
nhau, cụ thể: Đối với trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hoá tỷ lệ vốn góp
của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%; đối với trường hợp kinh doanh dịch vụ
kho bãi tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, hạn chế này chấm
dứt vào năm 2014; trường hợp kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải tỷ lệ vốn góp của nhà
đầu tư nước ngoài không quá 51% không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước
ngoài kể từ năm 2014; trường hợp kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác thì tỷ lệ vốn góp
không quá 49%, hạn chế này là 51% kể từ năm 2010 và chấm dứt hạn chế vào năm
2014.
* Đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải: Theo
Điều 6 Nghị định số 140/2007 thì thương nhân kinh doanh dịch vụ này cũng phải đáp
ứng được các điều kiện chung giống như các thương nhân kinh doanh dịch vụ
logistics chủ yếu: “ là thương nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
Việt Nam” ( Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 140), điều kiện thứ hai có sự khác nhau do
liên quan đến lĩnh vực khác nhau, đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
này thì ngoài yêu cầu trên, còn phải: “ Tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải
theo quy định của pháp luật Việt Nam” ( Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 140). Điều đó
có nghĩa là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải đường biển
thì sẽ phải tuân thủ các quy định của Bộ luật hàng hải và các văn bản có liên quan như
Nghị định số 115/2007/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển…, hay
thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải hàng không thì phải
tuân thủ các quy định của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, điều lệ vận chuyển
hàng hoá quốc tế của hãng hàng không quốc gia Việt Nam và các văn bản hướng dẫn
Luật Hàng khôn dân dụng…
Đối với thương nhân nước ngoài khi kinh doanh dịch vụ logistics liên quan
đến vận tải tại Việt Nam thì bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện chung như trên còn
phải đáp ứng thêm các điều kiện riêng khác được quy định ở khoản 3 Điều 6 Nghị
định số 140/2007 cụ thể:
12
_ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải thì chỉ được thành lập công
ty liên doanh vận hành đội tàu từ năm 2009, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư
nước ngoài không quá 49%; được thành lập liên doanh cung cấp dịch vụ vận tải biển
quốc tế trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, hạn chế này
chấm dứt vào năm 2012;
_ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải thuỷ nội địa thì chỉ được thành lập
công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%
_ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thì thực hiện theo quy
định của Luật hàng không dân dụng Việt Nam;
_ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt thì chỉ được thành lập công
ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%
_ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ thì được thành lập công ty
liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế
này là 51% kể từ năm 2010;
_ Không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống, trừ trường hợp điều ước
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
* Đối với các thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics liên quan khác: theo quy
định tại Điều 7 của Nghị định số 140/2007 các thương nhân này cũng phải đáp ứng
được các điều kiện chung giống như thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chủ
yếu đó là phải “ Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt
Nam” ( khoản 1 Điều 7 Nghị định số 140/2007)
Đối với thương nhân nước ngoài khi kinh doanh dịch vụ logistics này thì
ngoài điều kiện chung đó còn phải đáp ứng được những điều kiện cụ thể quy định ở
khoản 2 Điều 7 Nghi định số 140/2007 đó là:
_ Trường hợp kinh doanh dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật: Đối với những
dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ thì chỉ được thực hiện
dưới hình thức liên doanh sau ba năm hoặc dưới các hình thức khác sau năm năm, kể
từ khi doanh nghiệp được phép kinh doanh các dịch vụ đó.
Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các
phương tiện vận tải. Việc thực hiện dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật bị hạn chế
13
hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an
ninh quốc phòng.
_ Trường hợp kinh doanh dịch vụ bưu chính, dịch vụ thương mại bán buôn,
dịch vụ thương mại bán lẻ thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ.
_ Không được thực hiện các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác, trừ trường hợp điều
ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Như vậy để có thể là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics các thương nhân
phải đáp ứng rất nhiều điều kiện, và ở loại hình dịch vụ nào thì các thương nhân ngoài
việc phải đáp ứng các yêu cầu chung còn phải đáp ứng các điều kiện riêng của dịch vụ
ấy theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
2.2/ Quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ dịch vụ logistics
2.2.1/ Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là một nội
dung cơ bản của quy định pháp luật về dịch vụ logistics. Quyền và nghĩa vụ này được
nằm rải rác trong các quy định của hệ thống pháp luật chung và các quy định của hệ
thống pháp luật chuyên ngành điều chỉnh dịch vụ này. Theo quy định tại Điều 235
LTM 2005 thì các chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics có quyền thoả thuận với nhau
về quyền và nghĩa vụ. Tức là pháp luật bao giờ cũng ưu tiên sự thoả thuận cho các chủ
thể lên hàng đầu. Trong trường hợp các chủ thể không thoả thuận được thì theo quy
định họ có các quyền và nghĩa vụ tại Điều 235. Cụ thể:
* Quyền được hưởng thù lao và chi phí hợp lý khác từ việc thực hiện dịch vụ.
Mức thù lao dịch vụ do các bên thoả thuận và ghi trong hợp đồng. Mức thù lao
này có thể đựoc xác định theo số tiền tuyệt đối hoặc theo tỷ lệ trên giá trị hàng hoá.
Mức thù lao do các bên thoả thuận và phụ thuộc vào nội dung, mức độ phức tạp của
công việc giao nhận hàng hoá mà khách hàng uỷ thác cho người làm dịch vụ giao
nhận hàng hoá thực hiện.
Ngoài tiền thù lao, người làm dịch vụ logistics có thể yêu cầu khách hàng thanh
toán các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc thực hiện dịch vụ nếu điều này được
các bên thoả thuận trong hợp đồng
Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán tiền thù lao và các khoản chi phí hợp lý khác,
người làm dịch vụ logistics có quyền cầm giữ và định đoạt hàng hoá. Theo Điều 239
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét