Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong quá trình tìm kiếm con đờng đa nền kinh tế phát triển đi nên,
Đảng và nhà nớc ta đã lựa chọn đờng lối đổi mới: Công cuộc đổi mới bắt đầu
từ năm 1986 chuyển từ nền kinh tế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Điều đó đã tạo ra những
động lực lành mạnh, làm nhộn nhịp các hoạt động kinh tế làm tơi tỉnh bộ mặt
xã hội, là nguyên nhân trực tiếp làm cho đất nớc có những bớc ổn định và
phát triển trong những năm gần đây. công cuộc đổi mới đã làm thay đổi mọi
mặt của đời sống kinh tế xã hội đặc biệt là sự thay đổi hệ thống giá trị xã hội
đồng thời tạo ranhững chuẩn mực xã hội mới. Điều đó đã tác động không
nhỏ đến cách suy nghĩ và lối sống của ngời dân. ở con ngời Việt Nam dần
hình thành những hớng giá trị mới đặc biệt là sự hình thành nhân cách con
ngời, từ đó nảy sinh nhiều vấn đề, đó là: Con ngời và nhân cách con ngời;
dân chủ và công bằng xã hội; lợi ích cá nhân - xã hội cùng những mâu thuẫn
và sự thống nhất giữa chúng Trong bài viết của mình, em xin đợc đề cập
đến một trong những vấn đề đang đợc quan tâm đó là: Sự hình thành nhân
cách con ngời trong nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam .
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phần I:
1. Khái quát nền kinh tế Việt Nam trớc thời kỳ đổi mới:
Đất nớc ta là một nớc giàu tài nguyên thiên, nguồn nhânlựcdồi dào và
vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lu quốc tế và phát triển kinh tế. tuy nhiên
lịch sử chiến tranh liên miên đã để lại những hậu quả của nó. Đó là một đất
nớc mà toàn bộ sức ngời, sức của liên tiếp phục vụ các cuộc chiến tranh, đặc
biệt vừa trải qua hai cuộc kháng chiến chống pháp và Mỹ, kinh tế không đợc
chú trọng phát triển, đã trở nên nghèo làn, lạc hậu, kinh tế chậm phát triển.
Thời kỳ trớc năm 1986, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu
bao cấp, nền kinh tế Việt Nam không phát triển đợc thậm chí có chiều hớng
đình trệ nguy hiểm, nền sản xuất không đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
dạng của xã hội. Hoàn cảnh nớc ta trớc đó đang từ một đất nớc thuộc địa nửa
phong kiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ t bản chủ
nghĩa. Về mặt lý luận, lực lợng sản xuất phát triển đến mức độ nào đó thì mới
thúc đẩy sự biến đổi của quan hệ sản xuất hình thành một mức độ phát triển
mới. Nhng thực tế nớc ta sauchiến tranh cơ sở vật chất xã hội còn nghèo làn,
lạc hậu, đất nớc có 90% làm nông nghiệp, 95% dân c mù chữ vì vậy lực l-
ợng sản xuất không đủ điều kiện tác động đến quan hệ sản xuất cũ lỗi thời
nhằm phá vỡ nó. Hơn nữu với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nhà nớc
không cho phép tồn tài thành phần kinh tế t nhân, xoá bỏ một cách khô cứng
mọi sự t hữu, kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất, nền kinh tế gặp
nhiều khó khăn nghiêm trọng.
2. Kinh tế thị trờng - Bớc phát triển tất yếu khách quan.
Từ những năm đầu thập kỷ 90 trở lại đây có lẽ không còn mấy ai nghi
ngờ của sản xuất hàng hoá, của kinh tế thị trờng trong sự nghiệp xây dựng
đất nớc ở thời kỳ quá độ nên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tuy vậy do những
quan niệm trớc đây về một chủ nghĩa xã hội không có kinh tế hàng hoá,
không có quan hệ thị trờng và bản thân nền kinh tế lại có tính hai mặt của nó
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cho nên trong thực tế việc nhận thức cho đúng vai trò của kinh tế thị trờng
đối với sự nghiệp xây dựng con ngời nhng vẫn còn nhiều vấn đề thảo luận.
Nh chúng ta đã biết, CMác và Ăng-ghen không dự báo về mô hình chủ
nghĩa xã hội không có kinh tế hàng hoá. V.I Lênin, trớc cách mạng tháng 10,
cũng cho trong XNCH, nền kinh tế hàng hoá sẽ bị xoá bỏ Để tổ chức nền
sản xuất không có những nhà kinh doanh . Thế nhng khi nội chiến kết thúc
trớc những nhiệm vụ nặng nề về việc khôi phục nền kinh tế, khắc phục hậu
quả của chính sách cộng sản thời chiến, Lênin đã quyết định thực hiện chính
sách kinh tế mới, mà nội dung chủ yếu là thừa nhận kinh tế hàng hoá, thừa
nhận tự do buôn bán, cho phép tồn tại một giới hạn nhất định thành phần
kinh tế t bản t nhân, sử dụng các hình thức kinh tế quá độ, xem chủ nghĩa t
bản nhà nớc là hợp tác xã nh là những chiếc cầu nhỏ lên CNXH.
Có thể nói, suất một thời gian dài các nhà nớc XHCN (trong đó
có Việt Nam ) đã không nhận thức đúng vai trò của sản xuất hàng hoá, của
kinh tế thị trờng, đã đồng nhất kinh tế sở hữu với hình thức tổ chức nền kinh
tế và thành phần kinh tế, coi nhẹ quy luật giá trị, quy luật cung cầu, phủ
nhận quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Do đối lập kinh tế hàng hoá và thị trờng với
kinh tế kế hoạch hoá, cho thị trờng là phạm trù riêng của chủ nghĩa t bản cho
nên chúng ta chỉ thừa nhận của sản xuất hàng hoá trong khuân khổ của thi
đua XHCN, tách rời một cách siêu hình sản xuất hàng hoá với thị trờng. Bởi
vậy chúng ta đã không tạo đợc động lực để phát triển sản xuất vô tình hạn
chế và ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, năng xuất
lao động tăng chậm gây, rây rối loạn và ách tắc trong lĩnh vực phân phối, lu
thông, làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng kém năng động, trì trệ.
Do thực tế đó, từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng và nhà nớc
ta đã phân tích rõ nguyên nhân thực trạng nền kinh tế và đã thừa nhận sai lầm
khuyết điểm, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu trong sự phát triển
kinh tế và quyết định cho nền kinh tế phát triển theo kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Đến đại hội toàn
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quốc lần thứ VII, Đảng ta đã đề ra đờng lối: Để phát huy vai trò to lớn của
nền kinh tế nhiều thành phần phải tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc bằng pháp
luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác; Nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần là hoàn toàn cần thiết để giải phóng và phát huy đợc các
tiềm năng sản xuất trong xã hội .
Đến đại hội toàn quốc lần VIII, Đảng ta đã xác định rõ hơn vai trò của
kinh tế thị trờng: Cơ chế thị trờng đã phát huy tác dụng tích cực lớn đến sự
phát triển kinh tế xã hội. Nó chẳng có những không đối lập mà còn là một
nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát triển đất nớc theo con
đờng xã hội chủ nghĩa . Kinh tế thị trờng không đồng nhất với kinh tế t bản
chủ nghĩa, không phải là thành quả riêng của chủ nghĩa t bản. Kinh tế thị tr-
ờng đã từng xuất hiện khá sớm trớc CNTB là thành quả chung của văn minh
loài ngời.
Tuy nhiên, Đảng ta không coi cơ chế thị trờng là liều thuốc vạn năng
và vì vậy không khuyến khích phát triển nó về mọi phơng diện. Bởi lẽ đó việc
tuyệt đối hoá vai trò của kinh tế thị trờng sẽ rơi vào một sai lầm nguy hiểm từ
phía khác. Quan hệ thị trờng là môi trờng thuận lợi để phát sinh nhiều tiêu
cực và tệ nạn xã hội. Từ thực tế cho thấy, kinh tế thị trờng dẫn đến việc làm
ăn thuần tuý chạy theo lợi nhuận, dẫn đến các hình thức lừa đảo, hối lộ, trốn
thuế, nợ lần khó trả; thơng mại hoá một cách tràn lan, xâm nhập cả vào các
lĩnh vực dễ tổn thơng nh y tế, giáo dục, văn hoá làm giá trị đạo đức - tinh
thần bị xuống cấp; đồng tiền đã chi phối quan hệ giữa ngời với ngời; sự phân
hoá giàu nghèo và bất công xã hội có chiều hớng tăng lên; lối sống ích kỷ,
thực dụng có nguy cơ ngày càng tăng Sự đổi mới cơ chế kinh tế đã làm cho
hệ thống giá trị xã hội có ít nhiều thay đổi cùng với những giá trị và chuẩn
mực mới đã phần nào chi phối đến đời sống của từng cá nhân trong xã hội từ
đó hình thành nên những con ngời mới. Vì vậy việc hình thành nhân cách con
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ngời trong nền kinh tế thị trờng đang là một vấn đề đợc sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu kinh tế - xã hội.
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phần II
Vai trò của chủ thể - xã hội, cá nhân trong việc
định hớng nhân cách.
1. Bản chất con ngời và sự hình thành nhân cách.
* Chủ nghĩa Mác khi nghiên cứu về bản chất con ngời đã đi tới một
quan niệm toàn diện về con ngời hiện thực, con ngời hoạt động thực tiễn cải
tạo tự nhiên và xã hội. Chủ nghĩa Mác xem xét con ngời nh một thực thể sinh
vật - xã hội.
Con ngời là sản phẩm của tự nhiên là kết quả của sự tiến hoá lâu dài,
của thế giới hữu sinh. cái sinh học trong con ngời quy định sự hình thành
những hiện tợng và quá trình tâm lý trong con ngời, là điều kiện quy định sự
tồn tại của con ngời. Con ngời là sản phẩm của xã hội, là con ngời xã hội,
mang tính xã hội. Con ngời chỉ có thể tồn tại đợc một khi con ngời lao động
sản xuất ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu sinh học của mình. Con ngời và
ý thức. Chính lao động sản xuất là yếu tố quyết định hình thành con ngời và ý
thức. Lao động là nguồn gốc tạo ra nền văn hoá vật chất và tinh thần. Mặt
khác, trong lao động, con ngời quan hệ với nhau trong lĩnh vực sản xuất, đó
là những quan hệ nền tảng để từ đó hình thành các quan hệ xã hội khác trong
các lĩnh vực của đời sống tinh thần. Nh vậy chính lao động đã quy định bản
chất xã hội của con ngời, quy định cái xã hội trong con ngời; và cái xã hội
đến lợt nó, lại quy định hinh thành và nhân cách.
Với t cách là con ngời xã hội, là con ngời hoạt động thực tiên, con ng-
ời sản xuất ra của cải vật chất, tác động vào tự nhiên để cải tạo tự nhiên.
trong quá trình cải biến tự nhiên, con ngời cũng tạo ra lịch sử của mình. Con
ngời không những là sản phẩm của xã hội mà còn là chủ thể cải tạo xã hội.
Tồn tại, con ngời là thực thế thống nhất sinh học xã hội Trong quá trình hiện
thực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà những quan hệ xã hội . Theo
Mác trớc hết, bản chất trung nhất, sâu sắc nhất của con ngời là tổng hoà mối
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quan hệ giữa ngời với ngời trong xã hội hiện tại và trong quá khứ. Hai là bản
chất con ngời không phải là cố định bất biết mà có tính lịch sử - cụ thể. Ba là,
không thể hiểu bản chất con ngời bên ngoài mối quan hệ giữa cá nhân và xã
hội.
Tuy nhiên ta cần thấy rằng Mác không hề phủ nhận mặt tự nhiên cái
sinh học trong việc xác định bản chất con ngời. Hơn nữa, cái bản chất không
phải là cái duy nhất mà chỉ là cái chung nhât, sâu sắc nhất; do đó khi nhấn
mạnh bản chất xã hội của con ngời, trong khi nhận rõ cái xã hội không thể
tách rời các sinh học trong con ngời, ta cần phải chú ý tới tính riêng biệt và
phong phú của mỗi cá nhân đợc quy định bởi t chất di truyền học, yếu tố bản
năng và trực giác, yếu tố ý thức, cái tôi của chủ thể. Nh vậy sẽ là sai lầm nếu
không hiểu bản chất chung của con ngời hay quy tất cả những gì của con ng-
ời chỉ vào bản chất.
Cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất bao gồm những đặc điểm cụ thể,
không lặp lại kết hợp với đặc điểm chung của bản chất ngời có vị trí xã hội và
thực hiện những chức năng xã hội.
Khái niệm nhân cách chỉ bản sắc độc đáo của mỗi cá nhân, là toàn bộ
những đặc tính và bản chất xã hội - Sinh lý- Tâm lý của cả nhân tạo thành
chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự khảng định, tự điều chỉnh mọi
hoạt động của mình.
Nhân cách hình thành và phát triển phụ thuộc vào ba yếu tố. Thứ nhất,
nhân cách phải dựa trên tiền đề sinh học và di chuyền học. Hai là, môi trờng
xã hội là yếu tố quy định sự hình thành và phát triển nhân cách. Đó là môi tr-
ờng gia đình, trờng học và xã hội, môi trờng này có thể tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp. Quan hệ giữa cá nhân và môi trờng xã hội là quan hệ biện
chứng. Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân bao gồm
quan điểm, lý luận, niềm tin định hớng giá trị
Nh vậy có thể nói, sự hình thành bản chất và nhân cách con ngời vừa
phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan vừa phụ thuộc vào các yếu tố khách quan.
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2. Vai trò của chủ thế - xã hội, cá nhân- trong việc định hớng nhân cách.
Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, xã hội là mối quan hệ biện chứng
đợc thực hiện trên nền tảng lợi ích trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội, xã
hội giữ vai trò quyết định.
Thực chất của việc tổ chức trật tự xã hội xắp xếp các quan hệ lợi ích
sao cho khai thác đợc cao nhất khả năng của mỗi thành viên vào các quá
trình kinh tế xã hội và thúc đẩy các quá trình đó phát triển nền trình độ cao
hơn. Xã hội là môi trờng. Là phơng thức để lợi ích cá nhân đợc thực hiện; xã
hội càng phát triển thì cá nhân nhận thức đợc ngày càng nhiều giá trị vật chất
và tinh thần.
Vai trò của cá nhân ảnh hởng tới xã hội tuỳ thuộc vào trình độ phát
triển của nhân cách. Những cá nhâ có tài năng, phẩm chất, kinh nghiệm cao,
có trách nhiệm cao đối với xã hội thực hiện tốt nghĩa vụ đối với xã hội sẽ góp
phần thúc đẩy xã hội phát triển. Những cá nhân bị thoái hoá biến chất về
nhân cách sẽ gây ảnh hởng xấu tới xã hội, cản trở sự phát triển của xã hội
ngợc lại, sự hình thành nhân cách của cá nhân cũng còn phụ thuộc vào trình
độ văn minh khác nhau của chế độ xã hội.
Văn hoá có ý nghĩa rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của cá nhân
xã hội. Văn hoá có ảnh hởng tới toàn bộ hoạt động của mỗi cá nhân. Nó cho
mỗi ngời một lối sống, một phong cách nhất định. con ngời sinh ra, lớn lên
hay nhân cách đợc hình thành trong môi trờng văn hoá nào sẽ đậm nét dấu ấn
của nền văn hoá đó. Quá trình xã hội hoá là một khía cạch của văn hoá. ở
đây văn hoá có thể coi nh khuân để đúc lên nhân cách con ngời. Tất nhiên,
văn hoá tạo nên nhân cách con ngời hoàn toàn không cứng nhắc, nó còn phục
thuộc vào sự thích nghi của từng ngời.
Mỗi ngời trong xã hội nào đó đều mang một dấu vết văn hoá đặc trng
trong nhân cách của minh. Ngợc lại, thiếu nhân cách, văn hoá sẽ phát triển
một chiều, nền văn minh sẽ bị méo mó, con ngời sẽ trở thành phơng tiện
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thuần tuý cho nền văn minh trí tuệ, chứ không phải trí tuệ con ngời tạo ra các
giá trị của nền văn minh đơng đại.
Tóm lại, văn hoá là sản phẩm của loài ngời, văn hoá đợc tạo ra và phát
triển trong quan hệ qua lại giữa con ngời và xã hội. Song chính văn hoá lại
tham gia vào việc tạo lên con ngời, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
Văn hoá đợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua quá trình xã hội hoá.
Xã hội hoá là một quá trình nhờ đó nền văn hoá đợc truyền bá từ thế
hệ này sang thế hệ khác. Đó là quá trình gián tiếp học hỏi, qua đó cá nhân có
thể phát triển bản chất xã hội. Và có khả năng tham gia vào đời sống xã hội.
Thiếu mối quan hệ này thì cá nhân và xã hội đều không thể tồn tại đợc. Mỗi
giai đoạn của cuộc sống có những đặc điểm, có những bớc chuyển quá độ
hoặc những cuộc khủng hoảng cần vợt qua. Còn nhân cách con ngời đợc hiểu
một cách toàn diện là tài đức, là năng lực thể chất, là năng lực trí tuệ, trạng
thái tinh thần tình cảm của mỗi cá nhân bao gồm cả nhận thức tình cảm, hành
động phong thái, tính khí, lối sống của họ. Đó là sự thống nhất những mặt cá
nhân và mặt xã hội của mỗi con ngời trớc hiện thực. Bằng sự hoạt động của
bản thân, dới sự hớng dẫn, giáo dục của thế hệ trớc, từ các quan hệ xã hội,
tập thể, nhóm, con ngời hình thành và phát triển nhân cách của mình.
Nói tóm lại, chủ thể xã hội và cá nhân đều đóng một vai trò quan trọng
nhất định trong sự định hớng hình thành và phát triển nhân cách của bản thân
mỗi con ngời.
Phần III
Những đặc trng của cơ chế thị trờng đến việc hình
thành nhân cách.
1. Những ảnh hởng tích cực và tiêu cực.
Trong những năm vừa qua, kinh tế thị trờng ở nớc ta đã đợc nhân dân
hởng ứng rộng rãi vai trò rất nhanh chóng, góp phần khơi dậy tiềm năng sáng
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tạo, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sôi nổi hơn, bộ mặt thị trờng
đợc thay đổi và trở nên sôi động hơn. Cụ thể là: việc hình thành nền kinh tế
nhiều thành phần, xoá bỏ về cơ bản cơ chế tập trung quan liêu bao cấp bớc
đầu chuyển sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, giảm tốc độ lạm
phát, tăng nhanh xuất khẩu và có bớc phát triển mới đối ngoại, khởi động tiến
trình dân chủ hoá, giữ vững đợc cuộc sống, ổn định chính trị, xã hội. Chính
những thành tựu đó đang tạo ra những điều kiện mới cho sự hình thành và
phát triển nhân cách con ngời.
Dới tác động của quy luật lợi nhuân, cạnh tranh, cung câu, nền thị tr-
ờng có sức động viên to lớn các nguồn lực tài nguyên và con ngời phát triển,
nó giúp cho con ngời sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên vào sức lao
động phục vụ cho sự tăng trởng kinh tế. Chính nền kinh tế thị trờng đang tạo
thuận lợi cho sự phát triển của mỗi cá nhân về phơng diện, nhất là phơng diện
tài năng và trí tuệ.
Bên cạch đó, sẹ cạnh tranh trên thị trờng làm cho con ngời năng động
hơn, sáng tạo hơn nhng nhiều khi cũng làm mất đi lòng nhân ái, tính vị tha,
biến con ngời thành những cỗ máy chỉ biết tính toán một cách xòng phẳng
lạnh lung, thiếu nhân tính, quan hệ hàng hoá - tiền tệ làm sông động thị tr-
ờng, nhng cũng làm xói mòn nhân cách và hạ thấp phẩm giá con ngời.
Những phân tích trên đây cho thấy, kinh tế thị trờng và mục tiêu xây
dựng con ngời chủ nghĩa xã hội là một mâu thuẫn biện chứng trong thực tiễn
nớc ta hiện nay. Đây cũng là hai mặt đối lập của một mâu thuẫn xã hội. Trớc
kinh tế thị trờng và quá trình xây dựng con ngời vừa có sự thống nhất, vừa có
sự đấu tranh, kinh tế thị trờng vừa tạo ra những điều kiện để phát huy nguồn
lực con ngời, vừa tạo ra những độc tố đầu độc huỷ hoại con ngời.
2. Những nguyên nhân cơ bản của sự ảnh hởng tiêu cực của cơ chế thị tr-
ờng trong việc hình thành nhân cách:
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Những mặt tiêu cực nói trên, trong đó có những dấu hiệu đáng lo ngại,
nhất là những hạn chế, tiêu cực về mặt xã hội nhân cách con ngời đòi hỏi
chúng ta phải phan tích nguyên nhân tìm ra giải pháp tích cực hữu hiệu mới
có thể khắc phục đợc. Có thể nói một trong những nguyên nhân các hiện tợng
tiêu cực đó là trong quá trình đổi mới, chúng ta cha lờng hết các phức tạp và
những tác động trong việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và
trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trờng, chậm phát triển và khắc phục
những vấn đề mới nảy sinh và những sơ hở trong các quyết định cùng với
những khó khăn trong kinh tế, còn có những khó khăn trong các lĩnh vực
khác, hệ thống pháp luật, thể chế và bộ máy cha chuyển kịp với nền sản xuất
hàng hoá và cơ chế thị trờng. Trật tự kỷ cơng cha đợc chấp hành nghiêm túc,
vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nớc còn kém hiệu lực. Nhà nớc còn thiếu chính
sách, biện pháp có hiệu lực để ngăn chặn thu nhập vi pháp luật nhà nớc
không nghiêm, thiếu sự chặt chẽ và phối hợp dồng bộ trong công tác quản lý,
điều hành đã ảnh hởng không tốt đến quá trình hình thành và phát triển nhân
cách con ngời Việt Nam.
Liên hệ với các nớc xung quanh, khi nói về nhân cách con ngời trong
quá trình đô thị hóa, một chính trị gia ấn độ - Ông nêru - đã kịch liệt phê
phán đầu óc nhân bản chủ nghĩa ở ấn Độ trớc đây: Đắm chìm trong các tín
điều tôn giáo, coi thờng tinh thần duy lý lên từng bị tụt hậu trớc bớc tiến của
cuộc cách mạng khoa học - Kỹ thuật nhng khi chứng kiến các đô thị phồn
vinh theo con đờng t bản phơng tây qua các thành phố, ông liền chỉ ra 7 lối
sống đô thị: làm chính trị mà tuỳ tiện không nghiêm khắc, giàu có mà không
chịu làm việc; hởng thụ mà không ý thức ngời làm ra của cải; kiến thức mà
thiếu cá tính bản
Sắc riêng,buôn bán mà không có đạo lý; làm khoa học mà không có lơng
tâm; thờ cúng mà không có hi sinh
Đô thị bao giờ cũng là nơi tập trung các bộ quản lý, viên chức Nhà n-
ớc, ngời lao động chất xám, nhà buôn, kẻ giàu và cả những ngời tu hành
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trong hệ thống các nhà thờ, nhà chùa Nếu các tầng lớp này không đề cao
phẩm chất cuộc sống, thì đô thị chỉ có văn minh vật chất chứ không thể có
văn minh tinh thần chân chính.
Kinh nghiệm của các nớc chậm tiến thuộc thế giới thứ ba, khi muốn v-
ơn lên thế giới đang phát triển, thì điều trớc tiên phải khắc phục t tởng trì trề,
bảo thủ, lối sống tiểu nông, tầm nhìn thiển cận do nhịp điệu của phơng thức
sản xuất cũ đẻ ra.
Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã tổng kết lối sống trì trệ ấy thành 4
chữ D:
- Do dễ dãi, tuỳ tiện khi bắt tay vào làm một việc gì, nên dễ tự bằng
lòng với việc đó (D
,
accord).
- Do đầu óc thiếu kế hoạch phân tích tính toán, làm việc không dứt
điểm, nên luôn sai phạm và cứ kéo dài ngày mai lại ngày mai (Demain).
- Việc làm không sòng phẳng, ảnh hởng đến kế hoạch chung, nếu ai đó
thúc giục thì cứ nói đến: Bình tĩnh, bình tĩnh (doncement)
- Lối sống nh thế tất nhiên khó thích nghi với thời đại khoa học kỹ
thuật và không thể thành đạt trong công việc; khi hối hận thì đã thất bại và
biểu thị t tởng rất tiếc (Dommage).
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phần IV:
Những giải pháp cần khắc phục
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng muốn xây dựng chủ nghĩa trớc hết
phải có con ngời xã hội chủ nghĩa. Yếu tố con ngời giữ một vai trò cực kỳ
quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, bởi vì con ngời là chủ thể của mọi
sáng tạo, của mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa. Con ngời phát triển cao
về trí tuệ, cờng tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo
đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội. Từ một nớc nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH, chúng ta phải
bắt đầu từ con ngời, lấy con ngời làm điểm xuất phát Nh vậy để xây dựng
con ngời toàn diện về mọi mặt, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trờng nh hiẹn
nay thì vấn đề hình thành nhân cách con ngời đóng một vai trò cực kỳ quan
trọng, và để thực hiện đợc điều đó thì chúng ta cần thực hiện một giải pháp
nhất định.
Để xây dựng nhân cáhc đạo đức, trớc hết cần phải tính đến những nhân
tố cơ bản quy định sự hình thành và phát triển nhân cách đạo đức ddể từ đó
rút ra những giải pháp khả thi.
1.Giải quyết quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội- vấn đề công bằng xã
hội:
Ngày nay, cơ chế thị trờng là biến đổi tính chất của việc giải quyết
quan hệ lợi ích giữa cá nhân và lợi ích xã hội. Thực hiện cơ chế thị trờng
nghĩa là thừa nhậ tính hợp lý của việc theo đuổi lợ ích cá nhân. Tính hợp lý
và hợp pháp của lợi ích cá nhân kích thích tính tích cực vào các hoạt động
kinh tế, xã hội trong điều kiện kinh tế thị trờng sẽ là cho những năng lực
nhân cách phát triển. Đến lợt mình, sự phát triển nhân cách độc lập chính là
điều kiện cho sự phát triển năng lực đạo đức của con ngời. Chính tại đây có
thể nói đến tự do đạo đức với tính cách là dấu hiệu cho sự phát triển nhân
cách đạo đức một cách đầy đủ.
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Sự tồn tại của con ngời bao giờ cũng gắn liền với sự tồn tại những nhu
cầu của họ. Độ chênh lệch nhau giữa nhu cầu cuộc sống của con ngời với khả
năng hiện thực của xã hội là mâu thuẫn đòi hỏi phải giải quyết. Chính những
phơng thức giải quyết mâu thuẫn này làm nảy sinh những vấn đề công bằng
xã hội. Công bằng xã hội là phơng thức đúng đắn nhất để làm thoả mãn một
cách hợp lý những nhu cầu của các tầng lớp xã hội và các cá nhân xuất phát
từ khả năng hiện thực của những điều kiện xã hội nhất định.
2. Sự phát triển nhân cách đạo đức phải đợc thể hiện trong những hành
vi đạo đức thực tế.
Hành vi đạo đức là hành vi đợc thực hiện bởi sự điều tiết của ý thức
đạo đức mà trong đó các chuẩn mực đạo đức giữ vai trò trung tâm.
Hiện nay,sự qquá độ về đạo đức đang gây ra những khó khăn cho việc
xây dựng và phát triển nhân cách. Những chuẩn mực cũ đã lỗi thời nhng
trong nhiều trờng hợp vẫn đợc ngộ nhận nh là giá trị. Những chuẩn mực mới
đang hình thành cha đủ sức sáng lập tính phổ biến trong hiệu lực định hớng
nhân cách. Nh vậy, để chủ động xây dựng nhân cách đạo đức trong điều kiện
hiện nay, cần xác lập một hệ thống chuẩn mực đạo đức mới, hiện đại, phù
hợp với những yêu cầu của xã hội hiện đại.
Trong bối cảnh của sự hội nhập quốc tế mang tính toàn cầu, hệ chuẩn
mực đạo đức của mỗi quốc gia không thể không mang tính quốc tế. Bởi vậy,
tiếp nhận những giá trị, những chuẩn mực đạo đức tiến bộ và hiện đại của
nhân loại, làm phong phú hệ chuẩn mực đạo đức dân tộc là cần thiết. Tuy
nhiên, việc tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức ngoại lai cũng không thể tuỳ
tiện đợc. Sự đụng độ giá trị có thể làm huỷ hoại những chuẩn mực dân tộc,
truyền thống. Giải quyết một cách biện chứng quan hệ giữa cái phổ biến và
cái đặc thù trong trờng hợp này là dân tộc hoá những giá trị, những chuẩn
mực đạo đức ngoại nhập để chúng có thể tham gia vào hệ chuẩn mực hiện đại
của dân tộc nh là những yếu tố hữu cơ.
Bên cạnh việc xây dựng hệ chuẩn mực đạo đức xã hội, cần xây dựng
những bộ luật đạo đức nghề nghiệp. Tính đặc thù nghề nghiệp và lĩnh vực
Vũ Thị Nh Quỳnh - Lớp K6
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét