Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 9

GPKH: Rèn luyện kó năng viết bài nghò luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9
chú trọng khái qt nội dung kiến thức tạo thuận lợi để học sinh lĩnh hội và phát triển
các thao tác tư duy khoa học. Tăng cường và sử dụng hợp lý các phương tiện trong dạy
học, “nâng cao chất lượng hoạt thực hành hướng tới đảm bảo sự phát triển năng lực
cho mỗi cá nhân” ( Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy SGK lớp 9 -Vụ giáo dục trung
học trang 6,7). Lớp 9 là lớp cuối của vòng II, đồng thời cũng là lớp cuối cùng của cấp
THCS nên có một vị trí hết sức quan trọng : vừa phải tổng kết được những kiến thức,
kĩ năng được học tập, rèn luyện trong bốn năm học, vừa phải chuẩn bị cho các kì thi,
tạo tâm thế, tiềm lực cho học sinh học lên THPT hoặc đi vào cuộc sống.
Nghị luận nói chung, nghị luận về tác phẩm văn học nói riêng có vị trí rất quan
trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 9. Thơng qua việc đọc và học tác phẩm văn
học, học sinh chẳng những đã có một vốn khá phong phú về kiến thức văn học ( tác
phẩm, thể loại…) mà còn được nâng cao dần về năng lực cảm thụ , phân tích, bình giá,
tác phẩm… Đó là một thuận lợi. Nhưng mặt khác, cũng cần nắm vững u cầu và mức
độ cần đạt của kiểu bài nghị luận về tác phẩm trong chương trình.
Tập làm văn 9 khơng đồng nhất u cầu và mức độ phân tích tác phẩm trong
chương trình văn học và khi làm bài tập làm văn.
Tác phẩm văn học bao giờ cũng là một tổng thể hồn chỉnh giữa nội dung và
phương thức biểu đạt, tức là nghệ thuật. Nghị luận về tác phẩm là trình bày những
nhận xét, đánh giá của mình về giá trị nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể.
Những nhận xét, đánh giá ấy phải xuất phát từ ý nghĩa ( cốt truyện, nhân vật, cảm
xúc…) và nét đặc sắc về nghệ thuật ( xây dựng tình huống, nhân vật, từ ngữ, hình
ảnh…) của tác phẩm mà người viết phát hiện và khái qt. Bài nghị luận về tác phẩm
phải có bố cục chặt chẽ, mạch lạc, lập luận thuyết phục, lời văn chuẩn xác, gợi cảm.
Như vậy, để làm tốt bài nghị luận về tác phẩm, giáo viên cần cho học sinh hiểu rõ tính
chất tổng hợp của kiểu bài này
Giáo sư Lê Trí Viễn cũng có lời nhắn nhủ: “ Dạy văn lấy cảm làm đầu”. Người
GV dạy HS làm bài văn nghị luận về tác phẩm khơng thể nghèo nàn cảm xúc. Cho nên
hướng gợi ý HS trình bày những cảm nhận, đánh giá tác phẩm phải xuất phát từ những
rung cảm thẩm mĩ chân thật. Đồng thời phải biết kết hợp linh hoạt nhiều phép lập luận
( giải thích, chứng minh, phân tích…), phát huy tính tích cực, sáng tạo của cá nhân,
khơng gò ép theo khn mẫu. Vì vậy, nếu ai đó tự cho rằng mình đã gợi đầy đủ các ý
tưởng của tác phẩm qua từng trang truyện, từng dòng thơ thì chưa hẳn là một GV dạy
tốt, nắm chắc phương pháp hướng dẫn HS cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm.
Năm 2008, Bộ Giáo dục tiếp tục triển khai cho giáo viên trên tồn quốc một số
vấn đề đổi mới phương pháp dạy học mơn Ngữ văn, trong đó phương pháp giảng dạy
phân mơn Tập làm văn được chú trọng nhiều nhất cũng đã mở ra nhiều hướng suy
nghĩ mới, giúp cho giáo viên giảng dạy tốt hơn nếu biết tự nghiên cứu và vận dụng
sáng tạo hơn.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
a. Thực tiễn của vấn đề nghiên cứu:
- Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học mơn Ngữ văn 9 nói chung, phân mơn
Tập làm văn nói riêng đã dược quan tâm rất nhiều. Với sự chỉ đạo của các cấp quản lí
Người thực hiện: Trần Thò Kim Sa
5
GPKH: Rèn luyện kó năng viết bài nghò luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9
chun mơn, về cơ bản đại đa số giáo viên đã nắm được phương pháp, vận dụng sáng
tạo theo tình hình địa phương và theo đối tượng học sinh. Tuy nhiên thực tế vẫn còn
nhiều giáo viên thực hiện chưa đúng chức năng, làm chưa tròn nhiệm vụ của mình,
chưa tích cực nghiên cứu, chưa tìm ra phương pháp giảng dạy đạt hiệu quả cao, dẫn
đến chất lượng học tập của học sinh chưa được nâng lên, nhất là chất lượng bài viết
văn nghị luận văn học. Kết quả các bài kiểm tra và thi học kì đạt rất thấp, chất lượng
bài làm của học sinh giỏi chưa thật xuất sắc.
- Đi sâu vào tìm hiểu thực trạng chúng ta có thể thấy được sự hạn chế trong
phương pháp giảng dạy của giáo viên lẫn phương pháp tự học, tự nghiên cứu của của
học sinh:
+ Về phía giáo viên:
- Giáo viên chưa đảm bảo kết hợp và tích hợp giữa dạy Văn - Tiếng Việt và Tập
làm văn
- Giờ học văn bản, sự gợi mở giúp học sinh cảm thụ tác phẩm chưa đạt kết quả cao.
Học sinh thụ động buộc giáo viên giảng nhiều, làm việc nhiều, làm thay cho trò, do đó
làm tê liệt sự hào hứng học văn bản của học sinh, các em khơng nắm hoặc khơng có
kiến thức văn chương dẫn đến thiếu vốn kiến thức khi làm bài tập làm văn.
- Giờ tiếng Việt đòi hỏi giáo viên dạy cho học sinh dùng tiếng Việt một cách chính
xác để giao tiếp, để cảm thụ vẻ đẹp ngơn từ và có cách diễn đạt tốt trong văn bản,
nhưng giáo viên chưa vận dụng tối đa các tình huống giao tiếp, cho học sinh thực hành
ít nên nhiều em viết sai chính tả, dùng từ đặt câu chưa đúng ngữ nghĩa, ngữ pháp. Đây
là những kiến thức quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng bài văn.
- Giờ tập làm văn học sinh chưa được học đến nơi đến chốn. Giáo viên chưa có
cách giúp học sinh hiểu rõ kiến thức SGK bằng những ví dụ mẫu linh hoạt sáng tạo, có
tác dụng khắc sâu kiến thức vì thực tế SGK vẫn còn một số bài trừu tượng, khó hiểu
đối với học sinh. Giáo viên chưa chú ý đúng mức đến việc phát huy tinh thần tích cực
chủ động của học sinh trước một bài lý thuyết văn nghị luận tác phẩm văn học, cung
cấp kiến thức cơ bản về kiểu bài trước khi tạo lập văn bản hoặc bài thực hành luyện
tập, luyện nói, nhiều học sinh nêu lên những vấn đề rất hay song giáo viên đã bỏ lỡ cơ
hội để biểu dương. Khi phát động trao đổi tranh luận, có học sinh nêu những ý kiến
sai, giáo viên chưa đưa ra “lực nắn” cần thiết, vì thế khả năng tư duy của học sinh
khơng được phát huy.
- Giáo viên ít nghiên cứu sách giáo viên và tham khảo thiết kế, các tài liệu bồi
dưỡng có liên quan nên chưa có định hướng tốt nhất khi quyết định sử dụng phương
pháp giảng dạy phù hợp cho từng bài thuộc các kiểu bài nghị luận văn học.
- Việc xác định các phương pháp dạy tập làm văn cũng chưa chính xác. Có giáo
viên chọn phương pháp bình giảng trong tiết cung cấp kiến thức về kiểu bài, chưa vận
dụng các phương pháp thực hành trong giờ luyện tập …
- Giáo viên chưa nghiên cứu để tìm ra nét khác biệt cơ bản giữa nghị luận tác phẩm
truyện ( hoặc đoạn trích ) với nghị luận về đoạn thơ, bài thơ để từ đó hình thành kiến
thức cho học sinh khi làm một bài cụ thể theo thể loại.
Người thực hiện: Trần Thò Kim Sa
6
GPKH: Rèn luyện kó năng viết bài nghò luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9
- Giáo viên chưa nghiên cứu kĩ mục đích u cầu cần đạt, kĩ năng cần rèn luyện
trong từng bài mà người biên soạn đưa vào trong SGK từ bài hình thành lý thuyết mới
đến luyện tập thực hành hồn chỉnh kiểu bài. Việc bố trí thời lượng cho tiết dạy chưa
hợp lý, chưa dành nhiều thời gian cho thực hành, giáo viên khó có thể rèn luyện kĩ
năng cho học sinh.
- Việc ra đề kiểm tra, đề thi của giáo viên hiện nay cũng còn nhiều điều cần bàn.
Một số giáo viên khơng nghiên cứu kĩ chương trình, khơng xây dựng được ma trận đề,
khơng nắm chắc u cầu của từng kiểu văn bản sẽ dẫn đến ra đề khơng chuẩn mực,
khơng đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng, tính thực tế. Đề bài khơng có tác dụng
gợi tư duy sáng tạo khi cảm thụ văn học của học sinh.
- Việc chấm bài cũng có nhiều thiếu sót. Thường là giáo viên chỉ cho học sinh biết
điểm, có bài chấm khơng có lời phê nào hoặc phê bài còn dễ dãi, chưa cẩn thận, chưa
cụ thể. Đa số giáo viên phê bài rất chung chung, nhận xét khái qt. Nhiều lời phê,
nhận xét bên lề bài viết chưa giúp học sinh thấy được cụ thể lỗi sai của mình mà sửa.
Các em khơng rõ lý do tại sao, vì lẽ gì mà đoạn văn, câu văn của mình bị phê là “lủng
củng”, “câu q”, “tối nghĩa”, “chung chung”, cũng khơng hiểu có khi chỗ này “dùng
từ” là nghĩa làm sao ( sai hay đúng ? Nếu sai thì sai thế nào?), chỗ kia “diễn đạt” là
trục trặc hay trơi chảy, chỗ nọ một từ gạch chân là hay hay dở? Như thế rất khó giúp
học sinh hiểu rõ mà tự sửa được, rút kinh nghiệm được.
- Những giờ trả bài tiến hành khơng thống nhất theo chun đề mà ngành chun
mơn đã triển khai. Đa số giáo viên thực hiện khơng mấy cơng phu . Giáo án trả bài của
giáo viên thường soạn qua qt, khơng ghi rõ những lỗi cần phải sửa trên lớp, hoặc có
thì cũng khơng ghi rõ cách sửa; lỗi nhặt từ bài làm của học sinh khơng tiêu biểu khó có
thể rèn luyện những kĩ năng cần thiết nhất định. Có giáo viên trả bài rồi mới nhận xét
ưu khuyết điểm, rồi hướng dẫn học sinh sửa chữa.
+ Về phía học sinh:
- Chưa coi trọng bộ mơn so với các mơn khoa học tự nhiên nên chưa đầu tư, chưa
có thái độ học tập đúng đắn; chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chưa
chịu khó tìm hiểu thêm để mở rộng kiến thức.
- Học sinh học tập làm văn một cách máy móc. Trước một đề bài các em ít nghiên
cứu, đọc lống thống, phóng bút viết tràng giang đại hải, khơng chốt lại được ở một
điểm nào mà đề bài u cầu.
- Nhiều bài văn chưa đạt u cầu do chưa biết cách viện dẫn, dẫn chứng nghèo nàn,
thiếu chính xác và khơng theo trình tự.
- Học văn nghị luận văn học mà chưa biết cách phân biệt thể loại, kiểu bài.
- Thiếu năng lực phân tích cần thiết, chưa thấy được cái hay, cái đẹp có thật trong
văn chương do khơng chú ý trong giờ đọc- hiểu văn bản. Vì vậy làm văn phân tích chỉ
là sự suy diễn một cách nơm na, thiếu chính xác, khơng sâu sắc.
- Về ngữ pháp, các em viết câu khơng hồn chỉnh, trong bài viết có nhiều câu q,
câu cụt, câu tối nghĩa. Tình trạng mắc lỗi chính tả, ngữ pháp, dùng từ sai là phổ biến.
Có bài viết từ đầu đến cuối các em khơng sử dụng dấu câu nào hoặc sử dụng khơng
đúng.
Người thực hiện: Trần Thò Kim Sa
7
GPKH: Rèn luyện kó năng viết bài nghò luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9
* Những hạn chế chủ yếu khi học sinh viết bài nghị luận văn học:
- Cảm thụ tác phẩm, đoạn thơ, bài thơ chưa sâu sắc do chưa chịu khó đọc tác phẩm,
chưa thuộc thơ, chưa nắm vững nội dung, nghệ thuật, cái hay, cái độc đáo của tác
phẩm truyện hoặc đoạn trích, chưa nắm cảm xúc, tình cảm của tác giả trong tác phẩm
thơ trữ tình, chưa biết cách tiếp cận tác phẩm theo thể loại, chưa có cách cảm thụ
riêng…
- Chưa nắm chi tiết, thậm chí khái qt u cầu khi tạo lập văn bản nghị luận cho cả
hai loại nghị luận về tác phẩm truyện và nghị luận về đoạn thơ, bài thơ. Do đó khi tạo
lập văn bản các em thường mắc các khuyết điểm sau:
+ Phân tích đề chưa đúng, tìm khơng ra ý để viết nên phải kể lòng vòng câu
chuyện hoặc diễn xi bài thơ, đoạn thơ.
+ Thực hiện nhiệm vụ từng phần trong bố cục ba phần của văn nghị luận chưa
đầy đủ. Ví dụ khi viết phần mở bài, u cầu là giới thiệu khái qt tác giả, tác phẩm,
hồn cảnh sáng tác và bước đàu nêu đánh giá sơ bộ của mình về nội dung và nghệ
thuật của tác phẩm nhưng có học sinh giới thiệu khơng sót một chi tiết nào về tác giả
(theo chú thích SGK) và đa số chưa rút ra được khái qt giá trị của tác phẩm để làm
tiền đề cho lập luận tổng - phân - hợp của cả bài viết. Khi gặp đề bài phát biểu cảm
nghĩ về nhân vật và nội dung vấn đề của tác phẩm như “Em hãy nêu cảm xúc và suy
nghĩ của mình về nhân vật bé Thu và tình cảm cha con trong chiến tranh sau khi học
xong truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng”, học sinh chưa biết giới
thiệu cảm xúc suy nghĩ chung ở phần mở bài, triển khai làm rõ ở phần thân bài, khẳng
định ở phần kết bài.
+ Việc triển khai bài viết ở phần thân bài bằng cách nêu các luận điểm và làm rõ
luận điểm bằng các luận cứ cũng khơng thực hiện được. Đây là hạn chế phổ biến nhất
của học sinh. Thường các em khơng xây dựng được luận điểm hoặc sắp xếp tùy tiện
khơng hợp lý, chặt chẽ, trình bày luận cứ dài dòng, lộn xộn, khơng tiêu biểu, chính
xác, thậm chí chưa nắm rõ ngun tắc nghị luận tác phẩm thơ và tác phẩm truyện. Cảm
thụ về tác phẩm hay nhân vật của các em chưa phong phú, chưa sâu sắc, các em chưa
mạnh dạn nêu cảm thụ riêng của bản thân trong q trình nghị luận.
+ Cách lập luận trong phần thân bài chưa chặt chẽ.
+ Phần thân bài chưa giải quyết được hoặc giải quyết chưa hết nhiệm vụ đặt ra ở
phần mở bài. Đơi khi học sinh làm sai thể loại, lạc đề.
+ Phần kết bài các em chưa biết cách nêu nhận định, đánh giá chung về tác phẩm
hoặc khái qt hóa giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ, do đó cũng chưa mở ra được
hướng suy nghĩ mới sau khi nghị luận.
+ Kĩ năng dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, viết sai chính tả, ngữ pháp, lối diễn đạt,
cách hành văn, phương thức biểu đạt và sự kết hợp các phương thức biểu đạt còn hạn
chế.
b. Sự cần thiết của đề tài :
Đề tài có tác dụng giúp giáo viên Ngữ văn đối chiếu giữa lý luận với thực tế chất
lượng bộ mơn mình giảng dạy, đặc biệt là chất lượng nghị luận văn học của học sinh
Người thực hiện: Trần Thò Kim Sa
8
GPKH: Rèn luyện kó năng viết bài nghò luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9
lớp mình phụ trách, vận dụng những giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng, giải
quyết một phần tình hình học sinh học yếu kém bộ mơn Ngữ văn như hiện nay.
3. NỘI DUNG VẤN ĐỀ:
a. Đặt vấn đề:
- u cầu chủ yếu của tập làm văn nghị luận văn học là củng cố tri thức và kĩ năng
đã được học ở tiết đọc hiểu văn bản và tiếng Việt. Sách giáo khoa coi phần tập làm văn
là sự tổng hợp của ngơn ngữ và văn (tích hợp ngang) và ngun tắc ơn cũ - hiểu mới
(tích hợp đồng tâm), đảm bảo truyền thụ tri thức có hệ thống khoa học (tích hợp dọc).
- Khi làm bài tập làm văn, học sinh phải huy động tổng hợp kiến thức tiếng Việt để
viết đúng chính tả, câu đúng ngữ pháp, phù hợp với phong cách văn bản nhằm đạt
được u cầu của đề bài và để có một bài văn hồn chỉnh, phần văn bản giúp học sinh
có kiến thức để trình bày vốn hiểu biết của mình. Bên cạnh đó, việc nắm vững phương
pháp làm văn là u cầu khơng thể thiếu được.
Như vậy Tập làm văn nói chung, nghị luận văn học nói riêng là mơn học mang tính
thực hành tồn diện tổng hợp và sáng tạo, có vị trí đặc biệt trong chương trình ngữ
văn. Vì thế giáo viên phải dạy tốt, học sinh phải học tốt ở tất cả các phân mơn Tập
làm văn, Văn học, Tiếng Việt để chuẩn bị tốt cho việc thực hành tổng hợp này.
b. Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận văn học cho học sinh
lớp 9:
* Đối với bản thân giáo viên:
- Giáo viên cần thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa
các hoạt động nhận thức của học sinh. Tăng cường tổ chức các hoạt động cho các em,
chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp học và tự học một cách chủ động, tăng
cường hoạt động cá nhân với nhóm, làm cho các em tự đánh giá được năng lực và kết
quả làm văn của mình.
- Nắm chắc các phương pháp giảng dạy nhằm tích cực hóa các hoạt động của người
học. Các bước lên lớp cần linh động. Cần chú ý đến hoạt động giao tiếp. Đây là một
biện pháp quan trọng nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh trong việc tạo
lập văn bản, phát huy vai trò chủ thể của học sinh một cách thực sự.
- Phân bố cân đối thời gian giữa dạy lý thuyết và thực hành, quan tâm nhiều đến các
thao tác rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Học sinh là chủ thể làm chủ mọi thao
tác dưới sự hướng dẫn của giáo viên, tránh áp đặt làm giảm khả năng suy nghĩ, sáng
tạo của các em.
- Để rèn luyện tốt kĩ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh, việc hướng dẫn
tìm hiểu lý thuyết là rất quan trọng. Trước hết giáo viên cần cho học sinh nắm lại
những kiến thức đã học ở vòng I, sau đó mới hình thành kĩ năng về văn học, tiếng
Việt, làm văn theo u cầu của tồn cấp THCS. GV cần cho học sinh ơn lại thế nào là
văn nghị luận, các kiểu nghị luận và khẳng định điều quan trọng nhất của văn bản nghị
luận là luận điểm, luận cứ và lập luận. Giáo viên rèn kĩ năng hình thành luận điểm, sắp
xếp luận cứ làm rõ luận điểm, lập luận chặt chẽ cho bài viết. Kĩ năng này hiện nay học
sinh rất yếu. Ngồi ra, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng các thao
tác nghị luận: giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích sao cho nhuần nhuyễn.
Người thực hiện: Trần Thò Kim Sa
9
GPKH: Rèn luyện kó năng viết bài nghò luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9
Trình tự dạy nghị luận văn học tiến hành như sau: tìm hiểu chung, cách làm bài, thực
hành nói, thực hành viết. Giáo viên chú trọng rèn kĩ năng cho học sinh qua từng bài cụ
thể.
+ Đối với bài Tìm hiểu bài nghị luận về tác phẩm (truyện hoặc đoạn trích, bài thơ
hoặc đoạn thơ) chủ yếu là cho học sinh hiểu thế nào là nghị luận về tác phẩm, nắm u
cầu đối với bài nghị luận kiểu này, rèn kĩ năng tìm vấn đề nghị luận và cách nghị luận
của tác giả.
+ Đối với bài học Cách làm bài nghị luận về tác phẩm (truyện hoặc đoạn trích, bài
thơ hoặc đoạn thơ): Đây là tiết học quan trọng giúp học sinh biết cách làm bài nghị
luận về tác phẩm văn học cho đúng với những u cầu đã học ở tiết trước, đồng thời
rèn luyện kĩ năng thực hiện các bước khi làm kiểu bài nghị luận này, cách tổ chức,
triển khai các luận điểm. Giáo viên cần đặt trọng tâm vào việc hướng dẫn các bước
làm bài trên cơ sờ phân tích mẫu, để HS vận dụng vào thực hành luyện tập, cụ thể là:
 Hướng dẫn tìm hiểu đề:
Đề bài văn nghị luận khơng bao giờ đồng nhất một dạng đề đơn điệu. Chủ yếu ở
lớp 9 thường gặp 3 dạng đề cơ bản sau:
- Dạng đề 1: Suy nghĩ , cảm nhận về nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh
của nhân vật, tác phẩm (đoạn trích).Ví dụ:
+ Suy nghĩ về nhân vật ơng Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân.
(SGK Ngữ văn 9 trang 65)
+ Cảm nhận và suy nghĩ của em về tình cảm cha con trong bài thơ “Nói
với con” của Y Phương.(SGK Ngữ văn 9 trang 80)
- Dạng đề 2: Phân tích đặc điểm nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh về
nhân vật, tác phẩm (đoạn trích). Ví dụ:
+ Phân tích diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân.
(SGk Ngữ văn 9 trang 65)
+ Phân tích khổ thơ đầu trong bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh. (SGK Ngữ
văn 9 trang 80)
- Dạng đề 3: Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề. Ví
dụ:
+ Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ
Nương trong truyện Người con gái Nam Xương .(SGK ngữ văn 9 trang 65)
+ Cảm nhận về hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống
Mỹ qua bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính” của Phạm Tiến Duật.
GV cần giúp HS phân biệt rõ u cầu của từng dạng đề: Suy nghĩ về nhân vật,
tác phẩm hoặc một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm là nghiên về cảm nhận chủ quan
của người viết về nhân vật, tác phẩm hay một khía cạnh nào đó về nhân vật, tác phẩm (
khơng nhất thiết phải phân tích đầy đủ từng đặc điểm của nhân vật hoặc đầy đủ giá trị
nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, có thể chọn những gì mình cảm nhận sâu sắc
nhất mà thơi); còn u cầu của dạng đề 2 (phân tích nhân vật, tác phẩm…) là u cầu
người viết tìm hiểu, đánh giá và nhận xét đầy đủ từng đặc điểm nhân vật, từng giá trị
nội dung, nghệ thuật của tác phẩm; đối với dạng đề 3 (phân tích để nêu ra nhận xét
Người thực hiện: Trần Thò Kim Sa
10
GPKH: Rèn luyện kó năng viết bài nghò luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9
hoặc làm sáng tỏ một vấn đề ), GV phải biết tích hợp các kiến thức tập làm văn ở lớp
dưới để nâng cao u cầu giải quyết đề bài văn dạng này, HS khơng phải đơn thuần tập
trung phân tích những biểu hiện cụ thể của vấn đề mà còn phải trình bày những cảm
nhận của mình, gợi cảm xúc cho người đọc, liên hệ thực tế hiện nay…
Từ việc phân tích ba dạng đề trên, giúp HS nhận thức tầm quan trọng của việc
phân tích, tìm hiểu đề và biết vận dụng thành thạo, linh hoạt để hình thành những thao
tác và kĩ năng phân tích đề chính xác, làm cơ sở cho việc tìm ý.
 Hướng dẫn tìm ý:
Một bài nghị luận tác phẩm văn học hay trước hết phải có ý hay. Vậy ý hay là gì?
Thế nào là ý hay? Làm thế nào để tìm ra được những ý hay cho bài.
Tác phẩm văn học là tấm gương phản ánh hiện thực của cuộc sống mn màu
mn vẻ thơng qua những hình tượng nhân vật, những tâm trạng, cảm xúc của chủ thể
trữ tình trong tình huống, hồn cảnh có vấn đề mấu chốt, cụ thể, tiêu biểu… Vì thế,
muốn tìm được ý đúng, ý hay, ý sâu sắc, GV phải hướng cho HS đọc và tìm hiểu tác
phẩm để nắm cốt truyện, chủ đề, tình cảm, các chi tiết, hình ảnh tiêu biểu…, khái qt
được những điểm đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Sau khi đọc kĩ tác phẩm, khám phá ra được cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc trong
từng yếu tố nội dung, nghệ thuật, HS tự đặt ra và trả lời những câu hỏi để có những ý
lớn, ý nhỏ… của bài văn.
Dưới đây là các dạng câu hỏi gợi ý, giúp học sinh tìm ý:
(?) Câu hỏi tìm hiểu tác giả, xuất xứ, hồn cảnh sáng tác:
?- Tác giả của tác phẩm sẽ nghị luận là ai? Có những nét gì nổi bật trong cuộc đời
và sự nghiệp sáng tác? Sống trong thời kì nào? Có nét riêng, nét độc đáo gì về phong
cách cá nhân? (Chun sáng tác về mảng đề tài nào? Sự nghiệp sáng tác ra sao?)
?- Tác phẩm trên được trích từ đâu? Được sáng tác trong hồn cảnh nào? Tác phẩm
được đánh giá như thế nào? Có phải là tác phẩm tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác văn
chương của tác giả khơng?…
(?) Câu hỏi tìm hiểu giá trị nội dung:
?- Đề bài gồm mấy ý? Ý nghĩa cụ thể, ý nghĩa khái qt là gì? Những ý nào tập
trung biểu hiện chủ đề, tư tưởng, tình cảm của tác phẩm? Nội dung có thể hiện những
vấn đề lớn, bức xúc mà xã hội quan tâm hoặc những tình cảm phổ biến, tiêu biểu của
đời sống con người hay khơng? Có giá trị nhân văn như thế nào?
?- Nhân vật chính của truyện là ai? Đại diện cho từng lớp con người nào trong xã
hội? Có những nét tính cách nào? Nét tính cách nào là tiêu biểu nhất? Nét tính cách đó
được thể hiện qua những chi tiết nào? (diện mạo, cử chỉ, lời nói, hành động, tưởng tình
cảm, nội tâm,…). Cảm xúc chủ yếu trong từng đoạn, khổ thơ là gì? Cảm xúc ấy được
biểu hiện như thế nào? Qua những từ ngữ, hình ảnh nào?…
(?) Câu hỏi tìm hiểu giá trị nghệ thuật:
?- Tác phẩm được viết theo phong cách nào? Có nét gì sáng tạo riêng, độc đáo
trong nghệ thuật (tạo tình huống, bố cục, xây dựng nhân vật, ngơn ngữ, thể loại thơ,
hình ảnh tu từ…)
Người thực hiện: Trần Thò Kim Sa
11
GPKH: Rèn luyện kó năng viết bài nghò luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9
? Tác phẩm trên có tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả khơng? Có thể
hiện được bản lĩnh sáng tạo của một nhà thơ, nhà văn đầy tài năng, tâm huyết của một
thời đại, một trào lưu văn học khơng?
(?) Câu hỏi gợi mở những hướng xem xét mới:
?- Có thể so sánh, đối chiếu với những tác giả, tác phẩm nào để phân tích tác
phẩm được sâu rộng, tồn diện hơn?
?- Tác phẩm có ảnh hưởng gì trong thời đại tác giả đang sống và đối với các thời
đại sau này? Tại sao tác phẩm được mọi người u thích?
Với ngần ấy câu hỏi, giáo viên khơng thể nào giảng giải một cách cặn kẽ, tỉ mỉ trong
q trình phân tích một đề bài trên lớp. Do đó đòi hỏi người giáo viên phải biết lựa
chọn những câu hỏi tìm ý cho phù hợp, có tác dụng khơi nguồn cảm xúc cho học sinh,
tạo niềm u thích, sự hứng thú, tích cực tư duy làm bài, để bài nghị luận của các em
được sâu sắc, tinh tế và chân thật.
 Hướng dẫn lập dàn ý:
Lập dàn ý là sắp xếp các ý đã tìm được ở bước tìm ý theo một trình tự hợp lý và xác
định mức độ trình bày mỗi ý theo tỉ lệ thỏa đáng giữa các ý. Có thể hướng dẫn học
sinh sắp xếp các ý theo trình tự nội dung, nghệ thuật, rồi đến nhận xét, đánh giá, suy
nghĩ của bản thân (thường dành cho phân tích tác phẩm truyện). Có thể sắp xếp đan
xen giữa nội dung, nghệ thuật và nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân (phổ biến
trong phân tích thơ). Dàn bài chung của bài văn nghị luận về tác phẩm thường theo
trình tự sau:

1.Mở bài :Giới thiệu tác phẩm hay đoạn trích (tùy theo u cầu của đề)
và nêu nhận xét, đánh giá sơ bộ của mình.
2.Thân bài : Trình bày những suy nghĩ đánh giá về nội dung và nghệ
thuật của tác phẩm. (lần lượt nêu các luận điểm, phân tích, chứng minh
bằng luận cứ lấy trong tác phẩm…)
3. Kết bài: Nhận định khái qt giá trị, ý nghĩa của tác phẩm hoặc đoạn
trích.

Lưu ý học sinh khi lập dàn ý cần tránh các lỗi: lạc ý, ý khơng phù hợp với nội dung,
thiếu ý, lặp ý, sắp xếp ý lộn xộn…
 Hướng dẫn viết đoạn và liên kết đoạn:
Từ dàn ý sẵn có, các em có thể viết thành đoạn văn, bài văn hồn chỉnh. Giáo
viên hướng dẫn viết từng đoạn tiêu biểu:
* Đoạn mở bài:
Ngun tắc khi mở bài là cần phải nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài, chỉ được
phép nêu những ý khái qt (khơng được lấn sang phần thân bài: giảng giải, minh họa
hay nhận xét, đánh giá ý kiến nêu trong đề bài)
Người thực hiện: Trần Thò Kim Sa
12
GPKH: Rèn luyện kó năng viết bài nghò luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9
Có nhiều cách mở bài. Có thể dùng cách mở bài trực tiếp (giới thiệu ngay vấn đề
cần nghị luận) hoặc mở bài gián tiếp (nêu ra những ý kiến có liên quan đến vấn đề cần
nghị luận: từ khái qt đến cụ thể, so sánh đối chiếu, tương đồng, tương phản…).
Ví dụ: Có thể dùng các cách mở bài sau đây cho đề bài: “ Suy nghĩ về nhân vật
ơng Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân”.
Cách trực tiếp:
“Nhân vật ơng Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là người nơng dân có
tinh thần u làng quyện với lòng u nước, lòng trung thành với kháng chiến và
lãnh tụ. Đó là nét mới trong đời sống tình cảm của người nơng dân Việt Nam thời
kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đã để lại trong lòng người đọc những ấn
tượng sâu sắc.”
Cách gián tiếp: (có thể giới thiệu thêm nhiều cách)
“ Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân là một gương mặt độc đáo .
Do hồn cảnh sống của mình, ơng am hiểu sâu sắc sinh hoạt, tâm lý của người
nơng dân. Kim Lân được xem là nhà văn của nơng thơn, của người dân q Việt
Nam với những vẻ đẹp mộc mạc mà đậm đà. “Làng” là một truyện ngắn đặc sắc
nhất của Kim Lân. Tác phẩm này được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến
chống Pháp, thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp của tình u làng, lòng u nước ở
người nơng dân. Ai đến với “Làng”cũng khó qn được ơng Hai - một nhân vật
nơng dân mang những nét đẹp thật đáng u qua ngòi bút khắc họa tài tình của
Kim Lân.”
Sau khi đã hướng dẫn cụ thể cho HS các cách mở bài trên, giáo viên tiến hành cho
HS rèn viết đoạn mở bài, tin chắc rằng các em sẽ viết tốt.
* Đoạn thân bài:
Giáo viên cần giúp học sinh nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của phần thân bài
trong một bài văn. Phần này sẽ lần lượt trình bày, giải thích, nhận xét, đánh giá…các
luận điểm của vấn đề được đặt ra trong đề bài (thực hiện vừa đủ, khơng thiếu, khơng
thừa).
Ở từng luận điểm, cần có sự phân tích, chứng minh cụ thể, chính xác bằng những
dẫn chứng sinh động trong tác phẩm. Giáo viên nhắc lại các cách trình bày tiêu biểu
mà học sinh thường vận dụng viết đoạn văn nghị luận (diễn dịch, quy nạp, tổng-phân-
hợp…)
Ví dụ: Một trong những đoạn thân bài của đề bài trên có thể được triển khai như
sau:
“ Lòng u nước, u làng của nhân vật ơng Hai được thể hiện một cách cảm
động qua diễn biến tâm trạng của ơng. Tác giả đã sáng tạo ra một tình huống bất
ngờ, đầy kịch tính thử thách tình u làng của ơng Hai là có tin đồn về làng Chợ
Dầu đã theo giặc . Ơng Hai vơ cùng đau xót: “Cổ ơng lão nghẹn ắng hẳn lại, da
mặt tê rân rân, ơng lão lặng đi tưởng như đến khơng thở được…ơng cúi gầm mặt
xuống mà đi”. Về đến nhà, ơng nằm vật ra giường khơng dám đi đâu. Ơng buồn,
ơng xấu hổ. Ơng tự tranh luận với mình , tự dằn vặt mình hoặc đâm cáu gắt với
vợ… Đêm, ơng trằn trọc khơng sao ngủ được; ơng hết trở mình bên này, lại trở
Người thực hiện: Trần Thò Kim Sa
13
GPKH: Rèn luyện kó năng viết bài nghò luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9
mình bên kia thở dài,….chân tay ơng lão nhũn ra,….Tin đồn lan xa, mụ chủ nhà
hay được lại đuổi khéo gia đình ơng. Ơng Hai rơi vào tình trạng bế tắc. Ơng có
nghĩ đến việc trở về làng, nhưng liền sau đó ơng phản kháng lại ngay, ơng phẫn uất
nói: “Làng thì u thạt nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù”. Thật là tuyệt đường
sinh sống! Ơng quyết khơng trở về làng vì về làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Ơng
chỉ còn biết tâm sự với đứa con nhỏ ngây thơ. Qua những lời tâm sự mộc mạc,
chân thật đầy cảm động với con, ta thấy được tấm lòng u nước cao đẹp của người
nơng dân này . Như nhà văn Ê-ren-bua có nói: “Lòng u nhà, u làng xóm, u
đồng q trở nên lòng u nước”. Ơng Hai đúng một con người như thế – một con
người thiết tha u làng, vì u làng nên ơng u nước, kính u cụ Hồ, quyết trung
thành với kháng chiến. Đó chính là nét đẹp mới trong đời sống tình cảm của người
nơng dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.”
Giữa các luận điểm, đoạn văn cần có sự kiên kết, chuyển tiếp một cách linh hoạt,
uyển chuyển, tránh gò bó, máy móc, cơng thức.
* Đoạn kết bài:
Đoạn kết bài phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài.Chỉ nêu
những ý nhận xét, đánh giá khái qt, khơng trình bày lan man hay lặp lại ý diễn giải,
minh họa, cụ thể, chi tiết, cũng khơng nên lặp lại ngun văn lời lẽ của phần mở bài.
Khác với mở bài, phần kết bài thiên về đánh giá, tổng kết vấn đề.
Có nhiều cách kết bài, có thể là tóm tắt, khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật
của tác phẩm; có thể là tổng hợp những cảm nhận sâu sắc về nhân vật, tình cảm, tác
giả, tác phẩm ; có thể là liên tưởng đến các vấn đề khác có liên quan.
Ví dụ: Đánh giá nhân vật và khẳng định giá trị tác phẩm.
“ Ơng Hai trong truyện ngắn Làng là một nhân vật tạo ấn tượng sâu sắc đối với
người đọc. Qua truyện này, bằng những tình huống, chi tiết chân thật, thú vị, bằng
nghệ thuật miêu tả tâm lý sinh động, Kim Lân đã đem đến cho chúng ta một hình
tượng hấp dẫn về người nơng dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Tình u thiết tha, sự gắn bósâu nặng với làng q, đất nước của nhân vật ơng Hai
ln ln có ý nghĩa giáo dục thấm thía đối với các thế hệ bạn đọc.”
+ Đối với tiết Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích),
giáo viên vừa củng cố tri thức về u cầu, cách làm bài vừa qua luyện tập giúp học
sinh thành thạo thêm kĩ năng tìm ý, lập ý, kĩ năng viết bài hồn chỉnh. Để chuẩn bị cho
tiết luyện tập, giáo viên phải giao việc chuẩn bị ở nhà cho học sinh theo u cầu SGK,
chuẩn bị dàn ý chi tiết cho phần luyện tập trên lớp. Giáo viên nhận xét đánh giá bài
luyện tập của học sinh, vừa rèn luyện kĩ năng viết bài đúng u cầu vừa rèn luyện kĩ
năng viết bài nghị luận gắn liền cùng sự phân tích, giải thích, chứng minh, kết hợp
nhiều thao tác nghị luận và phải thể hiện những suy nghĩ, cảm thụ cá nhân.
+ Đối với tiết Luyện nói nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ : nhằm rèn luyện kĩ
năng trình bày miệng một cách mạch lạc, hấp dẫn những cảm nhận, đánh giá của mình
về một đoạn thơ, bài thơ, rèn luyện cách tìm ý, lập dàn ý và cách dẫn dắt vấn đề nghị
luận. Giáo viên có thể chọn các vấn đề đưa ra luyện nói ngồi SGK nhưng phải gắn
với các bài thơ đã được học và gợi hứng thú ở các em. Qua tiết học, giáo viên củng cố
Người thực hiện: Trần Thò Kim Sa
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét