Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nước ngoài cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công
dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài “.
Như vậy, theo quy định trên thì quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
bao gồm các quan hệ sau :
1. Quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với trẻ em Việt Nam cư
trú trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cư trú ở nước ngoài.
2. Quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với trẻ em nước ngoài
ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài.
3. Quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc
cả hai bên định cư ở nước ngoài.
4. Quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau phát sinh tại
Việt Nam.
Theo các trường hợp trên, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã
được mở rộng, không chỉ là quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài mà còn bao gồm quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt
Nam với nhau ở nước ngoài và quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài
với nhau ở Việt Nam.
1.2 Đặc trưng của quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.2.1 Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài luôn mang yếu tố nước
ngoài.
Như trên đã phân tích, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bao
gồm các loại quan hệ (phần 1.1.2), mà quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa hai bên chủ thể khác quốc tịch
hoặc cùng quốc tịch nhưng sự kiện nhận nuôi con nuôi xảy ra ở nước ngoài
nhằm bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Do vậy, yếu tố nước ngoài trong
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bao gồm :
1.2.1.1 Yếu tố chủ thể :
Khi đề cập đến yếu tố chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài, có hai loại chủ thể cơ bản :
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thứ nhất : Công dân Việt Nam khi tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài phải có quyền năng chủ thể tức là có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi trước tiên theo pháp luật Việt Nam. Năng lực pháp luật và năng
lực hành vi là những thuộc tính của chủ thể pháp luật, là đặc trưng không thể
thiếu của chủ thể pháp luật. Vấn đề năng lực pháp luật và năng lực hành vi ở đây
trước hết được xác định trên cơ sở các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam.
Thứ hai : Bên cạnh đó, người nước ngoài cũng là chủ thể cơ bản của quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Pháp luật Việt Nam và pháp luật của nhiều nước trên thế giới có nét đặc
trưng chung là đều lấy dấu hiệu quốc tịch để định nghĩa người nước ngoài. Có
thể khái quát, người nước ngoài là người không có quốc tịch của nước sở tại. Để
tham gia vào quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng như quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì người nước ngoài phải có năng lực
pháp luật và năng lực hành vi trước tiên là theo pháp luật của nước mà người đó
là công dân hoặc pháp luật của nước mà người đó thường trú nếu người đó là
người không quốc tịch.
Tại Điều 830 Bộ luật Dân sự Việt Nam thì người nước ngoài có năng lực
pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ các trường hợp ngoại
lệ. Tuy nhiên, để người nước ngoài tham gia trực tiếp vào quan hệ nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài thì người nước ngoài phải có năng lực hành vi. Ở Việt
Nam năng lực hành vi được quy định tại Điều 831 Bộ Luật Dân sự. Như theo
Điều 831 thì Việt Nam đã sử dụng chủ yếu nguyên tắc luật quốc tịch để xác định
năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài. Ngoài ra, trong một số trường
hợp năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật
dân sự Việt Nam.
1.2.1.2 Sự kiện pháp lí làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ nuôi
con nuôi xảy ra ở nước ngoài.
Sự kiện pháp lí làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ nuôi con
nuôi phải là sự kiện pháp lí xảy ra ở nước ngoài. Nó có thể là sự kiện, hành vi…
phù hợp với pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài. Sự kiện pháp lí còn
là hành vi pháp lí. Hành vi pháp lí là hành vi hợp pháp xảy ra do các chủ thể
trong quan hệ nuôi con nuôi thực hiện (làm chấm dứt quan hệ về nhân thân và
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tài sản của đứa trẻ với cha, mẹ đẻ và làm phát sinh những quan hệ đó giữa cha,
mẹ nuôi và con nuôi). Hành vi của những người tham gia quan hệ pháp luật
nuôi con nuôi nhằm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong lĩnh
vực nuôi con nuôi cần thiết phải có cả quyết định của cơ quan có thẩm quyền
công nhận sự kiện hoặc hành vi theo thủ tục luật định. Ví dụ : Để cho việc xác
nhận con nuôi làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người nhận nuôi và con
nuôi thì cần thiết phải có quyết định về việc nhận con nuôi của Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Uỷ ban nhân xã nếu việc nuôi con
nuôi giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước
láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam.
Sự kiện pháp lí làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài là sự kiện pháp lí xảy ra ở nước ngoài. Về việc nhận
nuôi con nuôi ở nước ngoài, pháp luật Việt Nam thường sử dụng quy tắc luật nơi
thực hiện hành vi để giải quyết xung đột pháp luật phát sinh trong quan hệ này.
Trong trường hợp Việt Nam và nước hữu quan kí kết điều ước quốc tế thì xung
đột pháp luật trong vấn đề này được điều chỉnh theo các quy phạm pháp luật ghi
nhận trong các điều ước đó.
Như vậy, việc xác định đúng thời điểm mà sự kiện pháp lí làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xác định đúng luật áp dụng để giải quyết xung đột
pháp luật phát sinh giữa các bên, từ đó áp dụng luật chính xác trong việc giải
quyết tranh chấp liên quan đến các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài.
1.2.1.3 Yếu tố cư trú của các bên đương sự.
Theo Pháp luật Việt Nam (Điều 826-Bộ Luật Dân Sự) chỉ nói đến ba yếu
tố nước ngoài. Nhưng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định bổ
sung thêm yếu tố cư trú của các đương sự tham gia vào quan hệ gia đình có yếu
tố nước ngoài cũng như quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, khi
nói đến yếu tố cư trú của đương sự tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài có thể xảy ra hai trường hợp :
Thứ nhất : Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Theo quy định tại
Điều 100 - Khoản 4 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì các quy định của
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chương XI (quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài) cũng được áp
dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau
mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài. Quy định này là hoàn toàn
phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay khi số lượng người Việt Nam cư
trú ở nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam ngày càng tăng. Do đó, quan hệ nuôi
con nuôi giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài và người Việt Nam định
cư ở nước ngoài cũng tăng lên. Do vậy, việc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi
giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên cư trú ở nước
ngoài là hết sức cần thiết. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 100 Luật hôn nhân và
gia đình, pháp luật được áp dụng để điều chỉnh quan hệ của họ là pháp luật Việt
Nam, tức là áp dụng quy tắc Luật quốc tịch. Việc quy định như vậy là hoàn toàn
hợp lí, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết
việc nuôi con nuôi khi họ tham gia tại Việt Nam.
Thứ hai : Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam. Hiện nay, quan hệ nuôi
con nuôi giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam phát sinh
ngày càng nhiều. Trước tình hình đó, pháp luật Việt Nam đã có quy định điều
chỉnh quan hệ giữa họ với nhau ở Việt Nam. Pháp luật áp dụng để điều chỉnh
quan hệ nuôi con nuôi khi họ tham gia tại Việt Nam là pháp luật Việt Nam, tức
là áp dụng quy tắc luật nơi cư trú của đương sự. Quy tắc này được ghi nhận tại
Điều 105 - khoản 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Việc áp dụng luật nơi
cư trú để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi khi người nước ngoài tham gia tại
Việt Nam là phù hợp với thực tế vì khi họ cư trú tại Việt Nam các cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam áp dụng pháp luật Việt Nam sẽ giải quyết vụ việc
nhanh chóng và thuận lợi do không phải áp dụng pháp luật nước ngoài.
Như vậy, yếu tố nước ngoài trong quan hệ nuôi con nuôi được quy định
trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã được mở rộng hơn trước đây. Việc
mở rộng yếu tố nước ngoài là hết sức cần thiết, phù hợp với tình hình thực tế
hiện nay của nước ta trong tiến trình hội nhập quốc tế.
1.2.2 Phương pháp điều chỉnh.
Phương pháp điều chỉnh của pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu
tố nước ngoài trong đó có quan hệ nuôi con nuôi là phương pháp xung đột và
phương pháp thực chất. Hai phương pháp này được kết hợp hài hoà và tác động
tương hỗ với nhau trong điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhằm bảo đảm sự thuận lợi cho các bên trong quá trình giải quyết việc nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.2.2.1 Phương pháp xung đột.
Phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh dựa vào các quy tắc
được ấn định để áp dụng pháp luật của một nước chỉ định nhằm giải quyết quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phát sinh thông qua các quy phạm xung
đột [3].
Phương pháp xung đột được hình thành và phát triển trên nền tảng hệ
thống các quy phạm xung đột của quốc gia và các quy phạm xung đột trong các
điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Quy phạm xung đột là quy phạm
pháp luật ấn định pháp luật của nước nào phải được áp dụng để điều chỉnh quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể. Như vậy,
quy phạm xung đột là loại quy phạm pháp luật “dẫn chiếu“, theo đó các cơ quan
có thẩm quyền chọn được hệ thống pháp luật tối ưu để điểu chỉnh quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài. Khác với các loại quy phạm pháp luật thông
thường, quy phạm xung đột được cấu thành bởi hai bộ phận là phạm vi (tương
tự phần “ giả định “) và hệ thuộc (tương tự phần “ quy định”), không có phần
chế tài.
Để giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài, các nước thường sử dụng một số kiểu hệ thuộc cơ bản sau : Luật
nhân thân (lex personalis) bao gồm luật quốc tịch (lex patriae) và luật nơi cư trú
(lex domicilii); luật nơi thực hiện hành vi (lex loci astus) và luật toà án (lex fori).
Ở Việt Nam, quy phạm xung đột về vấn đề nuôi con nuôi được ghi nhận
trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và một số văn bản khác. Ngoài ra,
quy phạm xung đột còn được ghi nhận trong Hiệp định tương trợ tư pháp
(HĐTTTP) Việt Nam đã kí kết với các nước. Ví dụ như : Theo Điều 29
HĐTTTP Việt Nam – Bungari; Điều 30 HĐTTTP Việt Nam – Ba lan ; Điều 29
HĐTTTP Việt Nam – Mông Cổ đều khẳng định “ việc nuôi con nuôi sẽ được áp
dụng pháp luật của nước kí kết mà người nhận nuôi là công dân”.
Phương pháp xung đột được áp dụng tương đối phổ biến để điều chỉnh
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Phương pháp này được áp dụng
thông qua quy phạm xung đột. Quy phạm xung đột không trực tiếp quy định
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tố nước ngoài, mà nó chỉ ra việc áp dụng pháp luật của một nước nào đó để điều
chỉnh quan hệ này.
1.2.2.2 Phương pháp thực chất.
Phương pháp thực chất là phương pháp điều chỉnh dựa vào việc nhất thể
hoá các quy phạm luật thực chất, cách thức giải quyết quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài trong pháp luật của từng nước, định rõ quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể trong quan hệ này dưới dạng định ra các quy phạm thực chất thống
nhất [3].
Quy phạm thực chất là quy phạm trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ
cụ thể giữa các bên tham gia quan hệ dân sự quốc tế. Quy phạm thực chất có thể
được xây dựng trong các điều ước quốc tế (gọi là các quy phạm thực chất thống
nhất). Việc xây dựng các quy phạm thực chất trong các điều ước quốc tế điều
chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng như trong
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là hết sức cần thiết. Nó làm hài hoà
sự khác biệt trong pháp luật của các quốc gia và có tính chất đơn giản hoá trong
việc điều chỉnh các quan hệ này. Khi các quốc gia kí kết với nhau điều ước quốc
tế trong đó có quy phạm thực chất thống nhất, cơ quan có thẩm quyền giải quyết
sẽ dựa vào đó để xem xét và giải quyết thực chất vấn đề trên cơ sở áp dụng ngay
quy phạm đó.Việc áp dụng các quy phạm thực chất sẽ loại trừ vấn đề phải chọn
luật và cả vấn đề áp dụng luật nước ngoài.
Quy phạm thực chất còn được xây dựng trong pháp luật quốc gia. Loại
quy phạm này gọi là quy phạm thực chất thông thường. Tuy nhiên, về vấn đề
này, trong khoa học pháp lí các nước chưa có quan điểm thống nhất. Song, cùng
với các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất thống nhất, các quy phạm
thực chất thông thường là quy phạm được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài. Các quy phạm thực chất này được ghi nhận trong các văn
bản pháp luật Việt Nam ban hành. Ví dụ như Khoản 1 - Điều 105 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000. Rõ ràng các quy phạm thực chất trong pháp luật quốc gia
điều chỉnh trực tiếp quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Tóm lại, để điều chỉnh trực tiếp quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài, các quốc gia thường sử dụng hai phương pháp xung đột và phương pháp
thực chất với các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất. Hai loại quy phạm
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
này cùng tồn tại song song, hỗ trợ cho nhau với những chức năng khác nhau để
điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.3 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật điều
chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt nam.
Theo từng thời gian, để phù hợp với sự nghiệp cách mạng của đất nước,
phù hợp với tình hình phát triển của các điều kiện kinh tế, xã hội và thực tế của
các quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài nói riêng, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài. Nhà nước ta đã kịp thời ban hành các văn bản pháp luật về hôn nhân và
gia đình. Hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình dần được hoàn thiện, là công
cụ pháp lý của Nhà nước ta, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
1.3.1 Trước năm 1945
Pháp luật phong kiến nước ta từ thế kỉ XV đến thể kỉ XIX tiêu biểu là hai
bộ luật đó là : Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức được ban hành dưới
triều Lê) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ luật Gia Long được ban hành dưới
triều Nguyễn).
Hai bộ luật này quy định khá cụ thể việc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi
trong thời kỳ đó. Thể hiện rõ nét phong tục, tập quán truyền thống của người
Việt Nam về gia đình. Song các bộ luật này cũng không tránh khỏi hạn chế của
chế độ phong kiến đang suy tàn, xu hướng duy trì chế độ phụ hệ vững chắc, triệt
tiêu sự bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con nuôi và con đẻ.
Dưới thời Pháp thuộc, đất nước ta bị chia làm ba kì là Bắc kì, Trung kì và
Nam kì. Sau khi xâm lược Việt Nam và đặt ách đô hộ ở Nam kì, thực dân Pháp
đã ban hành Bộ dân luật giản yếu Nam kì áp dụng ở Nam kì và ba thành phố Hà
Nội, Hải Phòng, Đã Nẵng. Bộ dân luật Bắc kì được ban hành vào ngày
30/03/1931 theo Nghị Định của Thống sứ Bắc kì để thi hành trên toàn Bắc kì từ
ngày 01/07/1931 thay cho Bộ luật Gia Long. Hoàng Việt Trung kì bộ luật được
ban hành năm 1939 thi hành trên toàn Trung kì. Về quan hệ gia đình, các bộ luật
này đã quy định về vấn đề nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con
theo mô hình phương Tây. Song pháp luật dân sự thời kì này có những mặt hạn
chế nhất định đó là gia đình vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến, trọng nam
khinh nữ, nhiều quy định về nghĩa vụ của con còn rất khắt khe.
1.3.2 Từ năm 1945 đến 1959
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ngay từ khi ra đời, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quan tâm và
coi trọng việc xây dựng hệ thống pháp luật nhằm củng cố và bảo vệ thành quả
của cách mạng. Tuy chưa có văn bản riêng điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài nhưng vấn đề này được quy định trong một số văn
bản pháp luật khác, như trong Sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945 về quốc tịch
Việt Nam. Hiến pháp năm 1959 là cơ sở pháp lí quan trọng để điều chỉnh quan
hệ gia đình trong thời kì này, tuy nhiên vẫn chưa có quy định cụ thể điều chỉnh
trực tiếp quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài.
Pháp luật trong nước về quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài còn hết
sức đơn giản, chưa tập hợp thành hệ thống. Nhà nước ta chủ trương chưa ban
hành văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh trực tiếp quan hệ gia đình có yếu tố
nước ngoài mà chỉ điều chỉnh quan hệ gia đình trong nước theo Hiến pháp 1946.
Quan hệ hợp tác giữa nước Việt Nam dân chủ cộng hoà với các nước chủ
yếu là các nước xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn này mới bắt đầu kiến lập và dần
được củng cố. Trong bối cảnh đó, các quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài phát
sinh, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh, tuy nhiên vấn đề quan hệ gia đình
có yếu tố nước ngoài chưa phải là yêu cầu bức xúc.
1.3.3 Từ năm 1959 đến 1986
Trong thời kì này, bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà đã được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 11 ngày 31/12/1959, tiếp tục ghi
nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ (Điều 24). Xuất phát từ tình hình thực tế
của quan hệ gia đình trong thời kì mới, Luật hôn nhân và gia đình đã được Quốc
hội thông tại kì họp thứ 11 ngày 29/12/1959. Luật đã điều chỉnh quyền và nghĩa
vụ giữa vợ chồng, giữa cha, mẹ và con. Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình
năm 1959 không có quy phạm điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài.
Ở miền Bắc, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04 ngày 16/01/1961
kèm theo Điều lệ về đăng kí hộ tịch. Ngày 21/06/1961, Bộ nội vụ ban hành
Thông tư số 05/NV hướng dẫn thi hành Điều lệ về đăng kí hộ tịch nói trên. Tuy
nhiên, trong văn bản pháp luật này chưa quy định điều chỉnh quan hệ gia đình có
yếu tố nước ngoài đầy đủ nhưng những quy định này sẽ là nền móng cơ bản để
chúng ta giải quyết quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là vấn đề con
nuôi. Trong giai đoạn này, một số ít trường hợp người nước ngoài nhận trẻ em
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Việt Nam làm con nuôi đã được giải quyết. Do vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài không được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật nói trên nên khi
giải quyết các việc này các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của ta còn gặp
nhiều khó khăn và lúng túng.
Ở miền Nam, cũng trong giai đoạn này, chính quyền Nguỵ Sài Gòn đã
ban hành Bộ dân luật ngày 20/12/1972. Trong Bộ dân luật này đã quy định về
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng. Điều 248 Bộ dân luật Sài Gòn có quy
định về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, theo quy định này thì
“Người Việt Nam có thể lập người ngoại quốc làm con nuôi hay làm con nuôi
của người ngoại quốc “.
Sau khi đất nước thống nhất, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước
ngày càng được mở rộng, do đó đã làm phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ
gia đình có yếu tố nước ngoài, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh ngay. Để
xử lý tình hình này, Việt Nam đã tiến hành đàm phán và kí kết các hiệp định
tương trợ tư pháp với Cộng hoà dân chủ Đức (1980) , Liên Xô (1981), Tiệp
Khắc (1982), Cu Ba (1984)…Các hiệp định này đã tạo lập một khung pháp lí
khá hoàn chỉnh điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài như quan hệ
pháp lí giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con; vấn đề nuôi con nuôi; vấn đề xung
đột pháp luật và xung đột thẩm quyền được giải quyết khá cụ thể.
1.3.4 Từ năm 1986-2000
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước
ta bước sang một thời kỳ mới, chuyển dần sang nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Trước những thay đổi mới to lớn của đất nước, Nhà
nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật kịp thời điều chỉnh những quan hệ
mới phát sinh. Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời, trong thời kỳ đổi mới
đất nước, kế thừa những nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của chế độ hôn nhân gia
đình mới được thể chế hoá trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1959. Đã góp
phần vào việc xây dựng và củng cố chế độ gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và
phát huy những phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp về hôn nhân và gia
đình, từng bước nâng cao nhận thức và ý thức của nhân dân trong việc thi hành
các quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Về cơ bản, Luật hôn nhân và gia
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đình năm 1986 kế thừa và tiếp tục phát huy những thành tựu lập pháp của Luật
hôn nhân và gia đình năm 1959, đồng thời bổ sung những chế định quan trọng
phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật hôn
nhân và gia đình, Nhà nước ta đã dành một chương riêng (Chương IX) để quy
định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Trong chương này,
các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều
52, 53 và 54. Đây là bước phát triển mới của Luật hôn nhân và gia đình năm
1986, đáp ứng nhu cầu của tình hình mới và phản ánh xu hướng mở rộng phạm
vi điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình, bước đầu quy định về hôn nhân và
gia đình.
Trong khoảng thời gian này, Quốc hội đã thông qua một số văn bản pháp
lí có liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung
và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng như Luật quốc tịch năm
1988, Điều 14 quy định : trẻ em là công dân Việt Nam làm con nuôi người nước
ngoài không vì thế mà mất quốc tịch Việt Nam ; Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục
trẻ em quy định (Điều 7)“ Mọi trường hợp đưa trẻ em ra nước ngoài hoặc từ
nước ngoài vào phải theo quy định của pháp luật “; Pháp lệnh lãnh sự năm
1990, trong đó có quy định Cơ quan lãnh sự có thẩm quyền đăng kí kết hôn,
nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.
Ngày 29/04/1992, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 145/
HĐBT quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em
mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do ngành lao động thương
binh xã hội quản lí. Sau đó, ngày 19/01/1993, Bộ lao động - thương binh - xã
hội, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số
01/TTLB hướng dẫn thi hành Quyết định 145/HĐBT. Quyết định 145/HĐBT là
văn bản pháp luật trong nước đầu tiên của Việt Nam cụ thể hoá nuôi con nuôi
giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài. Tuy nhiên trong quá trình thực
hiện việc cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, Quyết định
145/HĐBT đã bộc lộ một số hạn chế.
Ngày 02/12/1993 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh hôn
nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, trong đó Pháp
lệnh có đề cập đến nuôi con nuôi tại Điều 16, Điều 17 với nội dung quy định cơ
chế giải quyết tranh chấp và xác định quyền và nghĩa vụ của người nuôi và con
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét