Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
lời mở đầu
Trải qua một thời gian dài đổi mới nền kinh tế đất nớc. Nền kinh tế
của nớc ta hôm nay đã có nhiều bớc tiến đáng kể so với thời kỳ trớc khi
còn đặt nền kinh tế theo nối quan liêu bao cấp. Để có đợc sự thành
công nh vậy không phải chỉ do sự thúc đẩy tự động của nền kinh tế đơn
thuần nh: vốn, kĩ thuật, công nghệ,thị trờng, mà trớc hết là sự đổi mới t
duy dám đặt con ngời vào vị trí trung tâm của mọi chủ trơng,chính sách
và khoa học phát triển, khơi dậy và nhân lên các tiềm năng sáng tạo của
mọi tầng lớp nhân dân bắt nguồn từ những giá trị văn hoá nhân loại.
Điều đó có ý rằng chính đạo đức văn hoá chính là một động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế của đất nớc trong quá trình đổi mới.
Vậy đạo đức là gì ? Đạo đức có tầm quan trọng thế nào trong nền
kinh tế, trong kinh doanh cuả nớc ta. có thể nói rằng đạo đức là tổng
hợp những nguyên tắc chuẩn mực của xã hội.Nhờ đó con ngời tự giác
điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc con ngời trong
mối quan hệ giữa con ngời với con ngời, giữa cá nhân tập thể trong toàn
xã hội. Đạo đức là chuẩn mực của mỗi hành vi, đó là thớc đo giá trị của
mỗi con ngời, thật thà nhân hậu, đó là đạo đức .Thế còn đạo đức trong
kinh doanh là sao? Trong bài tiểu luận này em xin đề cập những vấn đề
đó:
1.ý thức đạo đức là gì.
2.Vấn đề đạo đức trong kinh doanh.
3.Tìm hiểu thực trạng về đạo đức kinh doanh của nớc ta hiện nay.
4. Một số tiêu chuẩn trong việc xây dựng đạo đức kinh doanh ở Việt
Nam.
5. Những biện pháp giải quyết.
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nội DUNG
Phần I : Những vấn đề về ý thức đạo đức
1. Thế nào là ý thức đạo đức?
1.1 ý thức đạo đức là gì?
- ý thức đạo đức là trình độ nhận thức của con ngời về những hành
vi ứng sử, về quan hệ ngời với ngời trong xã hội.
- ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện ác, tốt xấu,
lơng thiện trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng và về những ứng xử
giữa những cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội, phản ánh
tồn tại xã hội dới dạng quy tắc điều chỉnh hành vi của con ngời
thông qua d luận xã hội.
- ý thức đạo đức là một cấu trúc phức tạp bao gồm hệ thống tri
thức về giá trị và định hớng giá trị đạo đức, tình cảm và lý tởng đạo
đức. Trong đó tình cảm đạo đức là yếu tố căn bản nhất.
1.2 Đạo đức là gì?
Có thể nói, có nhiều quan điểm về đạo đức, dới đây em xin giới
thiệu một số quan niệm chủ yếu.
a> Thuyết theo số đông ( còn gọi là thuyết vị kỷ đa số )
Thuyết này do Seremy Senthlam và Soth Stuart Mill dựa vào thế
kỉ 21, họ cho rằng tiêu chuẩn đạo đức đợc đa ra và phục vụ cho
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quyền lợi của số (đông_đại )đa số trong xã hội. Do vậy các hành vi,
các quyết định đợc xem là có đạo đức nếu chúng phục tuân theo
chuẩn mực và phục vụ lợi ích của đại đa số trong sản xuất.
b> Tiếp cận theo quan điểm của chủ nghĩa cá nhân.
Những ngời tiếp cận theo quan điểm này cho rằng chỉ có các hành
vi, hoạt động vì lợi ích lâu dài của cá nhân con ngời thì mới là hành
động có đạo đức. Quan điểm này tôn trọng các giá trị đạo đức theo
quan điểm cá nhân vì mọi cá nhân và tất cả mọi ngời cùng hành
động vì mục tiêu và lợi ích lâu dài của mình thì cùng hớng tới đích.
c> Đạo đức tiếp cận trên phơng diện công lý.
Trên phơng diện công lý giá trị đạo đức trong các hành vi các
quyết định đợc thể hiện theo các tiêu chuẩn về sự bình đẳng, công
bằng, công lý. Tuy nhiên trong vấn đề này lại có các đánh giá khác
nhau về giá trị công lý.
- Sự công bằng có phân biệt theo đối tợng, tức là sự đối sử không
phải hoàn toàn dựa trên các tiêu chuẩn luật pháp mà còn có sự xem
xét đến hoàn cảnh cụ thể của từng ngời vì không phải với bất kỳ ngời
nào phán xét theo luật pháp cũng đều công bằng và hợp lý.
- Sự công bằng tuyệt đối, có nghĩa là các luật lệ và quy định đợc
đặt ra một cách rõ ràng và phải đợc áp dụng một cách nh nhau đối
với con ngời. Quan điểm này có phần đối lập với quan điểm trên.
- Sự công bằng theo nghĩa, phải đợc bồi hoàn hợp lý. Chẳng hạn
ngời bị hại phải đợc đền bù một cách xứng đáng, và ngời ta sẽ không
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chịu trách nhiệm về những vấn đề xảy ra ngoài phạm vi quản lí của
họ.
Những quan điểm tiếp cận trên đây, tuỳ theo từng điều kiện cụ
thể mà đợc vận dụng và đa đến phán xét về đạo đức và thể chế trong
đạo đức
2. Vận dụng đạo đức trong kinh doanh
2.1>Tầm quan trọnh của việc vận dung đạo đức trong kinh
doanh
Có thể nói, đạo đức là sản phẩm của một cơ sở kinh tế xã hội nhất
định, là kiến trúc thợng tầng và hình thái ý thức của hình thức xã
hội, là bộ phận cấu thành quan trọng bên trong kết cấu xã hội của
loài ngời gắn bó chặt chẽ với lợi ích của con ngời. Bởi vậy bản chất
của đạo đức và đặc trng của nó là tính công luận xã hội.
Các nhà triết học cổ đại ngày xa coi đạo đức nh là pháp luật, tức là
biểu hiện của cái đúng, cái tốt, cái chuẩn mực để làm nhiệm vụ và
vai trò điều chỉnh hành vi của con ngời, hoạt động xã hội.
Ví dụ nh:Trong xã hội chiếm hữu nô lệ giai cấp t sản muốn thống
trị, muốn nô lệ phục tùng mình chúng không nhng chỉ áp bức bằng
đòn roi mà một phần nào đó chúng cũng thống trị bằng đạo đức.
Marx đã từng nói điều kiện tồn tại của giai cấp thống trị, biểu hiện
trong luật pháp và đạo đức bằng hình thức quan niệm ( ). Các nhà
t tởng của giai cấp thống trị hoặc ít hoặc nhiều, về mặt luân lí đã
biến chúng thành những th tồn tại độc lập nào đó để phản đối cá
nhân của giai cấp bị áp bức, giai cấp thống trị đã để chúng lên thành
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chuẩn mự sống. Một là để làm một thứ trang sức hoặc ý thức cho sự
thống trị của mình. Hai là để làm phơng tiện đạo đức của sự thống trị
này (Marx, Angels .Toàn Tập.T3,Tr 492).
Điều kiện tồn tại của giai ấp thống trị nói ở đây chính là quan hệ
sản xuấtvà quan hệ sở hữu sản xuất của xã hội đơng thời, nhng điều
kiện này biểu hiện thành các quan niệm pháp luật, đạo đức có
nghĩa là, quan niệm đạo đức đợc rút ra từ quan hệ xã hội và chế độ
sở hữu t liệu sản xuất của một xã hội nhất định.
Còn các nhà xã hội học và kinh tế học ngày nay đã tổng thuật đợc
môt số lí thuyết kinh doanh nh: thuyết vị lợi, thuyết cứu cánh, thuyết
về quyền mà con ngời thơng áp dùng để mang lại hiệu quả cho
hoat động kinh doanh cho mình. Do đó các quan niệm về sự công
bằng lơng tâm trở thành những gá trị phổ biến trong hoạt động kinh
doanh của mỗi doanh nghiêp. Chính vì vậy, viêc vận dụng ý thức đạo
đức vào xã hội nói chung và trong kinh doanh nói riêng là rất quan
trọng.
2.2> Thể chế hoá đạo đức trong kinh doanh
Trong thực tế kinh doanh để điều chỉnh các hành vi theo các
chuẩn mực đạo đức thì vấn đề đạo đức cần phải đợc thể chế hoá, qua
đó mà kiểm soát và chi phối đợc các hoạt động kinh doanh.
Nội dung trong việc thể chế hoá này bao gồm:
a)Trong phạm vi xã hội
- Tăng cờng phạm vi kiểm soát của luật pháp
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Xây dựng những quy ớc, quy tắc chung để thể hiện trong các
hoạt động kinh doanh
- Xây dựng hệ thống đánh giá về đạo đức trong phạm vi xã hội
- Xây dựng các nhóm bảo vệ quyền lợi ngời tiêu dùng
b)Trong phạm vi doanh nghiệp.
- Thành lập bộ phận chuyên quản lí về đạo đức. Bộ phận này làm
nhiệm vụ nghiên cứu đề ra các chính sách, quy tắc và thể chế về đạo
đức, áp dụng trong một tổ chức kinh doanh. Ban này cũng có vai trò
nh một ban t vấn cho lãnh đạo doanh nghiệp về phơng diện đạo đức
kinh doanh
- Xây dựng các quy chế về kinh tế đạo đức trong kinh doanh. Đó là
xét xử vi phạm các quy tắc đạo đức trong kinh doanh.
- Giáo dục đạo đức trong kinh doanh đó là thc hiện chơng trình
giáo dục về đạo đức trong doanh nghiệp các hình thức khác nhau
nh : Phổ biến các quy chế và quy tắc đạo đức, mở các lớp bồi dỡng
về nhận thức và quản lí việc thc hiện các quy tắc đạo đức
Phần 2: Các phạm vi chủ yếu của đạo đức
trong kinh doanh
1> Phạm vi xã hội:
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trong phạm vi xã hội, phạm trù đạo đức thơng đề cập đến các
vấn đề nh: Thể chế xã hội, chuẩn mực giá trị của thể chế đó, các
quyền và các nghĩa vụ của con ngời trong hoạt động kinh doanh.
2> Phạm vi nhng ngời có liên quan đến doanh nghiệp:
Trong phạm vi này, các vấn đề đạo đức đợc đa ra và giải quyết
trong mối quan hệ giữa các đối tác, những ngời có liên quan mà lợi
ích của họ gắn liền với kết quả quá trình kinh doanh nh: Các nhà
cung ứng, các khách hàng, ngời bỏ vốn kinh doanh.
3> Phạm vi doanh nghiệp:
Đối với một doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh liên quan đến ngời
lao động là trực tiếp, bao gồm quyền, nghĩa vụ trong lao động, các
quan hệ và lợi ích kinh tế của họ trong làm việc, trong kinh doanh
4> Trong phạm vi cá nhân:
Vấn đề đạo đức ở đây đợc giải quyết trong quan hệ giữa ngời với
ngời trong kinh doanh nh : lòng trung thực, quan hệ chủ thợ, ngời
quản lí và ngời bị quản lí.
5> Những quan điểm đánh giá phán xét đạo đức trong kinh
doanh.
Phán xét một hành vi đạo đức là một vấn đề không đơn giản, vì nó
bị chi phối bởi nhiều yếu tố chủ quan mang tính cá nhân.Trong
nhiều trờng hợp rât khó phán quyết một hành động nào đó là đúng
hay sai, tốt hay xấu về đạo đức tồn tại môt thc tế là không có sự
tuyệt đối trong quan niệm về đạo đức.Về tốt xấu, đúng sai nhiêù khi
câu trả lời mang tính cá nhân của ngời có liên quan trực tiếp đến các
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quyết định về hành động hay hành vi đó. Sự suy diễn logic để phán
xét về đạo đức trong nhiều trơng hợp không có hiệu lực, tính tơng
đối này có thế bị chi phối bởi nhng quan điểm sau đây: 5.1.
Thuyết tơng đối đơn giản.
Thuyết này cho rằng con ngời tự nghĩ ra và đặt ra các tiêu chuẩn
để từ đó phán xét các hành vi của chính mình. Theo thuyết này,
chúng ta ra các quyết định hay lựa chọn các hành vi về đạo đức th-
ờng phức tạp. Rất quan trọng nhng lại hoàn toàn mang tính cá nhân
và chỉ ngời trực tiếp ra các quyết định đó mới biết chắc hay thấy đợc
tính đúng sai của các quyết định đó, khó có thể đợc tranh luận qua
nhiều ngời
Rõ ràng thì theo thuyết này vai trò cá nhân có ý nghĩa rất quan
trọng. Tuy nhiên, vấn đề này còn đợc thảo luận nhiều. Phải thấy rõ
một điều rằng, nếu xem xét vấn đề đạo đức nh trên thì dựa vào cơ sở
nào để đánh giá giá trị đạo đức của các hành vi trên bình diện xã hội.
5.2.Thuyêt tơng đối về văn hoá xã hội.
Lý thuyết tơng đối về văn hoá xã hội cho rằng vấ đề đạo đức
mang tính chất tơng đối, nó phụ thuộc vào điều kiện về văn hoá và
xã hội cụ thể. Hơn thế nữa, thuyết này còn cho rằng không có những
tiêu chuẩn chung nào có thể giúp chúng ta đa ra những phán xét về
đạo đức trong một cộng đồng có những đặc trng văn hoá cụ thể, mà
cách tốt nhất mà ta hy vọng có thể có đợc là hiểu đợc các quy tắc và
phong tục của xã hội cụ thể. Theo thuyết này, chúng ta nên cố gắng
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hiểu đợc các tiêu chuẩn hay tập quán đó thôi chứ làm sao có thể
dùng bên ngoài phán xét đợc.
Thuyết tơng đối về văn hoá có thể áp dụng rộng rãi vì phạm vi
kinh doanh hiện nay của hầu hết các doanh nghiệp là rất rộng trên
phạm vi toàn cầu, lúc họ phải hoạt động kinh doanh trên nhiều quốc
gia, nhiều dân tộc khác nhau. Cái cần thiết đối với họ phải hiểu đợc
và dựa vào các quy tắc cụ thể tại mỗi nơi đó.
Nếu thuyết này là đúng thì trong điều kiện nh vậy, các doanh
nghiệp cũng nh các nhà quản lí chỉ có nghĩa vụ hiểu và tôn trọng,
chấp hành theo luật pháp và tập quán địa phơng đó.
6> Các quan điểm khác.
Một câu hỏi đặt ra là: Theo quan điểm của thuyết tơng đối có
hoàn toàn đúng không? Bởi lẽ, các luật lệ hay tập quán nhiều khi
mang tính chất địa phơng, không phản ánh hết hoặc có thể là mâu
thuẫn đối lập với các giá trị chung với t cách giá trị của loài ngời.
Trong trờng hợp nh vậy, doanh nghiệp phải theo những tiêu chí
nào? Điều này nhiều trờng hợp cũng tồn tại ngay cả trong bản thân
một quốc gia một khu vực.
Một vấn đề nữa cũng phải suy nghĩ lại là:Tại các quốc gia khác
nhau đó, không phải bất kì hệ thống luật pháp nào của chính phủ
cũng hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của các tầng lớp, dân c
trong xã hội. Trong tình huống nh vậy, doanh nghiệp sẽ gặp phải
những khó khăn trong việc lựa chọn những chuẩn mực để hành
động.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trong kinh doanh quốc tế, một trờng hợp phức tạp khác đặt ra
cho các doanh nghiệp. Đó là khi có các bất đồng giữa các quốc gia
khác nhau về lập trờng quan điểm. Doanh nghiệp đi theo phải này đ-
ơng nhiên sẽ chống lại phái khác.
Hành động nh vậy rất bất lợi trong kinh doanh, vậy doanh nghiệp
phải làm thế nào?
Nh vậy đạo đức trong kinh doanh là vấn đề không đơn giản, nh-
ng lại không thể xem nhẹ khi thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà kinh doanh
là cần phải có nhận thức và hiểu biiết rộng rãi về các góc độ khác
nhau của vấn đề này. Nhà doanh nghiêp không thể lảng tránh hay bỏ
qua các vấn đề đạo đức nhng chỉ khi có hiểu biết và nhận thức rộng
rãi thì mới có thể nâng cao đợc khẳ năng trong ứng xử hành vi một
cách có đạo đức.
Phần 3 : Thực trạng đạo đức
kinh doanh ở nớc ta
1> Tình hình chung
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thực tiễn sau đổi mới kinh tế 10 năm ở nớc Việt Nam đã xác
nhận rằng, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã giành đợc về
kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng có sự quản lí của nhà nớc theo
hớng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đang gặp phải một số những khó
khăn tồn tại do những thất bại vốn có của nền kinh tế thị trờng sơ
khai gây ra và do những yếu kém của chúng ta trong quá trình thực
hiện.Trong những khó khăn tồn tại đó, chúng ta muốn nhấn mạnh
thêm những sai lệch trong đạo đức kinh doanh của một số doanh
nghiệp, một số nhà kinh doanh, một số cơ quan quản lí và ngời lao
động.
Do vẫn đang phải cố gắng loay hoay trên đờng cạnh tranh trong
nền kinh tế thị trờng có thể nói trừ các liên doanh với nớc ngoài,
nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn cha tạo dng cho
mình một triết lí kinh doanh chung. Cách kinh doanh phản văn hoá
nh là: làm hàng giả, hàng nhái, buôn lậu, lừa lọc trong kinh doanh
còn là phổ biến của nhiều doanh nghiệp mà các thông tin đại chúng,
cũng nh trong các cuộc thảo luận của tổ chức nhà nớc và phi chính
phủ, đã nêu nh là các tệ nạn xã hội nổi cộm nhất.
Nhiều nhà kinh doanh nớc ta vì muốn chạy theo lợi nhuận mà
không chú ý tới đạo đức, văn hoá trong kinh doanh nên dẫn đến thói
kinh doanh giả dối, sản xuât hàng hoá kém chât lợng, tăng giá một
cách tuỳ tiện vì lợi ích riêng t, nhập lậu, trốn thuế điều này dã làm
tổn thất ngân quỹ nhà nơc một cách nghiêm trọng, ảnh hởng rất lớn
đến nền kinh tế đât nớc.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Kinh doanh có văn hoá và đạo đức nhằm mục đích đa lợi ích
thực tế cho cả hai bên. Mua và bán trên tinh thần thoả thuận, dựa
trên đạo đức (lơng thiện, thật thà luôn giữ đợc chữ tín), trên sự lịch
thiệp sự hấp dẫn nhau, trên tinh thần tôn trọng chất lợng và định l-
ợng của hàng hoá chứ không phải vì lợi ích riêng hay chạy theo lợi
nhuận mà phản lại đạo đức kinh doanh. Trên thực tế các nhà kinh
doanh nớc ta vẫn cha chú ý tới sự cần thiết và tất yếu của đạo đức
kinh doanh. Trong hoạt động kinh doanh của mình, những áp lực
kinh tế, nhất là áp lực chạy theo lợi nhuận hiện không làm cho các
doanh nghiệp chú ý tới vấn đề đạo đức hoặc coi đó là yếu tố phụ.
Thực tiễn sự thành công của các nhà kinh doanh thế giới, và ở
Việt Nam đã cho phép chúng ta có thể khẳng định rằng kinh doanh
theo đúng chuẩn mực của đạo đức kinh doanh là yếu tố quyết định
sự thành công bền vững trong kinh doanh. Chính vì vậy chúng ta cho
rằng ở Việt Nam muốn kinh doanh thành công kìm chế những tốn
thất, thiệt hại cho cả nhà kinh doanh cả ngời tiêu dùng và cả xã hội
thì cần thiết phải xây dựng đúng các chuẩn mực đúng về đạo đức
kinh doanh. phải tạo cho mình một phong cách kinh doanh riêng, có
đạo đức và đậm đà bản sắc dân tộc, để đợc dần dần từng bớc hội
nhập nền kinh tế thế giới.
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, đạo đức trong kinh doanh
ngày càng trở thành mối quan tâm chú ý đặc biệt của các nhà doanh
nghiệp.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trong cuốn sách dự báo thế kỉ 21 dày hơn 1000 trang của các nhà
khoa học Trung Quốc khi đề cập đến diện mạo của doanh nghiệp
trong thế kỉ 21 đã đa ra lời cảnh báo rằng. Nếu xí nghiệp cứ kiên trì
bằng mọi cách mà không chú ý tới yếu tố văn hoá đạo đức thì
không thể tiếp tục phát triển đợc. Các nhà khoa học đã kết luận rằng
trong xã hội thông tin việc xây dựng văn hoá trong kinh doanh đạo
đức còn quan trọng hơn sự phát triển kinh tế mũi nhọn và cải thiện
thể chế của xí nghiệp ( xem sách đã dẫn, Tr443). Kinh tế và kinh
doanh ở Việt nam tuy còn cha phát triển mạnh nhng điều đó không
có nghĩa không cần thiết quan tâm tới đạo đức trong phát triển trong
kinh doanh. Trái lại các doanh nghiệp cần thiết và có thể sớm tạo
dựng sắc thái đạo đức trong hoạt động kinh doanh của mình. Nếu có
định hớng và thực hiện tốt hơn đây sẽ là lợi thế của nớc đi sau để
sớm bắt kịp cũng nh hội nhập nền kinh tế thế giới.
2> Một số tiêu chuẩn trong việc xây dựng đạo đức kinh doanh ở
Việt Nam hiện nay.
-Thực hiện đầy đủ quyền của mình trong toàn bộ quá trình kinh
doanh và các văn bản dới luật nh: pháp lệnh, nghị định và các chính
sách chế độ nhà nớc và phải chủ động phát hiện. Đề xuất với nhà n-
ớc bổ sung, sửa đổi các văn bản pháp lí để tiến tới kinh doanh đúng
pháp luật.
- Trong kinh doanh, doanh nghiệp phải đa ra 3 vấn đề: sản xuất
cái gì? sản xuất cho ai? phải xác định mục tiêu, đề ra những phơng
hớng cụ thể.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Phải sử dụng nguồn lực một cách đầy đủ và hợp lí để mang lại
lợi ích tối đa cho doanh nghiệp của mình, cho ngời lao động và cho
xã hội.
- Xây dựng các mối quan hệ hợp tác bình đẳng trong kinh doanh,
phát triển cạnh tranh lành mạnh trong cộng đồng kinh doanh, giữa
các thành phần kinh tế với nhau, cạnh tranh để thúc đẩy nhau phát
triển, không có cạnh tranh không có phát triển, nhng phải cạnh tranh
bình đẳng theo pháp luật. Nhà nớc phải có biện pháp hữu hiệu để
chống buôn lậu, làm hàng giả, hối lộ, trốn lậu thuế, tham nhũng, cửa
quyền, độc quyền, cạnh tranh phải bằng sức mạnh của hàng hoá
trên thị trờng chứ không phải cạnh tranh bằng quyền lực, bằng sự áp
đặt, bằng sự u đãi, chèn ép.
- Trong kinh doanh trớc hết các chủ kinh doanh phải chữ tín cho
khách hàng của mình, đối với ngời lao động làm việc cho mình, tin
tởng ở họ khuyến khích tính sáng tạo và tài năng của mọi ngời trong
những công việc cụ thể đợc giao, có chính sách và biện pháp khuyến
khích bằng vật chất và tinh thần đúng mức đối với thành quả lao
động mà họ đem lại cho doanh nghiệp. Kính trọng và đối xử công
bằng đối với ngời lao động.
- Các nhà kinh doanh phải biết lấy tiêu chuẩn năng suất chất l-
ợng, giá thành, lợi nhuận, hiệu quả để đánh giá những thành công,
thất bại của mình và trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của lao động theo
kết quả của họ. Trung thành và nhất quán trong công việc và giữ mối
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét