Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Phép biện chứng duy vật Với Quản lý doanh nghiệp ở Việt NAM

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nằm trong qua trình xuất hiện và tiêu vong không ngừng.Hểaclít cố gắng giải
thích sự chuyển biến của các vật thành mặt đối lập của mình.
Phép biện chứng duy tâm về khái niệm được nghiên cứu trong trường phái
Xổcát và Platôn.Platôn xuất phát từ luạn điểm cho rằng chỉ có thể phát hiện ra
chân lý trong trường hợp lúc đầu thừa nhận một định đề nào đó (cái duy nhất
tồn tại),sau đó thừa nhận và phân tích sự phủ định của nó(cái duy nhất không tồn
tại),làm sang tỏ mối quan hệ của chúng với nhau.
Các luận điểm biện chứng dưới hình thức thần bí đã có mặt trong triết học
của chủ nghĩa Platôn mới,theo đó với tư cách bản chất không nhận thức
được,không giải thích được, đứng bên trên tất cả,Thượng Đế sinh ra mọi cái hiện
tồn từ mình bằng con đường thiên xạ
Ở thời kỳ thống trị của phương pháp siêu hình trong triết học (thế kỷ XV-
XVIII),phép biện chứng không biến mất.Thể hiện trong lý luận của
Đềcáctơ,Lépnít…Quan niệm biện chứnh thế giới đã được khoa học tự nhiên thế
kỷ XVII-XVIII chuẩn bị.Sự phát hiện ra phép tính vi phân và phép tính vi phân
đã cho phép khoa học tự nhiên mô tả các quá trình vận động bằng công thức toán
học, đã đưa đến cái thống nhất của cái vô hạn và cái hữu hạn,cái đứt đoạn và cái
liên tục.Các giả thuyết vũ trụ của Cantơ và của Lấpcơ đã làm lung lay quan niệm
về tự nhiên như là cái chết đứng và có sẵn từ xa xưa;các ông chỉ ra rắng,tự nhiên
cũng có sự sống của mình trong thời gian.
Một giai đoạn mới trong phát triển của phép biện chứng gắn liền với triết
học Đức cuối thế kỷ XVIII-nửa đầu thế kỷ.Trog tác phẩm của các nhà triết học
Đức,phép biện chứng được phát triển trên cơ sở duy tâm và được trở thành
phương pháp nhận thức phổ biến;các nhà kinh điển của triết học cổ Đức đã vạch
rõ cấu trúc biện chứng của tư duy mà họ coi là bản nguyên đầu tiên của tồn
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tại.Phép biện chứng của Hêghen phát triển đầy đủ và sâu sắc hơn cả,tất nhiên là
trên cơ sở duy tâm.Nguyên lý phát triển đã được Hêghen sử dụng làm xuất phát
điểm để giải thích hiện tượng.Theo ông,mọi thứ bao quoanh chúng ta đều có thể
được xem là mâu mực của biện chứng.
Các tư tưởng biện chứng về phát triển xuyên suốt suy luận của các nhà xã
hội chủ nghĩa không tưởng Pháp là Xanh Ximông và Furiê
Như vậy trước Mác đã tồn tại hai hình thức của phép biện chứng:phép biện
chứng ngây thơ,tự phát của triết học cổ điển Đức.Phép biện chứng duy vật do
C.Mác và Ănghen sang lập đã dựa trên cơ sở tiếp thu và chỉnh lý một cách duy
vật đối với phép biện chứng duy tâm của Hêghen.Trong triết học Mác ,phép biện
chứng thực sự trơ thành khoa học nghiên cứu các quy luật của thế giới khách
quan và của hoạt động chủ quan.
II.Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật:
A.Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật:
1.Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
- Vị trí nguyên lý: đây là nguyên lý cơ bản và là nền tảng của phép biện
chứng đồng thời trong lịch sử đó cũng là nguyên lí được xác định lớn nhất.
- K/n mối liên hệ phổ biến:giữa các sự vật hiện tượng của thế giới luôn tồn
tại sự qui định lẫn nhau do đó tất cả đều biến đổi.
- Mối liên hệ hàm nghĩa tính qui định,tính tương tác,tính biến đổi của tất
thảy mọi sự vật-hiện tượng của thế giới trong đó tính quy định là căn cứ,tính
tương tác là nguyên nhân,tính biến đổi la kết quả.
* Các luận điểm của nguyên lý:
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ tất cả các mối liên hệ của các sự vật-hiện tượng của TG đều tồn tại khách
quan bởi vì chỉ có 1 TG duy nhất là TG vật chất .
+ Mỗi một sự vật hay hiện tượng thì đều luôn luôn tác động hay bị tác độnh
bởi sự vật-hiện tượng khác.
+ Mỗi một sự vật-hiện tượng thì đều luôn luôn là 1 hệ thống cấu trúc mở
nghĩa là 1 là:bản thân nó là 1 hệ thống cấu trúc được tạo nên từ những phần tử
nhỏ hơn và do đó là tập hợp mối lien hệ phổ biến bên trong nó.Hai là:tồn tại
trong mối lien hệ phổ biến với sự vật-hiện tượng khác nó tạo nên tập hợp các
mối lien hệ phổ biến ngoài nó.
+ Mỗi một sự biến đổi của TG dù là nhỏ nhất đều thong qua các mối lien hệ
phổ biến với sự vật-hiện tượng lhác,nó tạo nên tập hợp các mối lien hệ phổ biến
ngoài nó.
+ Mỗi một sự biến đổi của thế giới dù là nhỏ nhất đều thong qua các mối
lien hệ phổ biến tác động đến những biến đổi khác.
- Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Đễ nhận thức đúng sự vật-hiện tượng cần phải phân tích nó trong các mối
liên hệ phổ biến mà càng phân tích được nó đầy đủ thì càn hiểu được bấy
nhiêu.Vì vậy có thể nói tổng quát là cần phải nguyên tắc toàn diện trong việc
nhận thức cũng như giải quyết vấn đề thực tiễn, để thực hiện nguyên tắc này
trong Khoa Học thường sử dụng phương pháp liên ngành khoa học và giải quyết
vấn đề thực tiễn.
+ Trong việc nhận thức và giải quyết các vấn đề đặt nó trong điều kiện xác
định tức thực hiện nguyên tắc lịch sử cụ thể trong việc nhận thức và giải quyết
những vấn đề thực tiễn thực hiện nguyên tắc trong ngành Khoa Học người ta
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thường sử dụng phương pháp trìu tượng hoá Khoa Học có nghĩa trong điều kiện
này quan hệ nào trọng tâm thì bắt đầu quan hệ đó.
2.Nguyên lý về sự phát triển:
- Vị trí : Nguyên lý trung tâm trong phép biện chứng duy vật do Mác sang
lập.
- K/n : phát triển chính là quá trình biến đổi của các sự vật hiện tượng với
những đặc trưng chính
+ Không chỉ đơn thuần là sự biến đổi về lượng mà là trên cơ sở sự biến đổi
về lượng thực hiện sự biến đổi về chất ở trình độ cao hơn.
+ Đó là sự biến đổi mà làm thay đổi cấu trúc của sự vật và cơ chế hoat động
của sự vật và làm thay đổi bản chất của sự vật
* Ý nghĩa:
- Để thực hiện các quá trình phát triển cần hướng vào sự biến đổi về chất.
- Muốn thực hiện phát triển thì điều căn bản la hướng vào bản biến đổi của
cấu trúc,làm thay đổi cơ chế hoạt động.
- Trong việc thực hiện các chiến lược phát triển thì cần phải tính toán đầy
đủ các điều kiện tác động đến quá trình thay đổi đó.
- Xây dựng mô hình phát triển phù hợp điều kiện phát triển.
B. Qui luật của sự phát triển
1.Qui luật lượng-chất:
- Khái niệm chất:
Mỗi sự vật-hiện tượng đều có thuộc tính,tính chất khách quan vốn có của
nó.Sự thống nhất các thuộc tính này tạo nên chất của sự vật
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Nội dung quy luật:
+ Sự biến đổi về lượng bao hàm khả năng tất yếu dẫn đến biến đổi về chất.
+ Tích luỹ dần lượng của lao động tạo nên sự ra đời của CN-Tư bản
+ Sự tích luỹ dần về lượng chỉ bao hàm khả năng tất yếu.Khả năng đó chỉ
thành hiện thực với các điều kiện xác dịnh:
- Điều kiện:
+ Những biến đổi về lượng đạt tới giới hạn điểm nút.
+ Cùng với biến đổi về lượng dẫn tới biến đổi về cấu trúc.
Như vậy: như vậy những biến đổi về lượng sẽ tạo ra những biến đổi về chất
mà biến đổi về chất sẽ tạo ra khả năng biến đổi về lượng.
Đó là phương thức,cơ chế,cách thức biến đổi,phát triển phổ biến của sự vật-
hiện tượng.
* Ý nghĩa :
- Muốn thực hiện sự biến đổi phát triển(biến đổi về chất) cần phải trên cơ sở
tích luỹ dần về lượng.
- Khi lượng đã biến đổi tới dạng nút cần thực hiện phương án biến đổi về
chất.
- Khi chưa đạt tới điểm nút mà đã thực hiệnbiến đổi chất dẫn đến tả khuynh
- Nếu chưa đạt tới điểm nút mà thực hiện thay đổi về chất dẫn tới hữu
khuynh.
2,Qui luật mâu thuẫn :
* Khái niệm:
- Dùng để khái quát liên hệ giữa mặt đối lập.Mối liên hệ những gì có xu
hướng trái ngược nhau. Đồng thời nó là điều kiện,tồn tại của nhau
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
* Nội dung qui luật:
- Mâu thuẫn là cái tồn tại khách quan
- Mâu thuẫn là cái tồn tại phổ biến tồn tại trong mọi lĩnh vực,mọi mối liên
hệ đều có khả năng dẫn đến mâu thuẫn
- Mỗi sự vật đều bao hàm nhiều mâu thuẫn tạo nên tính phổ biến của mâu
thuẫn . Thức đẩy quá trình biến đổi sự vật
- Trong đó nguồn gốc động lực trực tiếp chính là sự đấu tranh các mặt đối
lập.
- Đấu tranh giữa các mặp đối lập nhiều hình thức khác nhau
- Mỗi mâu thuẫn đều có 1 quá trình phát sinh,phát triển và chuyển hoá của
các mặt đối lập
- Các mặt đối lập thủ tiêu lẫn nhau trong quá trình chuyển hoá dẫn đến xác
lập tiền đề mới
- Các mặt đối lập thâm nhập nhau,cải tạo nhau
- Với mỗi sự vật có nhiều loại mâu thuẫn,có mâu thuẫn bên trong và bên
ngoài.
+ Mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản
+ Mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu
- Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối còn sự thống nhất là tương
đối,tạm thời
* Ý nghĩa :
- Tôn trọng mâu thuẫn (nghiên cứu mâu thuẫn vốn có)
- Tạo ra nguồn gốc động lực phát triển trên cơ sở phát hiện và giải quyết
đấu tranh các mặt đối lập trong tính thống nhất của nó,trên cơ sở phát hiện và
giải quyết mâu thuẫn vốn có của nền kinh tế do đó tao ra cạnh tranh kinh tế.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Phải có biện pháp hiệu quả.
3.Qui luật phủ định của phủ định:
* Khái niệm:
Là quá trình biến đổi hình thái của các sự vật
- Những quá trình phủ định có thể dẫn đến sự phát triển
- Sự phủ định diễn ra một cách khách quan
- Xuất phát tất yếu của sự phát triển
- Phủ định bao hàm kế thừa về nội dung còn tất yếu là tiền đề về phát triển
* Tính chất chu kỳ:
- Bất cứ quá trình nào chỉ có thể được thực hiện, được trải qua phủ định biện
chứng.
- Diễn ra có tính chu kỳ
- Tồn tại 3 hình thái chính
- Hình thái đầu và cuối chu kỳ có lập lại nhưng ở 1 trình độ cao hơn trên cơ
sở biến đổi về lượng
C.Các cặp phạm trù :
1.Cái chung và cái riêng
2.Tất yếu và ngẫu nhiên
3.Bản chất và hiện tượng
4.Nguyên nhân - kết quả
5.Nội dung-hình thức
6.Khả năng-hiện thực
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


CHƯƠNG II :
THỰC TRẠNG VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
1.Thành công - ưu điểm :
Mỗi doanh nghiệp hoạt động theo dạng nào là dựa vào cơ sở triết lý của
nó.Lẫn lộn những nhận định trong thực tiễn với những lý luận cao siêu có thể
làm cho người ta ngạc nhiên,nhưng triết lý và cách thức tiến hành công việc làm
ăn luôn là những người bạn tốt đối với người quản lý.Những quyết định đưa ra
trong thực tiễn hợp lý về công việc có nhiều cơ hội thành công một cách chắc
chắn hưn nếu biết dựa vào sự tập hợp ý kiến,triết lý nhất quán.Dựa vào triết lý có
thể giúp cho doanh nghiệp bảo vệ thành công tính đặc thù của mình,trình bày
một cách cụ thể và minh bạch những thế mạnh của mình trước đối tác,thấy được
những yếu tố căn bản hay thứ yếu,quan trọng hay không quan trọng đối với hoạt
động của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp phải xác định được:mục tiêu của doanh nghiệp,phương
pháp hành động;những rang buộc do môi trường kinh tế-xã hội đặt ra. Để có
được một triết lý của doanh nghiệp tuỳ thuộc vào một quá trình suy nghĩ lâu
dài,cân nhắc kỹ lưỡng mọi mọi quyết định của mình.Vì quá trình đi đén quyết
định của doanh nghiệp là qúa trình dựa vào sự hợp tác,sự tham gia của nhiều
người,nghĩa là toàn bộ công nhân viên phải nhận thức đầy đủ được mục đích đề
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ra.Trong thực tiễn,mỗi doanh nghiệp đều có triết lý riêng của mình-triết lý đó tự
tạo cho mình một nhân cách trong kinh doanh,chúng tôi gọi là “yếu tố văn hoá
của doanh nghiệp”.Trong một doanh nghiệp,một số người có những nhân cách
hoàn tòan nhất quán;những người khác thì thường xuyên phải giải quyết những
cuộc xung đột nội tâm;một số người tỏ ra là ổn định trong khi những người khác
lại muốn không ngừng tự khám phá ra mình. Đối với các doanh nghiệp lhác nhau
lại có một loạt những dạng văn hoá hoặc nhân cách khác nhau trong kinh doanh.
Những nguyên tắc do triết lý đề xướng rất quan trọng đối với việc xây dựng
doanh nghiệp,nó giúp cho doanh nghiệp tác động vào đời sống hằng ngày có
hiệu quả,giúp cho doanh nghiệp phát triển sơ đồ văn hoá của mình,từ đó có thể
khắc phục đáng kể một phần phương pháp quan liêu,mệnh lệnh thường mắc
phải,kiểm soát chặt chẽ được người lao động Từ đó nó giúp ta đạt tới được hiệu
suất quản lý nhày càng cao và tạo mối quan hệ đoàn kết trong lao động.Do
vậy ,quá trình phát triển triết lý doanh nghiệp nhất quán phải bắt đầu bằng tạo ra
một tổng thể giá trị và niềm tin nhất quán với nhau,nhưng cũng phải phù hợp với
hiện trạng bên ngoài của thị trường và của môi trường xã hội.
Hoạt động của doanh nghiệp chịu đựng vô số sự kiện,tư liệu sống.Trách
nhiệm của người quản lý là phải xử lý,tinh luyện những tư liệu sống bằng cách
đưa ra những văn bản triết lý và phải chỉnh lý thường xuyên những văn bản
nhằm tạo ra một xung lượng xác tiến hoat động kinh doanh đạt hiệu quả,xác định
rõ thái độ đối với những vấn đề hoạt động mới nảy sinh của doanh nghiệp.Mọi
nhân viên trong doanh nghiệp phải nắm chắc,quán triệt văn bản đó,dù cho không
phải tất cả mọi người đều tán thành.
Vấn đề là bằng cách nào và làm thế nào để truyền đạt các quyết định quản
lý đến với nhân viên.Nếu trong doanh nghiệp ít nhân viên,người quản lý đều biết
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tên từng người,thì có thể thong qua chuyện trò với công nhân ở xưởng máy cho
họ những lời khuyên thiết thực về cuộc sống mà chuyển những nội dung quyết
định phù hợp đến họ.Nếu trong doanh nghiệp quá đông nhân viên thì không cho
phép người quản lý truyền đạt những quyết định bằng miệng,hay bằng lời tâm sự
gần gũi nữa,mà phải thông qua phương pháp “Giấy trắng mực đen” để truyền đạt
những quyết định nhằm đem lại sự thành công cho doanh nghiệp.
Như vậy,triết lý của doanh nghiệp không phải được xây dưng từ con số
không,không phải là lời tuyên bố theo từng câu từng chữ,mà là sự mềm hoá linh
hoạt tuỳ thuộc vào những vấn đề mới được đặt ra trong doanh nghiệp,nhằm
chuyển tải những nguyên tắc quản lý doanh nghiệp đến với nhân viên một cách
sinh động và phù hợp với từng đối tượn,từng giai đoạn kinh doanh.Thí dụ,người
quản lý đưa ra ý tưởng:”Tất cả vì chất lượng và tính thẩm mỹ của sản phẩm”,thì
phải truyền đạt cho mọi nhân viên nhất quán triết lý đó để thực thi, đồng thời
hướng nhận thức của khách hang với nhận thức của doanh nghiệp mình.Ngược
lại,không có biện pháp để chuyển tải ý tưởng đó đến với được mọi nhân viên và
đối tác của mình thì quyết định đó không đạt được mục đích,chỉ dừng lại ở ý
tưởng,cho dù quyết định quản lý đó rất đúng đắn.Một quyết định quản lý mới
xuất hiện ,rất có thể nội bộ doanh nghiệp chưa thống nhất ngay,khách hàng cũng
có thể từ chối nếu nhưa nhất quán với triết lý của doanh nghiệp,thậm chí mất
khách hang,nhưng về sau sẽ giữ được uy tín của doanh nghiệp nếu triết lý đó là
đúng đắn,phù hợp.Chắc chắn rằng khi khách hang đến với doanh nghiệp thì đều
là những người đã nhất quán với triết lý của cháng ta,và họ là người hỗ trợ cho
doanh nghiệp phát triển lâu dài.
Tóm lại,triết lý của doanh nghiệp đặt ra những mục đích và phương pháp
hoạt động cho một cộng đồng mà mọi nhân viên cố gắng đạt tới.Sự vật và hiện
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét