CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP -5- GVHD: THs Phan Trung Kiên
Tổng số Vốn bằng tiền
+ Tỷ suất thanh toán của vốn lưu động =
Tổng số tài sản lưu động
Khi thực hiện phân tích đánh giá khả năng thang toán của các doanh nghiệp cần
xem xét tới các yếu tố về ngành nghề kinh doanh, tính thời vụ, chính sách tiêu thụ sản
phẩm… của đơn vị.
- Tiền là khoản mục có tác động rất lớn tới nhiều khoản mục trọng yếu khác trên
báo cáo tài chính như: nợ phải trả, chi phí và đặc biệt là doanh thu tiêu thụ hàng hóa
sản phẩm. Đồng thời, số dư khoản mục tiền cũng bị chi phối bởi nhiều chỉ tiêu,
nghiệp vụ kinh tế . Do vậy, những sai phạm xuất phát từ khoản mục tiền sẽ ảnh hưởng
tới rất nhiều chỉ tiêu trên báo cáo tàu chính và ngược lại.
- Tiền là tài sản lưu động có tính thanh khoản cao ( Đặc biệt là tiền mặt ), lại ngọn
nhẹ, dễ dàng cho cất giấu, di chuyển … Vì thế, trong các doanh nghiệp những thủ tục
kiểm soát nội bộ rất khó kiểm soát và quản lý một cách tuyệt đối.
- Tùy vào từng ngành nghề kinh doanh mà số dư trên khoản mục tièn có thể lớn hay
nhỏ nhưng thông thường với hầu hết các đơn vị số phát sinh của tài khản này là rất
lớn. Do số lượng nghiệp vụ kinh tế thu- chi có liên quan đến tiền là không nhỏ. Trong
kiểm toán báo cáo tài chính, khoản mục tiền luôn đươc xem là một khoản mục trọng
yếu, kiểm toán khoản mục tiền luôn là nội dung rất quan trọng.
1.2/ Quy trình hạch toán khoản mục tiền
1.2.1 / Những nguyên tắc hạch toán khoản mục tiền
Quá trình hạch toán khoản mục tiền trong các đơn vị phải thực hiện theo
nguyên tắc, chế độ quản lý và lưu thông tiền tệ hiện hành của nhà nước :
- Nguyên tắc tiền tệ thống nhất : Nguyên tắc này yêu cầu, mọi nghiệp vụ kinh tế
phát sinh phải ghi nhận một cách thông nhất bằng một đơn vị tiền tệ thống nhất là
Đồng Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
- Nguyên tắc cập nhật : Trong hạch toán khoản mục tiền kế toán phải thực hiện phản
ánh kịp thời, trung thực, cập nhật số tiền hiện có và thực trạng tình hình thu chi các
Nguyễn Văn Cường Kiểm toán 45A-NEU
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP -6- GVHD: THs Phan Trung Kiên
loại tiền, mở sổ theo dõi cho từng loại ngoại tệ theo cả nguyên tệ và đồng Việt Nam
quy đổi.
- Nguyên tắc hạch toán ngoại tệ : Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên qua đến ngoại
tệ đều phải quy đổi về đồng Việt Nam để ghi nhận. Tỷ giá thực hiện quy đổi là tỷ giá
mua bán bình quân trên thị trường liên ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam công bố vào thời điểm phát sinh nghiệp vụ đó.
Trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước không công bố tỷ giá quy đổi ra đồng
Việt Nam đối với ngoại tệ đó thì hạch toán quy đổi ngoại tệ đó thông qua USD.
1.2.2 Hạch toán khoản mục tiền
1.2.2.1 Hạch toán tiền mặt
- Theo hạn hạn mức được quy định từ trước ( Của Bộ Tài chính với một số
ngành nghề, của Tổng công ty, của Ban Giám đốc ) đơn vị có quyền giữ lại một số
tiền mặt nhất định để chi tiêu cho các nhu cầu thường xuyên của mình. Với mỗi
khoản thu, chi tiên phải có đầy đủ phiếu thu, phiếu chi và đủ chữ ký của những người
liên qua ( kế toán trưởng, người nhận, người thu, người phê chuẩn, người lập chứng
từ). Cuối ngày, thủ quỹ thực hiện chuyển chứng từ cho Phòng kế toán mà trực tiếp là
kế toán tiền mặt để ghi sổ.
- Tài khoản sử dụng :
+ Tài khoản 111 “ Tiền Mặt “ : Phản ánh tình hình thu, chi tiền mặt và số dư
tiền mặt của doanh nghiệp. Được chi tiết theo 3 tài khoản cấp II : :
Tài khản 1111 “ Tiền Việt Nam Đồng “.
Tài khản 1112 “ Ngoại tệ “ : Chi tiết theo từng loại ngoại tệ.
Tài khoản 1113 “ Vàng, bạc, đá quý, kim khí quý.”
Nguyễn Văn Cường Kiểm toán 45A-NEU
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét