Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
ở Anh:
Sau cách mạng ánh sáng 1688 Châu Âu chỉ có vơng quốc Anh công nhận
tính pháp lý của bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy mà trong suốt ba thập kỷ sau cách
mạng ánh sáng ở Anh dịch vụ này phát triển mạnh mẽ. Công ty bảo hiểm nhân
thọ ra đời đầu tiên ở Anh (1762). Trong suốt quá trình công nghiệp hoá, dịch vụ
bảo hiểm nhân thọ có rất nhiều bớc phát triển. Năm 1879 chính phủ Anh thông
qua đạo luật bồi thờng cho ngời lao động. Đạo luật này buộc các công ty phải
đóng bảo hiểm tai nạn lao động cho nhân viên. Trong thế kỷ 19 ngời ta đã lập ra
rất nhiều hội đoàn có trách nhiệm bảo hiểm nhân mạng và sức khoẻ cho hội viên.
Bên cạnh đó cũng có một số hội kín chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm lệ phí thấp cho
những ai là hội viên của họ. Ngày nay các hội kín này vẫn tiếp tục bảo hiểm cho
hội viên, điều này cũng diễn ra tơng tự ở hầu hết các tổ chức của ngời lao động.
Có nhiều chủ sử dụng lao động còn lo luôn một lúc nhiều HĐBH nhân thọ và sức
khoẻ cho nhân viên. Các hợp đồng này không chỉ đơn thuần bảo hiểm nhân thọ mà
còn đảm bảo cho nhân viên có cuộc sống ổn định khi họ bị bệnh, tai nạn hay về h-
u. Chính các hình thức này là tiền thân của loại hình bảo hiểm con ngời ngày nay.
Do có một chiều dài lịch sử phát triển nên ngày nay Anh vẫn là một trong những
thị trờng bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới với các công ty bảo hiểm nhân thọ
xuyên quốc gia điển hình nh Prudential
ở Mỹ:
Bảo hiểm ở Hoa Kỳ đợc xây dựng trên mô hình bảo hiểm Anh. Vào năm
1735 công ty bảo hiểm đầu tiên của Hoa Kỳ đã ra đời ở Chaleston. Năm 1759 hội
nghị giáo hội trởng lão PhiladenPhia đã quyết định bảo trợ cho tập đoàn bảo hiểm
nhân thọ đầu tiên của Hoa Kì. Ngày 22-5-1761, tập đoàn này đã kí kết đợc HĐBH
nhân thọ đầu tiên với công chúng Mỹ. Mãi đến 80 năm sau dịch vụ bảo hiểm nhân
thọ Mỹ mới thực sự phát triển. Chìa khoá dẫn đến thành công chính là nhờ các
công ty bảo hiểm đã hạn chế đợc những sự chống đối từ các nhóm tôn giáo.
Năm 1835 ở New York đã xảy ra một vụ hoả hoạn đầy tai tiếng. Vụ hoả
hoạn này khiến ngời dân ở đây lu tâm nhiều hơn đến nhu cầu phải có nguồn dự trữ
5
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
để bù đắp cho những thiệt hại nghiêm trọng không thể lờng trớc đợc. Hai năm sau
Massachusetts trở thành bang đầu tiên ở Mỹ sử dụng luật pháp buộc các công ty
phải tích luỹ nguồn dự trữ này.
Từ đó đến nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế ngành bảo
hiểm của nớc này cũng phát triển mạnh theo hớng từ một vài công ty ban đầu trở
thành ngành công nghiệp có quy mô lớn. Mặc dù bảo hiểm Hoa Kỳ chịu ảnh hởng
sâu sắc bởi vơng quốc Anh nhng thị trờng bảo hiểm nớc này lại phát triển theo h-
ớng có phần khác với Anh. Và ngày nay lĩnh vực bảo hiểm ở Mỹ phát triển nhất
thế giới.
* ở Việt Nam:
Luật KDBH 2000 ghi nhận thuật ngữ bảo hiểm con ngời, trớc đó trong
các nghị định, thông t ghi nhận thuật ngữ bảo hiểm nhân thọ mà không hề nhắc
đến khái niệm bảo hiểm con ngời. Vì vậy, chúng ta nghiên cứu sự phát triển của
bảo hiểm con ngời từ loại hình chủ yếu là bảo hiểm nhân thọ cho đến Luật KDBH
2000 (với khái niệm bảo hiểm con ngời) và sự phát triển của bảo hiểm con ngời từ
năm 2000 đến nay.
Sự phát triển của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng gắn
với lịch sử đất nớc. Nếu lấy năm 1993 với Nghị định 100 CP (18-12-1993) về
KDBH ra đời, thì trớc năm 1993 bảo hiểm Việt Nam nói chung không phát triển.
Nguyên nhân là do đất nớc trải qua chiến tranh kéo dài và bị chia cắt thành hai
miền khác nhau, mãi cho đến năm 1975 đất nớc mới hoàn toàn giải phóng. Và từ
năm 1975 đến năm 1993 là thời kì bảo hiểm độc quyền: chỉ có công ty bảo hiểm
Việt Nam (Bảo Việt). Đây cũng là thời kì thử nghiệm nên số nghiệp vụ cha nhiều,
phí bảo hiểm cha phản ánh đầy đủ xác suất rủi ro.
Có thể nói Nghị định 100 CP ngày 18-12-1993 là mốc đánh dấu sự thay đổi
và phát triển của bảo hiểm Việt Nam. Nghị định quy định về địa vị pháp lí của các
doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), cho phép sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế vào hoạt động KDBH, trong đó chú trọng đến các nhà đầu t nớc ngoài để thúc
đẩy sự phát triển của bảo hiểm trong nớc. Trong Nghị định đã đề cập đến khái
6
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
niệm: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tai nạn con ngời theo khoản 1 và khoản 2 Điều
7 và đây cũng là những đối tợng của bảo hiểm con ngời sau này.
Sau khi Nghị định 100 CP ra đời, để cụ thể hoá sự điều chỉnh của pháp luật
đối với hoạt động bảo hiểm. Bộ tài chính đã ra thông t hớng dẫn:
Thông t 46 của Bộ tài chính ngày 30-5-1994 về hớng dẫn thi hành Nghị
định 100 CP của chính phủ về hoạt động bảo hiểm.
Sau Nghị định 100 CP phải kể đến Bộ luật dân sự 1995 có những điều
khoản cụ thể quy định về HĐBH (Nghị định 100 CP cha đề cập đến). Các quy
định này tơng đối có hệ thống, có sự liên kết với các quy định về giao dịch dân sự.
Mặc dù cha mang tính cụ thể, chi tiết nhng những quy định của Bộ luật dân sự là
tiền đề quan trọng cho việc áp dụng, thực hiện các quy định của HĐBH con ngời
sau này.
Nếu chỉ có các quy định của Bộ luật dân sự về HĐBH thì quá chung chung,
không thể đáp ứng các nhu cầu của con ngời và các vụ tranh chấp sẽ xảy ra do
những quy định không rõ ràng của pháp luật. Từ thực tế đó, để đáp ứng nhu cầu
đảm bảo cho tơng lai của con ngời, Luật KDBH 2000 ra đời với mục đích để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; đẩy
mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm, góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển
bền vững của nền kinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân dân, tăng cờng hiệu lực
quản lí nhà nớc đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.[7] Nội dung chủ yếu và
quan trọng của luật là quy định về HĐBH (từ Điều 12 đến Điều 57), và cũng từ
luật này đã ghi nhận HĐBH con ngời (từ Điều 32 đến Điều 39). Với cha đầy 10
điều nhng luật đã có qui định về đối tợng, số tiền, quyền và nghĩa vụ của các bên,
các trờng hợp không trả tiền bảo hiểm trong HĐBH con ngời. Những điều khoản
này là căn cứ để ký kết và thực hiện HĐBH con ngời.
Khi có những cơ sở pháp lý để cho việc thực hiện HĐBH con ngời thì cũng
cần phải có đờng lối chiến lợc đúng đắn, để đáp ứng đợc yêu cầu đó Thủ tớng
Chính Phủ đã ra quyết định Quyết định 175 / 2003 về phê duyệt Chiến lợc phát
triển thị trờng bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu
bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân c, bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân đợc
7
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
thụ hởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế, thu hút các nguồn lực
trong nớc và nớc ngoài cho đầu t phát triển kinh tế xã hội, nâng cao năng lực tài
chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng
yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế.[9] Giải pháp đợc đề cập đến đó là: Nhà
nớc có chính sách khuyến khích ngời dân tham gia bảo hiểm nhân thọ, u tiên phát
triển các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có tính chất đầu t dài hạn. Bảo hiểm con
ngời với sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là chủ yếu đã, đang và sẽ đợc đợc chú trọng,
quan tâm của Đảng và Nhà nớc.
Sau khi luật KDBH ra đời chính phủ ban hành Nghị định 42/2001 NĐCP
ngày 1/8/2001nhằm quy định chi tiết thi hành Luật KDBH để các quy định này đi
vào cuộc sống.
Bộ luật dân sự 2005 ghi nhận quy định HĐBH, trong đó có hai hình thức
bảo hiểm là bắt buộc và tự nguyện. Tính mạng và sức khoẻ con ngời là đối tợng
của bảo hiểm tự nguyện. Bộ luật cũng quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các
bên và quyền đơn phơng đình chỉ hợp đồng của bên bảo hiểm nếu bên mua bảo
hiểm cố ý cung cấp thông tin không đúng về đối tợng bảo hiểm nhằm giao kết hợp
đồng để hởng tiền bảo hiểm (Điều 577 Bộ luật dân sự)
Tóm lại từ năm 1993 đến nay pháp luật về hợp đồng nói chung và HĐBH
con ngời nói riêng luôn có sự phát triển để phù hợp hơn với nhu cầu thực tế của
con ngời, đó cũng là quy luật tất yếu của sự phát triển. Pháp luật hoàn thiện là cơ
sở để hạn chế tranh chấp xảy ra và hợp đồng thực hiện trong thực tế đợc thuận lợi.
Từ các quy định của luật thấy rằng HĐBH con ngời nói chung và HĐBH
nhân thọ nói riêng không phải là một hợp đồng bồi thờng. Mục đích của nó là
cung cấp một khoản tiền cụ thể khi xảy ra những sự kiện đợc nêu trong HĐBH.
Xét về khía cạnh vật chất cuộc sống con ngời là vô giá và rõ ràng là không phải
bất kỳ một tổ chức nào cũng có thể cung cấp cho một ngời một giá trị tơng đơng
với việc mất đi một sinh mạng.
1.2. Những quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm con ngời
1.2.1. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm con ngời:
* Khái niệm
8
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
Trớc tiên để đi đến tìm hiểu khái niệm HĐBH con ngời chúng ta phải tìm
hiểu thế nào là HĐBH. Theo Điều 567 Bộ luật dân sự 2005: HĐBH là sự thoả
thuận giữa các bên theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên
bảo hiểm phải trả một khoản tiền cho bên bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Từ khái niệm trên cho thấy HĐBH là sự thoả thuận giữa hai bên chủ thể đó là bên
mua bảo hiểm (ngời tham gia bảo hiểm) và bên bảo hiểm (DNBH) với điều kiện là
bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm để khi xảy ra sự kiện bảo hiểm bên bảo
hiểm phải trả một khoản tiền cho bên mua bảo hiểm.
Khác với Bộ luật dân sự 2005 Luật KDBH 2000 có mở rộng phạm vi chủ
thể trong HĐBH con ngời. Theo Điều 12 Luật KDBH thì HĐBH là sự thoả thuận
giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm theo đó bên mua bảo hiểm phải
đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ h-
ởng hoặc bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Rõ ràng Luật KDBH không chỉ quy định chung chung là DNBH phải trả
một khoản tiền cho bên mua bảo hiểm nh Bộ luật dân sự mà chỉ rõ DNBH phải trả
tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng hoặc bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm. Chúng ta sẽ thấy rõ điều này khi nghiên cứu các quy định của
HĐBH con ngời trong các phân tích tiếp theo.
Khác với Việt Nam, Thái Lan là một nớc có nền kinh tế phát triển khá trong
khu vực nên lĩnh vực bảo hiểm cũng đợc chú trọng từ sớm. Các quy định của pháp
luật về bảo hiểm đợc quy định chủ yếu trong Bộ luật dân sự và thơng mại Thái
Lan. Ngay từ năm 1992 Thái Lan có đạo luật bảo hiểm nhân thọ nhằm điều chỉnh
hoạt động của công ty bảo hiểm nhân thọ. Do vậy nếu so sánh chúng ta sẽ thấy đ-
ợc điểm khác biệt trong các quy định về luật bảo hiểm giữa hai nớc.
Điều 861 Bộ luật dân sự và thơng mại Thái Lan có khái niệm: HĐBH là
hợp đồng trong đó một ngời đồng ý bồi thờng hoặc trả một số tiền trong trờng hợp
mất hàng hoặc xảy ra bất cứ sự cố nào trong tơng lai quy định trong HĐBH và ng-
ời kia đồng ý trả cho việc đó một số tiền gọi là phí bảo hiểm. Theo khái niệm trên
thì ở Thái Lan việc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra bất cứ sự cố nào trong tơng lai quy
định trong HĐBH (Việt Nam là khi có sự kiện bảo hiểm do các bên thoả thuận
9
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
hoặc theo quy định của pháp luật), nên phạm vi trả tiền bảo hiểm của Thái Lan mở
rộng hơn.
Đó là HĐBH còn HĐBH con ngời cũng là HĐBH nhng đối tợng của nó chỉ
liên quan đến tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ, tai nạn con ngời; vì thế theo tác giả:
HĐBH con ngời là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và DNBH để bảo
hiểm cho tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ, tai nạn của ngời tham gia bảo hiểm hoặc
ngời đợc chỉ định trong hợp đồng; theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo
hiểm và DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng hoặc bồi thờng cho ngời
đợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
1.2.2. Đặc điểm hợp đồng bảo hiểm con ngời
* Hợp đồng bảo hiểm con ngời là hợp đồng thanh toán có định mức
Đối tợng của bảo hiểm con ngời là tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ, tai nạn
con ngời. Đó là những thứ vô giá không thể tính toán đợc, không thể xác định đợc
chính xác và trên thực tế không bù đắp nổi. Không ai có thể xác định đợc tính
mạng con ngời trị giá là bao nhiêu. Vì thế trong HĐBH con ngời không tồn tại
điều khoản giá trị bảo hiểm. Nghĩa vụ của DNBH ở đây là trả tiền bảo hiểm theo
thoả thuận trong hợp đồng và không phải là trách nhiệm bồi thờng tổn thất mà là
giúp đỡ về mặt vật chất cho ngời đợc bảo hiểm. Và cũng chính từ đối tợng HĐBH
con ngời không thể tính toán đợc thành tiền nên số tiền DNBH trả cho khách hàng
chỉ có thể là một số tiền đợc ấn định sẵn ngay từ khi ký kết hợp đồng. Khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm bên bảo hiểm sẽ thanh toán cho bên tham gia bảo hiểm và thờng
không bị giới hạn bởi nguyên tắc giá trị thiệt hại giống nh HĐBH tài sản và
HĐBH trách nhiệm dân sự.
Chính từ đặc điểm này mà ngời tham gia HĐBH con ngời khi ký hợp đồng
cần cân nhắc dựa trên mức thu nhập, khả năng tài chính để quyết định số tiền tham
gia phù hợp.
* Hợp đồng bảo hiểm con nguời không áp dụng nguyên tắc bảo hiểm
trùng và nguyên tắc thế quyền
10
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
Điều 44 Luật KDBH có nêu bảo hiểm trùng là trờng hợp bên mua bảo
hiểm giao kết HĐBH với hai DNBH trở lên để bảo hiểm cho cùng một đối tợng
với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm
Khoản 2 Điều 44 có quy định: tổng số tiền bồi thờng của các DNBH không
vợt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản. Vì thế mà HĐBH con ngời không áp
dụng nguyên tắc này. Và một thực tế là đối tợng HĐBH con ngời không thể tính
toán đợc thành tiền nên nếu một ngời tham gia đồng thời nhiều HĐBH với nhiều
DNBH khác nhau thì họ có quyền nhận đầy đủ các khoản tiền từ các DNBH đó
theo thoả thuận trong hợp đồng, chứ không bị giới hạn về giá trị thiệt hại giống
nh bảo hiểm tài sản.
Trong HĐBH con ngời cũng không áp dụng nguyên tắc thế quyền. Điều đó
có nghĩa là ngời bảo hiểm sau khi đã thanh toán, chi trả số tiền bảo hiểm, không đ-
ợc phép thế quyền ngời tham gia bảo hiểm hay ngời thụ hởng quyền lợi bảo hiểm
để khiếu nại ngời thứ ba truy đòi số tiền bảo hiểm tơng ứng. Hay nói cách khác,
một ngời có thể đồng thời nhận nhận đợc khoản chi trả thanh toán của công ty bảo
hiểm và khoản bồi thờng của ngời thứ ba gây thiệt hại. Đặc điểm này mang lại lợi
ích cho khách hàng khi tham gia HĐBH con ngời
* Hợp đồng bảo hiểm con ngời đáp ứng rất nhiều mục đích khác nhau
của ngời tham gia bảo hiểm.
Trớc hết đặc điểm này thể hiện ngay trong các loại HĐBH, bởi mỗi đối tợng
của bảo hiểm con ngời: tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ, tai nạn đều có thể làm nên
một hợp đồng riêng và trong mỗi loại hợp đồng có nhiều sản phẩm khác nhau ví
dụ trong HĐBH nhân thọ thì có bảo hiểm sinh kỳ, tử kỳ,
Không giống nh bảo hiểm tài sản chỉ góp phần khắc phục hậu quả khi đối t-
ợng tham gia bảo hiểm gặp sự cố, bảo hiểm con ngời đáp ứng đợc rất nhiều mục
đích khác nhau của ngời tham gia bảo hiểm nh HĐBH hu trí sẽ đáp ứng yêu cầu
tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng. Bảo Việt - tập đoàn tài chính
bảo hiểm nhân thọ lớn nhất Việt Nam đã ghi nhận mục đích của các sản phẩm bảo
hiểm hu trí là mang đến sức khoẻ và an nhàn cho tuổi già, đảm bảo khoản lơng h-
u ổn định cho tất cả mọi ngời, cả nguời đã có và cha có bảo hiểm xã hội. Thể hiện
11
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
lòng hiếu thảo đối với những ngời thân yêu hoặc quan tâm đến chính bản
thân.[23] Còn bảo hiểm tử kỳ sẽ giúp ngời tham gia bảo hiểm để lại cho gia đình
một số tiền khi họ bị tử vong. HĐBH tai nạn con ngời giúp ngời tham gia khắc
phục khó khăn khi gặp tai nạn. Chính vì đặc điểm này của HĐBH con ngời làm
cho hợp đồng này chiếm khối lợng lớn trên thị trờng bảo hiểm, thu hút nhiều ngời
tham gia.
* Các loại hợp đồng trong bảo hiểm con ngời rất đa dạng, phức tạp
Thứ nhất: Trong HĐBH con ngời có các sản phẩm bảo hiểm khác nhau rồi
mỗi một hợp đồng có sự khác nhau của thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm rồi độ
tuổi của ngời tham gia
Thứ hai: Chủ thể trong HĐBH con ngời có thể có bốn bên tham gia: Ngời
bảo hiểm, ngời tham gia bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm, ngời thụ hởng quyền lợi
bảo hiểm. Đặc điểm này chỉ có duy nhất trong HĐBH con ngời và vì thế làm cho
hợp đồng này phức tạp hơn.
* Hợp đồng bảo hiểm con ngời chịu ảnh hởng của những điều kiện kinh
tế xã hội nhất định
Thật vậy khi điều kiện kinh tế phát triển, áp lực cuộc sống giảm đi, họ
không phải lo cho cuộc sống hàng ngày thì lúc đó họ mới có thể nghĩ đến bảo
hiểm. ở các nớc kinh tế phát triển (bảo hiểm nhân thọ loại hình chủ yếu của bảo
hiểm con ngời đã ra đời và phát triển rất lâu) còn những nớc kém phát triển hoặc
đang phát triển thì hình thức bảo hiểm này hoặc là cha có hoặc là mới bớc đầu
triển khai. Ngoài ra bảo hiểm con ngời còn phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố
khác nh đờng lối chính sách, trình độ học vấn của ngời dân
1.2.3. Phân loại hợp đồng bảo hiểm con ngời
* Theo thời hạn bảo hiểm
HĐBH con ngời đợc chia ra làm hai loại:
+HĐBH con ngời ngắn hạn: Là loại hợp đồng mà trong đó ngời tham gia
bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm trong một thời hạn ngắn thờng là một năm trở
12
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
xuống. Ngời bảo hiểm cam kết thanh toán trợ cấp khi có các rủi ro bảo hiểm xảy
ra đối với ngời đợc bảo hiểm.
+HĐBH con ngời dài hạn: Là loại hợp đồng mà trong đó ngời tham gia bảo
hiểm cam kết trả phí bảo hiểm trong một thời hạn dài thờng là trên một năm cho
đến hết đời.
* Theo hình thức bảo hiểm
HĐBH con ngời cũng đợc chia ra làm hai loại:
+HĐBH con ngời bắt buộc: Là hợp đồng mà theo pháp luật bắt buộc các đối
tợng phải tham gia ví dụ nh bảo hiểm tai nạn hành khách.
+HĐBH con ngời tự nguyện: Là hợp đồng mà theo đó ngời đợc bảo hiểm
hoặc ngời tham gia bảo hiểm có thể đa ra rất nhiều nhu cầu bảo hiểm, còn ngời
bảo hiểm có thể chấp nhận hay không chấp nhận là tuỳ theo sự thoả thuận và cam
kết. Tính tự nguyện khiến ngời bảo hiểm phải phục vụ tốt hơn, cung cấp các dịch
vụ tốt hơn đến khách hàng.
* Theo rủi ro bảo hiểm
HĐBH con ngời có các loại sau:
+HĐBH nhân thọ: Là hợp đồng bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro liên quan
đến tuổi thọ của con ngời và đợc chia ra làm các loại sau:
. HĐBH tử kỳ: Là loại hợp đồng mà theo đó nếu ngời đợc bảo hiểm chết
trong thời hạn thoả thuận thì doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm
cho ngời thụ hởng.
. HĐBH sinh kỳ: Là loại hợp đồng mà theo đó nếu ngời đợc bảo hiểm sống
đến hết thời hạn thoả thuận, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm
cho ngời thụ hởng.
. HĐBH hỗn hợp: Là loại HĐBH kết hợp cả hai loại nghiệp vụ bảo hiểm đó
là: bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ.
+HĐBH phi nhân thọ: Là loại hợp đồng chỉ liên quan đến các rủi ro nh
bệnh tật, tai nạn, mất khả năng lao động và cả tử vong. Đặc điểm này không liên
quan đến tuổi thọ của con ngời.
1.2.4. ý nghĩa của hợp đồng bảo hiểm con ngời
13
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
Để tồn tại và phát triển thì HĐBH con ngời phải đáp ứng đợc các mục đích
của ngời tham gia trong hiện tại cũng nh nhu cầu đảm bảo cho tơng lai sau này.
Thực tế khi ký kết HĐBH con ngời có vai trò không chỉ đối với ngời tham gia bảo
hiểm, DNBH mà còn đối với cả sự phát triển kinh tế của đất nớc.
* Đối với ngời tham gia bảo hiểm
HĐBH con ngời góp phần ổn định đời sống, là chỗ dựa tinh thần cho ngời
tham gia cũng nh ngời đợc hởng bảo hiểm. Nh trên chúng ta đã biết con ngời phải
lao động để duy trì cuộc sống và chính trong quá trình lao động con ngời luôn
phải đối mặt với rủi ro. Nếu không may xảy ra rủi ro thì gia đình không những mất
thu nhập mà còn phải bỏ ra rất nhiều chi phí để trang trải khó khăn. Việc tham gia
HĐBH con ngời sẽ phần nào giải quyết những khó khăn trớc mắt đó.
Trên báo Tiền Phong với nhan đề Bảo hiểm nhân thọ, sự an tâm là vô giá
khách hàng đã cho biết nếu có điều kiện chúng ta nên tham gia bảo hiểm nhân
thọ bởi lẽ nhu cầu bảo vệ tài chính cho gia đình là rất cần thiết. Tất nhiên chẳng ai
mong đợi những điều không may xảy ra, nhng bảo hiểm sẽ mang đến sự an tâm
cho gia đình trớc những bất chắc và giảm gánh lo về tài chính những lúc ngặt
nghèo. Đối với tôi, sự an tâm là vô giá".[15] Sự an tâm giúp con ngời vợt qua khó
khăn, tiếp tục cuộc sống đảm bảo tơng lai sau này.
Tất nhiên trong hiện tại có rất nhiều hình thức khác nhau có thể đảm bảo
cho cuộc sống hiện tại cũng nh tơng lai nhng bảo hiểm con ngời luôn góp phần
không nhỏ vào sự đảm bảo ấy (tham gia bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm chuyển
những rủi ro của mình mình cho DNBH).
* Đối với doanh nghiệp bảo hiểm
Mỗi doanh nghiệp có những ngành nghề kinh doanh nhất định, có những
ngành gây nguy hiểm cao cho cuộc sống con ngời, có những ngành gây nguy hiểm
chỉ ở một chừng mực nào đó. Cho dù ở mức độ nào đi nữa thì rủi ro, tai nạn lao
động luôn luôn là nguy cơ tiềm ẩn và nó ảnh hởng không những đến sản xuất kinh
doanh do thiếu lao động mà quan trọng hơn là ảnh hởng đến khả năng tài chính
của doanh nghiệp. Vì vậy tham gia HĐBH con ngời góp phần ổn định tài chính và
sản xuất cho doanh nghiệp.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét