[LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP]
Vũ Hồng Nhung
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1. Tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống 16
Bảng 2. So sánh tốc độ tăng trưởngGDP của một số quốc gia ASEAN và
Trung Quốc 17
Hình 1. Lạm phát phi mã giai đoạn 1986 - 1992 18
Bảng 3. Vốn FDI vào Việt Nam thời kỳ 1988 - 2008 19
Hình 2. Quan hệ GDI và tăng trưởng GDP 20
Bảng 4. Dòng FDI theo khu vực và nền kinh tế 2007 - 2008 49
QUAN HỆ VIỆT NAM - ADB | DANH MỤC THAM KHẢO
5
[LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP]
Vũ Hồng Nhung
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB – Asian Development Bank: Ngân hàng phát triển châu Á
ADF – Asian Development Fund: Quỹ phát triển châu Á
AFTA – Asean Free Trade Area: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
CDTA – Capacity Development Technical Assistance: Hỗ trợ kỹ thuật phát
triển năng lực
CPS – Country Partnership Strategy: Chiến lược và Chương trình quốc gia
DMC – Developing Member Country: Nước thành viên đang phát triển
DMF – Design and Monitoring Framework: Khung thiết kế và thực hiện
EA – Executing Agency: Cơ quan điều hành dự án
JSF – Japan Special Fund: Quỹ Nhật bả Đặc biệt
MFF – Multitranche Financing Facility: Công cụ tài trợ đa ngạch
OCR – Ordinary Capital Resources: Nguồn vốn thông thường
PATA – Policy and Advisory Technical Assistance: Hộ trợ kỹ thuật tư vấn và
chính sách
PPP – Public Private Partnership: Đối tác công - tư
PPTA – Project Preparatory Technical Assistance: Hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị
dự án
RDTA – Research and Development Technical Assistance: Hỗ trợ kỹ thuật
Nghiên cứ và Phát triển
SERD – South East Asia Department: Vụ Đông Nam Á
SRC – Staff Review Committee: Hội đồng Đánh giá chuyên môn
SRIDP – Sustainable Rural Infrastructure Development Project in the North
Provinces: dự án phát triển hạ tầng nông thôn bền vững tại các tỉnh miền núi
phía Bắc
SEDP - Social Economic Development Plan: Kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội
QUAN HỆ VIỆT NAM - ADB | DANH MỤC THAM KHẢO
6
[LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP]
Vũ Hồng Nhung
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nghị thường niên của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) lần thứ
44, một sự kiện lớn của khu vực Châu Á đã diễn ra từ ngày 3 đến ngày 6
tháng 5 năm 2011. Với sự tham gia của gần 4.000 đại biểu và tinh thần làm
việc khẩn trương, Hội nghị ADB lần thứ 44 đã hoàn thành các chương trình
nghị sự đề ra như là việc quyết định phương hướng hoạt động của ADB trong
thời gian tới vì mục tiêu hợp tác và phát triển, đồng thời tăng cường quan hệ
giữa ADB với các nước thành viên cũng như các đối tác phát triển và các bên
liên quan khác. Mặc dù Việt Nam đã là thành viên của ADB từ lâu, nhưng
mối quan hệ này bị đình trệ do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Bước vào thời kì mới, kỷ nguyên của toàn cầu hoá, Việt Nam nối lại quan hệ
với rất nhiều quốc gia có thể chế chính trị khác nhau, và các tổ chức quốc tế
lớn trong đó có ADB. Quan hệ giữa Việt Nam và ADB ngày càng trở thành
mối quan tâm lớn trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước bởi
nước ta ngày càng thấy được vai trò, lợi ích đem lại từ mối quan hệ đó. Về
phía ADB, mối quan hệ này là phù hợp với mục tiêu và phương hướng hoạt
động. Còn về phía Việt Nam, quan hệ với ADB mang lại những cơ hội và thử
thách để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Vì vậy,
nước ta cần có cái nhìn tổng quát về mối quan hệ này trong thời gian qua, có
những đánh giá chính xác về những thành tựu và những tồn tại của mối quan
hệ Việt Nam - ADB để từ đó có thể đặt ra phương hướng phát triển, thúc đẩy
mối quan hệ này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đây không còn là một vấn đề mới mẻ bởi các dự án của ADB ngày
càng tiến hành nhiều hơn và hiệu quả hơn trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội
của Việt Nam. Các thông tin về quan hệ Việt Nam - ADB được phổ biến một
QUAN HỆ VIỆT NAM - ADB | DANH MỤC THAM KHẢO
7
[LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP]
Vũ Hồng Nhung
cách đầy đủ trên các trang web, các báo và tạp chí kinh tế. Tuy nhiên nhà
nước ta cần đi sâu nghiên cứu về nguyên nhân của những thành công cũng
như những thất bại của mối quan hệ này, từ đó đưa ra những triển vọng và
giải pháp nhằm nâng tầm quan hệ hợp tác Việt Nam – ADB.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là thông qua việc tìm hiểu quá trình hợp tác từ
khi Việt Nam bắt đầu là thành viên của ADB, đặc biệt là sự hợp tác từ khi
nước ta nối lại quan hệ với ADB (năm 1993) để tìm cách khắc phục những
tồn tại cản trở mối quan hệ này. Việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam - ADB
cũng là sự gợi ý cho những quan hệ hợp tác khác của Việt Nam với thế giới
trong bối cảnh quốc tế hóa hiện nay.
4. Nội dung nghiên cứu
Phần nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương I : Những cơ sở của quan hệ Việt Nam – ADB.
- Chương II : Thực trạng quan hệ Việt Nam – ADB.
- Chương III: Giải pháp tăng cường quan hệ Việt Nam - ADB.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận Mac – Lênin làm
cơ sở nền tảng, sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử để phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn, phương pháp thống kê, phân
tích, so sánh, tổng hợp, logic kết hợp với lịch sử và kế thừa có chọn lọc kết
quả của các công trình, các hội thảo khoa học trong nước và thế giới về vấn
đề này để nghiên cứu.
PHẦN NỘI DUNG LUẬN VĂN
CHƯƠNG I: NHỮNG CƠ SỞ CỦA QUAN HỆ VIỆT NAM - ADB
I.1. Giới thiệu khái quát về ADB
QUAN HỆ VIỆT NAM - ADB | DANH MỤC THAM KHẢO
8
[LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP]
Vũ Hồng Nhung
I.1.1. Quá trình thành lập và phát triển
Ngân hàng Phát triển châu Á (tiếng Anh: The Asian Development
Bank, viết tắt: ADB) là một thể chế tài chính đa phương cung cấp các khoản
tín dụng và hỗ trợ kỹ thuật nhằm giúp các nước châu Á xóa đói giảm nghèo
và phát triển kinh tế-xã hội.
ADB được thành lập vào năm 1966, đặt trụ sở chính tại Manila
(Philippin). Ban đầu, ADB hoạt động nhằm giúp đỡ các nước đang phát triển
về vấn đề xã hội như giới tính, môi trường, giáo dục và sức khỏe. Tuy nhiên,
sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, ADB đã có bước ngoặt
trong chính sách hoạt động là tập trung vào việc thực hiện xóa đói giảm
nghèo ở các nước đang phát triển. Hiện nay, chủ tịch đương nhiệm của ADB
là ông Haruhiko Kuroda. ADB đã mở rộng lên từ 31 quốc gia thành 67 quốc
gia thành viên. ADB hiện có khoảng 2833 nhân viên của 59 nước thành viên.
1
I.1.2. Mục tiêu và cơ cấu tổ chức
(a)Mục tiêu
ADB đề ra các mục tiêu hoạt động bao gồm: bảo vệ môi trường, hỗ trợ
về vấn đề giới tính, phát triển khu vực tư nhân và khuyến khích hợp tác khu
vực.
- Bảo vệ môi trường: Việc bảo vệ môi trường góp phần cải thiện đời
sống và sức khỏe cho người nghèo ở các nước đang phát triển.
- Hỗ trợ về vấn đề giới tính: Ở nhiều nước, phần lớn người nghèo là phụ
nữ. Vì vậy, giúp đỡ phụ nữ giảm bớt gánh nặng là mục tiêu của ADB.
- Hỗ trợ khu vực tư nhân: Khuyến khích cải cách và hoàn thiện chính
sách để tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân, hỗ trợ sự hợp tác giữa khu vực nhà
nước và khu vực tư nhân.
- Khuyến khích hợp tác và liên kết khu vực: Khuyến khích sự hợp tác
giữa các chính phủ để phát triển cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy
1
ADB, ADB in Asia and the Pacific Region, http://adb.org/About/, ngày truy cập 05/04/2011
QUAN HỆ VIỆT NAM - ADB | DANH MỤC THAM KHẢO
9
[LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP]
Vũ Hồng Nhung
thương mai và đầu tư,…
(b) Cơ cấu tổ chức
Cơ quan ra quyết định cao nhất của ADB là Ban Thống đốc. Ban
Thống đốc này được thành lập từ đại diện của các nước thành viên. Sau đó,
Ban Thống đốc lại tự bầu ra trong số họ 12 thành viên để thành lập ra Ban
Giám đốc và các Phó Giám đốc. 8 trong số 12 thành viên của Ban Giám đốc
là đại diện của các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và số
còn lại là từ các quốc gia ngoài khu vực. Ban Thống đốc bầu ra Chủ tịch
Ngân hàng, người đứng đầu Ban Giám đốc và điều hành ADB. Mỗi Chủ tịch
giữ cương vị trong nhiệm kì 5 năm và có thể được tái đắc cử.
I.1.3. Phương thức hoạt động của
ADB
(a)
ADB có các nguồn tài chính bao gồm:
- Nguồn vốn tín dụng
thông
thường OCR. OCR có được từ ba nguồn:
vốn góp, vốn huy động thông qua hoạt động
vay
vốn trên thị trường tài
chính quốc tế và quỹ dự trữ. Các khoản
vay
OCR có lãi suất thông thường
trên thị trường (LIBOR - London Interbank Offered Rate: Lãi suất liên ngân
hàng Luân Đôn cộng với chênh lệch lãi suất để
chi trả cho
các chi phí hành
chính).
- Quỹ Phát triển châu Á ADF. ADF được hình thành từ năm 1974 dưới
dạng một nguồn vốn vay ưu đãi của
ADB.
ADF được huy động từ sự đóng
góp định kỳ của 26 nhà tài trợ thành viên. Các bên vay
ADF
là các nước
thành viên đang phát DMC có tổng thu nhập quốc dân trên đầu người thấp
và khả năng trả nợ
hạn
chế hoặc khó tiếp cận với các nguồn vốn vay lãi suất
thấp trên thị
trường.
QUAN HỆ VIỆT NAM - ADB | DANH MỤC THAM KHẢO
10
[LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP]
Vũ Hồng Nhung
- Nguồn viện trợ không hoàn lại, cụ thể gồm: Quỹ
Đặc
biệt dành cho
các hỗ trợ kỹ thuật TASF, Quỹ Đặc biệt của Nhật Bản JSF; Quỹ Đặc
biệt
của Học viện ADB ADBISF.
2
(b) Các phương thức cho vay của ADB
- Kênh cho vay: Các hoạt động cho vay của
ADB
được chia thành hai
kênh chính: Kênh cho vay Thông thường và Kênh cho vay Đặc
biệt.
ADB cấp vốn vay chủ yếu cho các dự án có mức ưu tiên phát triển cao
trong các lĩnh vực
và
các ngành như nông nghiệp, năng lượng, giao thông
và truyền thông, cấp nước,vệ
sinh,
giáo dục, y tế, tài chính, khu vực tư
nhân. Các khoản viện trợ không hoàn lại để thực hiện
các
hỗ trợ kỹ thuật
chủ yếu được dùng để chuẩn bị các dự án vốn vay và hỗ trợ các hoạt động
tư
vấn về cải tổ chính sách và tăng cường năng
lực.
- Công cụ tài trợ: ADB có các công cụ tài chính khác nhau đối với các
chính phủ và khu vực tư
nhân
của các DMC dựa trên trên cơ sở các ưu tiên
của nước thành viên đó. Các công cụ tài trợ
mà
ADB sử dụng bao gồm cho
vay, hỗ trợ kỹ thuật, bảo lãnh (dựa trên uy tín và rủi ro chính
trị)
và đầu tư
cổ
phần.
Vào tháng 8/2005, bốn công cụ và phương thức tài trợ mới đã
được đưa ra. Ba
trong
số đó đang được áp dụng thử nghiệm từ tháng
9/2005 tới tháng 8/2008 theo Sáng kiến
Đổi
mới và Hiệu quả của ADB. Đó
là công cụ tài trợ đa ngạch MFF, công cụ tài trợ tư nhân cho khu
vực
công
và công cụ tái tài trợ. Các công cụ tài trợ mới này dự kiến sẽ cung cấp cho
các
khách
hàng và các nhóm hoạt động của ADB có thêm các phương án
lựa chọn góp phần tài trợ
cho
các dự án lớn và các chương trình đầu tư dài
hạn cụ thể được xác định từ quy hoạch
phát
triển ngành của quốc
gia.
- Vấn đề hỗ trợ kỹ thuật: Khác với nhiều nhà tài trợ khác, ADB dành
một khoản viện trợ không hoàn lại
lớn
giúp các nước thành viên đang phát
2
Autralian Governmnet The Treasury, Australia and the international finacial institutions,
http://www.treasury.gov.au/documents/1240/html/docshell.asp?
URL=05_Sec_4_Australias_Interactions_with_the_ADB.htm, ngày truy cập 20/03/2011
QUAN HỆ VIỆT NAM - ADB | DANH MỤC THAM KHẢO
11
[LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP]
Vũ Hồng Nhung
triển thực hiện các hỗ trợ kỹ thuật nhằm nâng cao
hiệu
quả sử dụng nguồn
tài trợ và tăng cường năng lực phát triển thể
chế.
Từ tháng 7 năm 2008, hỗ
trợ kỹ thuật được chia thành bốn loại như sau Hỗ trợ
kỹ
thuật chuẩn bị dự án
PPTA giúp chuẩn bị các dự án vốn vay được ADB tài trợ hoặc từ
các
nhà
tài trợ khác hoặc cả hai, Hỗ trợ kỹ thuật Xây dựng năng lực CDTA nhằm
tăng
cường năng lực cho các cơ quan chủ quản và các cơ quan khác, bao
gồm cả việc hỗ trợ thực hiện dự
án,
Hỗ trợ kỹ thuật tư vấn và chính sách
PATA để hỗ trợ các nước thành viên đang
phát
triển trong việc hoạch định
chính sách và Hỗ trợ kỹ thuật nghiên cứu và triển khai RDTA cho việc
thực hiện
các
nghiên cứu ngành, chính sách và chuyên
đề.
- Vấn đề đồng tài trợ của ADB: ADB đang đẩy mạnh đồng tài trợ với
các cơ quan tài trợ chính thức, các tổ chức
tài
chính thương mại, và các cơ
quan cấp tín dụng xuất khẩu. Hai dạng đồng tài trợ chủ yếu là Đồng tài trợ
song song (các nhà đồng tài trợ hoặc các tổ chức tài chính tài trợ và quản lý
kinh
phí của họ để thực hiện các hoạt động/hợp phần dự án song hành với
các hoạt động tài
trợ
của ADB) và Liên kết đồng tài trợ (các nhà đồng tài trợ
chuyển kinh phí cho ADB và
ủy
quyền cho ADB quản lý nguồn vốn và dự
án).
(c) Đối tượng cho vay của ADB
Các nước thành viên vay vốn được phân loại thành 4 nhóm, dựa trên
tổng thu nhập quốc dân trên
đầu người và khả năng trả nợ. Chúng là: các
nước chỉ vay ADF (Nhóm
A),
vay ADF cùng với một lượng hạn chế OCR
(Nhóm B1), vay OCR với một lượng
hạn
chế ADF (Nhóm B2) và các nước
chỉ được vay OCR (Nhóm C). Hiện nay, Việt
Nam
được xếp vào Nhóm
B1 và được vay ADF và
OCR.
I.2. Khái quát về nền kinh tế Việt Nam
QUAN HỆ VIỆT NAM - ADB | DANH MỤC THAM KHẢO
12
[LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP]
Vũ Hồng Nhung
I.2.1. Quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế Việt Nam
Do điều kiện nghiên cứu luận văn hạn chế, bài viết chỉ xin được đề cập
đến nền kinh tế Viêt Nam trong phạm vi kể từ năm 1945 tới nay. Khoảng thời
gian này được chia thành 3 giai đoạn chính:
- Kinh tế Việt Nam từ 1945 đến 1954.
- Kinh tế Việt Nam từ 1955 đến 1985.
- Kinh tế Việt Nam từ 1986 đến nay.
(a)Kinh tế Việt Nam trong thời kì kháng chiến thực dân Pháp (1945 –
1954)
Đất nước thời kì này được chia thành hai vùng, đó là vùng do chính phủ
ta kiểm soát và vùng địch tạm chiếm. Nước ta đã đề ra chính sách kinh tế thời
chiến là một mặt phá hoại kinh tế địch, còn mặt kia xây dựng kinh tế của ta
tại vùng tự trị. Thành tựu của nước ta thời kỳ này gồm:
- Nước ta đã tăng gia sản xuất nông nghiệp và thực hiện tự cấp tự túc.
Nhằm phát triển nông nghiệp, Nhà nước thực hiện chính sách ruộng đất
từng bước với những nội dung mang lại ưu đãi cho nông dân như giảm tô, xoá
bỏ địa tô phụ và sắc lệnh trưng thu tất cả ruộng đất bỏ hoang tạm cấp cho
nông dân nghèo. Năm 1947, lời kêu gọi “toàn thể đồng bào ra sức tăng gia
sản xuất” và phong trào thi đua yêu nước đã được hưởng ứng sôi nổi. Bên
cạnh đó, Nhà nước còn hướng dẫn nông dân làm ăn tập thể và cải tiến kĩ thuật
trong nông nghiệp. Nhờ những biện pháp trên mà nông nghiệp đã có bước
phát triển tích cực, cụ thể 2.414.830 tấn là sản lượng lúa từ Bắc Trung bộ trở
ra năm 1950.
3
- Nhà nước đã phục hồi tiểu thủ công nghiệp và phát triển công nghiệp
quốc phòng.
Dưới sức ép về nhu cầu hàng tiêu dùng càng cao, ngành tiểu thủ công
nghiệp và công nghiệp quốc doanh dân dụng là hướng ưu tiên thứ hai trong
3
Nguyễn Trí Dĩnh - Phạm Thị Quý, Lịch sử kinh tế, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2004, trang 335
QUAN HỆ VIỆT NAM - ADB | DANH MỤC THAM KHẢO
13
[LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP]
Vũ Hồng Nhung
chính sách của Nhà nước. Nhà nước thực hiện tiết kiệm triệt để, chỉ tập trung
vào những mặt hàng thiết yếu. Các ngành thiết yếu đối với kháng chiến và
dân sinh như dệt, giấy, muối, mắm được phục hồi và phát triển. Còn những
ngành xa xỉ như đồ thêu, đồ ren… thì tạm ngừng hoạt động. Công nghiệp
quốc phòng được phát triển mạnh mẽ hơn cả, nhờ đó mà mức sản xuất vũ khí
năm 1950 bằng 22,7 lần so với năm 1946.
4
- Công tác vận tải của nước ta cũng được tổ chức lại để phục vụ kháng
chiến.
Nhân dân ta sửa đường để phục vụ phát triển kinh tế, tới năm 1949 ở
miền Bắc có 4.000km được sửa. Các phương tiện cũng phong phú hơn để chở
hàng tiếp tế cho bộ đội, cơ quan.
- Nhà nước thực hiện nền tài chính và tiền tệ phân tán.
Trong thời kỳ này, mỗi địa phương phải tự cấp tự túc mọi mặt. Còn
Chính phủ chỉ trợ cấp một phần. Chính phủ cũng cho hình thành những khu
vực tiền tệ riêng biệt phù hợp với lưu thông hàng hoá ở từng vùng, đáp ứng
kịp thời nhu cầu kháng chiến.
Bên cạnh những thành tựu kể trên, ở những vùng địch chiếm đóng, tình
hình kinh tế diễn biến khó khăn. Sản xuất nông nghiệp và công nghiệp suy
sụp, đối với nông nghiệp thì các mặt hàng như lúa còn 35,4%, ngô còn 9,6%,
đối với công nghiệp thì có than còn 33,9%, đường còn 6%
5
Ngoại thương
lâm vào tình trạng nhập siêu trầm trọng, trong đó nhập khẩu 1951 – 1954 tăng
lên 3,2 lần so với gian đoạn 1946 – 1950, mà xuất khẩu bị giảm đi. Tài chính
kiệt quệ, tiền tệ mất giá khiến Pháp đã xin viện trợ Mĩ.
(d) Kinh tế Việt Nam thời kì 1955 – 1985
Thời kỳ này được chia thành 2 giai đoạn nhỏ:
- Giai đoạn chiến tranh từ 1955 đến 1975
4
Nguyễn Trí Dĩnh - Phạm Thị Quý, Lịch sử kinh tế, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2004, trang 337
5
Nguyễn Trí Dĩnh - Phạm Thị Quý, Lịch sử kinh tế, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2004, trang 340
QUAN HỆ VIỆT NAM - ADB | DANH MỤC THAM KHẢO
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét