Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Tiềm năng phát triển du lịch huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương

Khoá luận tốt nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 5
Du lịch quốc tế (International Tourism) gồm:
+du lịch vào trong nước (Inbound Tourism)
+du lịch ra ngoài nước (Outbound Tourism)
Du lịch của trong nước (Internal Tourism) gồm:
+du lịch nội địa (Domestic Tourism)
+du lịch quốc gia (National Tourism)
Định nghĩa theo quan niệm của W.McIntosh(Mỹ) du lịch gồm 4 thành
phần
+du khách
+các doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ cho khách
+chính quyền tại địa điểm du lịch
+dân cư địa phương
Từ các thành phần trên du lịch được hiểu là tổng số các hiện tượng và
mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa du khách, các nhà cung ứng và
cộng đồng địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón du khách.
Theo luật du lịch Việt Nam
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm
hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. (Điều 4)
1.1.2. Khái niệm về tài nguyên du lịch
Là một trong những yếu tố quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và đời
sống con ngươì, hiểu theo nghĩa rộng thì tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn
lực, năng lượng và thông tin có trên trái đất đồng thời trong không gian vũ trụ
liên quan mà con người có thể sử dụng phục vụ đời sống,cho sự phát triển của
mình. Các yếu tố của tài nguyên liên quan đến điều kiện tự nhiên, điều kiện
lịch sử văn hoá kinh tế xã hội vốn có trong tự nhiên hoặc do con người tạo
dựng lên, các yếu tố này luôn tồn tại và gắn liền với môi trường tự nhiên, môi
trường xã hội đặc thù của mỗi vùng miền, mỗi địa phương. Nhưng các yếu tố
Khoá luận tốt nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 6
này chỉ trở thành tài nguyên du lịch khi được đầu tư qui hoạch và phát triển,
được khai thác và sử dụng cho đúng mục đích phát triển du lịch.
Theo luật du lịch Việt Nam tài nguyên du lịch được định nghiã: “Tài
nguyên du lich là cảnh quan tự nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hoá,
công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể
được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành
các khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch”
Tài nguyên du lịch có thể được hiểu là tài nguyên du lịch đang khai thác và
chưa được khai thác, mức độ khai thác các tiềm năng này liên quan đến tài
nguyên du lịch, phụ thuộc vào khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá các
tiềm năng.Tài nguyên vốn có còn tiềm ẩn, trình độ phát triển khoa học công
nghệ đã tạo ra các phương tiện để khai thác các tiềm năng, tài nguyên đó.
1.2. Đặc điểm và vai trò của tài nguyên du lịch
1.2.1. Đặc điểm của tài nguyên du lịch
Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bố các nguồn tài
nguyên là cơ sở cần thiết để xây dựng khả năng khai thác và tiềm năng của hệ
thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch.
Thời gian có thể khai thác (như thời kỳ khí hậu thích hợp, mùa tắm, thế
nằm của lớp tuyết phủ ổn định) xác định tính mùa vụ của du lịch, nhịp điệu
dòng du lịch.
Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các tài nguyên tạo lên lực hút cơ
sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập chung các loại tài nguyên đó .
Vốn đầu tư tương đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao, cho
phép xây dựng tương đối nhanh chóng cơ sở hạ tầng và mang lại hiệu quả
kinh tế -xã hội, cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên.
Khả năng sử dụng nhiều lần tài nguyên du lịch nếu tuân theo các qui định
về sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp bảo vệ chung.
Khoá luận tốt nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 7
1.2.2. Vai trò của tài nguyên du lịch đối với phát triển du lịch
Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch được tạo lên từ nhiều yếu tố, nhưng tài nguyên du lịch
là yếu tố cơ bản nhất. Các sản phẩm du lịch không thể đơn điệu, nghèo nàn,
kém hấp dẫn mà cần phải phong phú, độc đáo, đặc sắc, mới mẻ nhằm đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của du khách.
Chính sự phong phú và đa dạng của tài nguyên du lịch đã tạo lên sự phong
phú, đa dạng của sản phẩm du lịch. Chất lượng của tài nguyên du lịch sẽ là
yếu tố cơ bản tạo lên chất lượng của sản phẩm du lịch và hiệu quả của hoạt
động du lịch .
Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch
Để không ngừng đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của du khách, thì
các loại hình du lịch mới không ngừng ra đời và phát triển. Các loại hình du
lịch mới ra đời đều phải dựa trên cơ sở của tài nguyên du lịch .
Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh
thổ du lịch trong phạm vi lãnh thổ cụ thể, mọi hoạt động du lịch đều phản ánh
của một tổ chức không gian du lịch nhất định.
Hệ thống lãnh thổ du lịch thể hiện mối quan hệ về mặt không gian của
các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau cấu tạo nên nó, cá yếu tố đó là khách
du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật, đội ngũ cán
bộ công nhân viên chức và tổ chức điều hành quản lý du lịch.
Hệ thống lãnh thổ du lịch có nhiều cấp phân vị khác nhau, từ điểm du
lịch tới trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng và vùng du lịch. Dù ở
phân vị nào thì tài nguyên du lịch cũng đều đóng vai trò quan trọng trong việc
tổ chức lãnh thổ du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu
du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch, tạo điều kiện để có thể khai thác tốt
nhất các tiềm năng.
Khoá luận tốt nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 8
1.3. Tài nguyên du lịch tự nhiên
1.3.1. Khái niệm tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi
trường tự nhiên bao quanh chúng ta, thiên nhiên là môi trường sống của con
người và mọi sinh vật trên trái đất, nhưng chỉ có các thành phần và các cá thể
tổng hợp tự nhiên trực tiếp hay gián tiếp được khai thác sử dụng tạo ra các sản
phẩm du lịch mới được xem là tài nguyên du lịch tự nhiên.
1.3.2. Đặc điểm tài nguyên du lịch tự nhiên
Nếu được quy hoạch, bảo vệ, khai thác theo hướng bền vững thì phần lớn
tài nguyên du lịch tự nhiên được xếp vào loại tài nguyên vô tận, có khả năng
tái tạo .
Có tác dụng tham quan giải trí, tác dụng nhậm thức có ý nghĩa thứ yếu,
không điển hình.
Thời gian tham quan thường diễn ra trong thời gian dài, thời gian tham
quan có thể diễn ra trong vài giờ, cả ngày hoặc lâu hơn.
Bị ảnh hưởng lớn bởi tính mùa vụ,du lịch phụ thuộc vào các điều kiện khí
tượng, các điều kiện tự nhiên khác. Trong hoạt động du lịch tự nhiên cũng có
những thời kỳ, có những ngày không thích hợp cho giải trí ngoài trời như mùa
bão không thể phát triển du lịch biển, mùa mưa không thích hợp cho du lịch
ngoài trời như dã ngoại, cắm trại…
Thường nằm xa khu dân cư, đặc điểm này gây tốn kém, khó khăn cho
việc tổ chức hoạt động du lịch, phần khác góp phần làm cho tài nguyên du
lịch tự nhiên hấp dẫn du khách, bảo tồn tốt hơn các tài nguyên này do ít chịu
ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế xã hội.
1.3.3. Các dạng tài nguyên du lịch tự nhiên
1.3.3.1. Địa hình
Địa hình hiện tại của bề mặt trái đất là sản phẩm của các quá trính địa
chất lâu dài. Trong chừng mực nhất định mọi hoạt động sống của con người
trên một lãnh thổ đều phụ thuộc vào địa hình. Đối với hoạt động du lịch quan
Khoá luận tốt nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 9
trọng hơn cả là dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng địa hình đặc biệt
có sức hấp dẫn khai thác cho du lịch Các đơn vị hành chính của địa hình là
núi đồi và đồng bằng,chúng được phân biệt bởi độ cao của địa hình, mỗi loại
địa hình lại có sức thu hút khách du lịch khác nhau
+địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về ngoại hình, ít gây được cảm
hứng cho du khách, song đồng bằng lại là nơi thuận lợi cho phát triển kinh tế,
canh tác nông nghiệp, văn hoá của con người, vì vậy nó ảnh hưởng gián tiếp
đến du lịch.
+địa hình vùng đồi tạo ra một không gian thoáng đãng, bao la. Dạng địa
hình này có tác động mạnh tới tâm lý du khách ưa thích dã ngoại, rất thích
hợp với loại hình du lịch cắm trại tham quan, là nơi tập chung dân cư tương
đối đông đúc, có nhiều di tích khảo cổ và tài nguyên văn hoá lịch sử độc đáo,
tạo khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch tham quan, du lịch
theo chuyên đề…
+địa hình vùng núi có ý nghĩa lớn với đối với phát triển du lịch, đây là
khu vực thuận lợi cho việc tổ chức thể thao mùa đông, an dưỡng, trạm
nghỉ,các cơ sở du lịch, khu vực có khả năng chuyển tiếp lộ trình, đỉnh núi có
khả năng nhìn thấy toàn cảnh, là nơi thích hợp với môn thể thao leo núi.
Trong miền núi cùng với địa hình, khí hậu, động thực vật tạo lên tài nguyên
du lịch tổng hợp có khả năng tổ chức các loại hình du lịch ngắn ngày cũng
như dài ngày .
+địa hình karstơ là địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong
các đá dễ hoà tan (đá vôi, đa phấn, thạch cao, muối mỏ…) ở Việt Nam chủ yếu
là đá vôi, một trong những kiểu karstơ được quan tâm nhiều nhất đó là hang
động karstơ, đây chính là nguồn tài nguyền tài nguyên du lịch rất phát triển.
Các kiểu karstơ có thể được tạo thành từ sự hoà tan của nước trên mặt
cũng như của nước ngầm. Một trong các kiểu karstơ được quan tâm nhiều
nhất đối với du lịch là hang động karstơ. Những cảnh quan thiên nhiên và văn
Khoá luận tốt nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 10
hoá của hang động karstơ rất hấp dẫn du khách. Đây chính là một nguồn tài
nguyên, một loại hàng hoá đặc biệt có thể sinh lợi dễ dàng.
Ngoài hang động karstơ, các kiểu địa hình karstơ khác cũng có giá trị lớn
đối với du lịch như kiểu karstơ ngập nước, kiểu karstơ đồng bằng cũng thu
hút sự chú ý của khách du lịch.
+kiểu địa hình ven bờ, các kho chứa nước (đại dương, biển, sông, hồ…)
có thể khai thác phục vụ du lịch với các mục đích khác nhau từ tham quan
theo chuyên đề đến nghỉ dưỡng, tắm biển, thể thao nước…
Trên phạm vi thế giới, số khách du lịch lớn nhất là khách đi nghỉ ở bờ
biển. Một bãi biển thích hợp cho du lịch tắm biển là một bãi biển rộng, bằng
phẳng, kết hợp với phong cảnh đẹp, hấp dẫn. Bãi biển càng gần thành phố
trung tâm du lịch thì càng thu hút khách vì tiện lợi cho việc đi lại, tham quan.
1.3.3.2. khí hậu
Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên, vì vậy nó
cũng được coi là một tài nguyên du lịch. Trong các chỉ tiêu khí hậu đáng lưu ý
là hai chỉ tiêu: nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí. Ngoài ra còn còn có
một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lý hoá của không khí, áp
suất của khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng khí hậu đặc biệt .
Để đánh giá cụ thể các điều kiện khí hậu đối với hoạt động du lịch, ngoài
các đặc điểm chung của từng khu vực, cần thiết phải đánh giá ảnh hưởng của
các điều kiện đó tới sức khoẻ con người con người và các loại hình du lịch.
Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch
hoặc hoạt động dịch vụ về du lịch. Ở mức độ nhất định cần phải lưu ý tới
những hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở tới kế hoạch du lịch .
Tính mùa vụ của du lịch chịu tác động chủ yếu của nhân tố khí hậu. Các
vùng khác nhau có tính mùa vụ du lịch không như nhau do ảnh hưởng của các
thành phần khí hậu .
+Mùa du lịch cả năm (liên tục) thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh
suối khoáng, du lịch trên núi cả mùa đông và mùa hè. Tất nhiên trên thực tế rất
Khoá luận tốt nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 11
hiếm khi có sự phân phối đồng đều các dòng du lịch theo mùa vì chịu ảnh hưởng
của các nguyên nhân khí hậu, tự nhiên, xã hội, kinh tế - kỹ thuật.
+Mùa đông –là mùa du lịch trên núi.Sự kéo dài của mùa đông có ảnh
hưởng tới khả năng phát triển du lịch thể thao mùa đông và các loại hình du
lịch mùa đông khác .
+Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì có thể phát triển nhiều loại
hình du lịch như du lịch biển, núi, khu vực đồng bằng-đồi. Khả năng du lịch
mùa hè rất phong phú và đa dạng.
1.3.3.3. Tài nguyên nước
Tài nguyên nước phục vụ du lịch bao gồm nước trên mặt và nước dưới
đất. Đối với du lịch, tài nguyên nước trên mặt có ý nghĩa to lớn, nó bao gồm
mạng lưới sông ngòi, ao, hồ, đại dương…Nguồn nước trên mặt không chỉ
cung cấp cho nhu cầu của khu du lịch mà còn tạo các loại hình du lịch đa
dạng như hồ, sông nước.
Nhằm mục đích du lịch, nước được sử dụng tuỳ theo nhu cầu cá nhân,
theo độ tuổi và nhu cầu quốc gia. Nói chung giới hạn nhiệt độ lớp nước trên
mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là 18oC, đối với trẻ em là trên 20oC.
Cùng với các chỉ tiêu cơ bản trên cần chú ý đến những tần số và tính chất
sóng của dòng chảy, độ sạch của nước…
Đối với du lịch thể thao nên đánh giá tài nguyên cá, khả năng bắt cá, bảo
vệ nguyền cá và định ra quy chế đánh cá.
Tài nguyên nước không chỉ có tác dụng phục hồi trực tiếp mà còn ảnh
hưởng nhiều đến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt là làm
dịu khí hậu ven bờ
Ngoài ra, nước còn cần thiết cho đời sống của con người, đáp ứng những
nhu cầu trong sinh hoạt hàng ngày của người.
Trong tài nguyên nước, cần phải nói đến tài nguyên nước khoáng. Đây là
nguồn tài nguyên có giá trị an dưỡng và chữa bệnh.
Khoá luận tốt nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 12
Nước khoáng là nước thiên nhiên, chứa một số thành phần vật chất đặc biệt
(các nguyên tố hoá học, các khí, các nguyên tố phóng xạ…) hoặc có một số tính
chất vật lý (nhiệt độ cao, độ PH…)có tác dụng sinh lý đối với con người.
Để thuận lợi cho việc chữa bệnh,người ta đã tiến hành phân loại nước
khoáng vào mục đích chữa bệnh khác nhau.
+Nhóm nước khoáng cacbônic là nhóm nước khoáng quý có công dụng
giải khát rất tốt và chữa một số bệnh như: cao huyết áp, sơ vữa động mạnh
nhẹ, các bệnh về hệ thần kinh ngoại biên. ví dụ như: Vicky(Pháp),
Boczomi(Grudia), ở Việt Nam có nước suối Vĩnh Hảo.
+Nhóm nước khoáng silic có công hiệu đối với các bệnh đường tiêu hoá,
thần kinh, thấp khớp, phụ khoa…ví dụ như: nguồn nước khoáng Kuldur(Liên
xô cũ), ở Việt nam có nước khoáng Kim Bôi(Hoà Bình), Hội Vân(Phù Cát –
Bình Định)
+Nhóm nước khoáng Brôm-Iôt-Bo có tác dụng chữa các bệnh ngoài da,
thần kinh, phụ khoa… ví dụ như: nước khoáng Margeutheia và
Fricarichshal(CHLB Đức), ở Việt Nam là Quang Hanh (Quảng Ninh), Tiên
Lãng (Hải phòng).
Ngoài ra còn nhiều nhóm nước khoáng khác như: sunfuahyđrô, asen-fluo,
liti, nhóm phóng xạ…có ý nghĩa du lịch chữa bệnh khác nhau.
1.3.3.4. Tài nguyên sinh vật
Ngoài một số hình thức du lịch truyền thống như tham quan phong cảnh,
các di tích lịch sử văn hoá, thì đã xuất hiện một hình thức mới, với sức hấp
dẫn rất lớn đối với khách du lịch. Đó là du lịch các khu bảo tồn thiên nhiên
với đối tượng là các loại động thực vật .
Không phải mọi tài nguyên thực động vật đều là đối tượng của du lịch.
Để phục vụ cho các mục đích du lịch khác nhau, người ta đã chia ra các chỉ
tiêu sau:
– Chỉ tiêu phục vụ mục đích tham quan du lịch
+ Thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình .
Khoá luận tốt nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 13
+Có loài đặc trưng cho khu vực, loài đặc hữu, loài quý hiếm đối với thế
giới và trong nước .
+Có một số động vật (thú, chim, bò sát, côn trùng, cá…) phong phú điển
hình cho vùng.
+Có các loại khai thác đặc sản phục vụ khách du lịch .
+Thực động vật có màu sắc hấp dẫn, vui mắt, một số loài phổ biến dễ
quan sát bằng mắt thường,ống nhòm hoặc nghe tiếng chim hót, tiếng kêu và
có thể chụp ảnh được.
+Đường xá thuận tiện cho việc đi lại quan sát, vui chơi của khách.
– Chỉ tiêu đối với du lịch săn bắn thể thao
Qui định loài được săn là loài phổ biến, không ảnh hưởng tới số lượng,
quĩ gen, loài động vật hoạt động (ở dưới nước, mặt đất, trên cây) nhanh nhẹn
có địa hình tương đối dễ vận động, xa khu dân cư, quân đội và cơ quan. Khu
vực dành cho săn bắn phải tương đối rộng, bảo đảm tầm bay của đạn và bảo
đảm an toàn tuyệt đối cho khách du lịch. Phải cấm dùng súng quân sự, mìn và
chất nổ nguy hiểm.
– với mục đích nghiên cứu khoa học
+Nơi có hệ thực động vật phong phú và đa dạng
+Nơi còn tồn tại loài quý hiếm
+Nơi có thể quan sát đi lại chụp ảnh
+Có quy định thu mẫu của cơ quan quản lý …
Như vậy tài ngnuyên thưc động vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát
triển của ngành du lịch.
1.4. Tài nguyên du lịch nhân văn
1.4.1. Khái niệm tài nguyên du lịch nhân văn
Là loại tài nguyên do con người sáng tạo ra hay nói cách khác nó là đối
tượng là hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo bao gồm: di tích lịch sử
văn hoá, di chỉ khảo cổ, lễ hội, nghề thủ công truyền thống, phong tục tập
quán, nét văn hoá đương đại, các công trình kiến trúc nghệ thuật …
Khoá luận tốt nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 14
1.4.2. Đặc điểm tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn. Tác dụng
giải trí không điển hình hoặc có ý nghĩa thứ yếu.
Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo diễn ra trong thời gian ngắn. Nó
thường kéo dài một vài giờ, cũng có thể một vài phút. Do vậy trong khuôn khổ
chuyến du lịch người ta có thể hiểu rõ nhiều đối tượng nhân tạo. Tài nguyên du
lịch nhân văn thích hợp nhất với loại hình du lịch nhận thức theo lộ trình
Số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hoá cao
hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn.
Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và các
thành phố lớn. Các thành phố lớn lại là đầu mối giao thông nên rõ ràng việc
tiếp cận với nguồn tài nguyên này dễ dàng. Khi đến thăm nguyền tài nguyên
nhân toạ có thể sử dụng cơ sở vật chất của du lịch đã được xây dựng trong các
điểm quần cư mà không cần xây thêm cơ sở riêng.
Ưu thế lớn là đại bộ phận không mang tính mùa, không bị phụ thuộc vào
các điều kiện khí tượng và các điều kiện tự nhiên khác. Vì thế tạo nên khả
năng sử dụng tài nguyên du lịch nhân tạo ngoài giới hạn các mùa chính do các
tài nguyên tự nhiên gây ra và giảm nhẹ tính mùa nói chung của các dòng du
lịch. Trong mùa hoạt động du lịch tự nhiên cũng có những thời kỳ, có những
ngày không thích hợp cho giải trí ngoài trời. Ở những trường hợp như thế,
việc đi thăm tài nguyên du lịch nhân tạo là một giải pháp lý tưởng.
Việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn thường dựa vào cơ sở định
tính xúc cảm và trực cảm. Sở thích của những người tìm đến tài nguyên du
lịch nhân tạo rất phức tạp và rất khác nhau. Nó gây ra nhiều khó khăn trong
việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân tạo. Khác với tài nguyên du lịch tự
nhiên có một số phương pháp đánh giá định lượng tài nguyên, tiêu chuẩn
đánh giá tài nguyên du lịch nhân tạo chủ yếu dựa vào cơ sở định tính xúc cảm
và trực cảm. Việc tìm tòi tài nguyên du lịch nhân tạo chịu ảnh hưởng của các
nhân tố như: độ tuổi, trình độ văn hóa, hứng thú, nghề nghiệp…

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét